Hôm nay,  

Kim môn Kiều

29/05/201200:00:00(Xem: 11899)
Tưởng không bao giờ trở lại.

Năm 1962, có anh sĩ quan trẻ đi du học một mình. Học về môn chiến tranh sinh hóa tại Fort Mc.Clellan, tiểu bang Alabama. Từ Việt Nam phi cơ cánh quạt vượt Thái bình Dương phải ghé đảo Guam, đảo Wake rồi Hawaii. Trạm dừng chân đầu tiên là San Francisco. Tuy đi một mình với khóa học 3 tháng cô đơn nhưng trên đường bay vào Mỹ có các bạn học lớp đại đội trưởng ở Fort Benning. Chúng tôi cùng cư ngụ tại hotel nằm ngay cửa ngõ lối vào phố Tàu. Thời gian tạm trú chờ di chuyển anh em ta chuyên trị lội bộ. San Francisco ngày đó mở ra một thế giới xa lạ và huyền diệu trong giấc mơ Mỹ quốc. Đọc sử thế giới đã từng nghe nói đến các hội nghị quốc tế tại Cựu Kim Sơn. Vì vậy chương trình thăm viếng đầu tiên là phải đến Kim môn Kiều, Golden Gate Bridge.

Vào đầu thập niên 60, cây cầu vàng khánh thành năm 1937 vừa được 25 cái xuân xanh. Như vậy là mình còn hơn cô nàng mấy tuổi. Bốn anh em đi bộ đến bến xe điện du ngoạn cho hết con đường rồi lấy taxi thăm Kim Môn Kiều. Dưới ánh nắng chiều Golden Gate hiện ra rực rỡ. Từ phía thành phố ngó qua, hai ngọn tháp dường như chuyển động giữa trời xanh mây trắng. Nhìn từ phía dưới, ngọn tháp phía bắc còn cao hơn cả dẫy núi bên kia quận Marin. Kim Môn Kiều nằm dài như hình ảnh của người đẹp đợi chờ ta cả ngàn năm. Anh em hăng hái đi bộ suốt lộ trình qua bờ Bắc rồi quay trở lại. Niềm say mê cảnh đẹp giữa xứ lạ quê người làm ai nấy như đi trong mộng.

Cảnh thanh bình của nước văn minh làm động lòng các sỹ quan từ xứ chiến tranh đến Mỹ du học.

Sau khi đi học ở Albama trở về, tôi lại có dịp ghé lại Kim Môn Kiều chụp hình kỷ niệm.

Rồi chúng tôi chia tay, tưởng chừng đôi ngả cách biệt sẽ không bao giờ trở lại.

Nhưng thật không ngờ, suốt thời gian 21 năm quân vụ, tôi còn may mắn trở lại công tác tại Mỹ. Lúc thì du hành quan sát, lúc thì đi học về quản trị, mỗi lần ghé San Francsico là một lần thăm Golden Gate.

Cô nàng trải qua bao năm tháng vẫn giữ mãi vẻ đẹp huyền ảo. Hai cột trụ vươn cao như 2 cánh buồm có lúc chìm trong màn sương của vịnh Cựu Kim Sơn u tịch.

Dù gặp đi gặp lại đôi lần, nhưng cũng không bao giờ lại nghĩ rằng có dịp chúng tôi sẽ định cư ngay tại Bay Area như ngày nay.

Cho đến bây giờ, mùa lễ chiến sĩ trận vong năm nay, được tin San Francsico sẽ đốt pháo bông. Chưa bao giờ người ta vui mừng đốt pháo vào ngày lễ tưởng niệm như vậy.Nhưng thành phố Vịnh quả thực sẽ đốt pháo mừng vì đúng vào dịp cô Kiều sinh nhật 75 tuổi. Đó là ngày 27 tháng 5 năm 1937.

Lịch sử cây cầu vàng.
kim_mon_kieu_giao_chi_medium
May 24-1987 kỷ niệm 50 năm Golden Gate, 300 ngàn người đứng trên cầu. Giữa sàn cầu trùng xuống 7 feet. Tuy chưa nguy hiểm kỹ thuật nhưng vì sợ mọi người kinh hoàng nên phải giải tỏa. Còn gần một triệu người chờ đợi lên cầu nhưng không có cơ hội. Bên trái, kỷ niệm của tác giả năm 1963 trên tầu của USNavy trong vịnh San Francisco. Hình cũ do cố vấn in lại trên báo.
Vào đầu thế kỷ thứ 20, sự phồn thịnh của nước Mỹ phát triển nhờ chuyển vận. Đất nước mênh mông ráp danh 2 đại dương đã thành cường quốc kinh tế nhờ đường xe lửa và xa lộ. Trong hệ thống giao thông chằng chịt thì các cây cầu là nhu cầu then chốt. Cầu Golden Gate là bài toán khó nhất tại miền Tây.

Kỹ sư Joseph Strauss mà tượng đài của ông hiện đặt ở đầu cầu là người đã phác họa hình dáng cây cầu từ kỹ thuật cho đến mỹ thuật.

Tháng giêng năm 1933 công trường khởi sự và hoàn tất vào năm 1937. Ngày 27 tháng 5-1937 cho người đi bộ và ngày hôm sau bắt đầu cho xe hơi chạy qua.

Đây là cây cầu treo đầy sáng tạo và mỹ thuật của thế giới. Ý tưởng mới lạ và táo bạo của các nhà chuyên môn thực hiện cây cầu không có chân. Chỉ treo lên bằng dây thép được gắn vào 2 ngọn tháp. Những sợi dây cáp bằng thép dùng để treo thân cầu tính ra dài đến 80 ngàn dặm.

Thời kỳ miền tây Hoa Kỳ xây cầu Golden Gate là lúc cả nước Mỹ lâm vào cảnh đại suy thoái. Cả vùng Bay đều đói kém, thất nghiệp. Các đạo luật về xã hội được ban hành và các công trình công cộng được thực hiện để cứu Hoa kỳ thoát khỏi cơn khủng hoảng hết sức lớn lao.

Sau đó nước Mỹ dần dần hồi sinh và khi cô Kiều ra đời đã đóng góp vào sự hưng thịnh của cả miền duyên hải Bắc Caifonia.

Thành quả một cuộc đời.

Nếu ví Kim Môn Kiều là một phụ nữ thì cuộc đời nàng sẽ còn dài cả ngàn năm. Tuy nhiên chỉ riêng trong trong 75 năm qua Golden Gate đã sống trong lòng Cali với những thành tích hết sức tốt đẹp.

Khu quần cư đông đảo của dân chúng vùng Vịnh đã chiếm gần một nửa dân số Cali. Vì vậy sau cây cầu vàng và thêm một cây cầu Bay Bridge xây cất tiếp theo đã giải quyết vấn đề lưu thông cho cả triệu dân. Trước đây dân chúng khổ sở phải chờ đợi qua phà. Ngày nay riêng Golden Gate có 110 ngàn xe qua lại mỗi ngày. Người ta cũng ghi nhận vẻ đẹp quyến rũ của Kim Môn Kiều làm cho 1600 người tìm đến nhẩy cầu tự tử. Trong số đó hơn 30 năm trước có một cô gái Việt Nam ở San Jose đã tìm được cái chết tại đây. Từ trên thành cầu nhẩy xuống biển ở đoạn giữa sẽ có được cái chết chắc chắn vì khoảng cách xa mặt nước là 220 feet và biển vịnh San Francsico có đô lạnh hết sức nguy hiểm.

Trải qua 75 năm số người tự vẫn lên đến 1,600 xem ra quá nhiều. Trong số 10 triệu du khách đến thăm cô Kiều mỗi năm, người ta vẫn tự hỏi ai là người từ phương xa đến để xin nằm lại dưới đáy vịnh Cựu kim Sơn.

Vào buổi xế chiều, gió thổi mạnh, trời mù sương, bạn đi lại một mình. Đi tới rồi đi lui, vẻ mặt mang nỗi buồn u uẩn. Thế nào nhân viên an ninh cũng đến gần hỏi thăm. Đây cũng là chuyện dễ hiểu vì Kim môn Kiều đã nổi danh thế giới là nơi nhiều người muốn đến để tự kết liễu cuộc đời.

Hướng dẫn du lịch.

Sống ở San Jose hơn 30 năm. Năm nào cũng có hơn một lần phải làm anh chàng hướng dẫn du khách. Bạn bè từ các tiểu bang về chơi. Bà con bên vợ từ Canada đến. Ta lại làm 1 chuyến San Francsico. Đi vào buổi sáng cuối tuần rong ruổi trên xa lộ 280 vào mùa xuân, hoa nở 2 bên đường. Bà con ta ở vùng đồng khô cỏ cháy cứ suýt soa khen phong cảnh hữu tình. Từ 280 luôn luôn đi thẳng đường số 1 mà đến Golden Gate . Đậu xe vào bãi đầu cầu. Xe cộ tấp nập chở du khách 4 phương chụp hình quay phim. Rủ nhau đi bộ 1 đoạn rồi ta lại phóng qua cầu sau khi nộp tiền đường. Qua phía bên kia lại chụp những bức hình cả cây cầu lẫn thành phố. Sau khi chụp hình với nàng Kim, chúng tôi trở về phố Tàu. Nhưng trên đường đi lại phải ghé đến con đường dốc có 9 khúc quanh co. Đây cũng là 1 thắng cảnh lạ lùng của San Francsico.

Nếu phái đoàn thăm viếng không có nhiều thì giờ hay còn lưu luyến mua sắm tại khu thương xá nổi danh Union Square thì có thể bỏ qua nhiều nơi danh tiếng. Nhưng bao giờ cũng phải có tấm hình bên Kim Môn Kiều. Vậy cây cầu này đã được xây dựng ra sao.

Kỹ thuật và mỹ thuật.

Kim Môn Kiều nổi danh từ 1937 vì nhu cầu nối liền Marin County và thành phố San Francisco. Vì địa thế không thể làm các chân cầu nên ý kiến cầu treo hết sức đơn giản đã đưa ra. Nhưng đến khi thực hiện thì quả thực là trần ai.

Thoạt tiên phải xây 2 cây trụ thật cao ở 2 bên cách xa 4 ngàn 200 Feet. Chiều cao của trụ cầu là 746 Feet có thể so sánh với cao ốc 70 tầng. Tiếp theo là kéo 2 sợi dây thép khổng lồ chạy 2 bên cạnh trên đỉnh trụ cầu. Hoàn tất được công trình vĩ đại này mất 3 năm dài. Sàn cầu được làm từ 2 trụ cầu. Dùng các sợi dây cáp treo lên 2 sợi dây lớn. Từ phần giữa của sàn cầu xuống mặt nước là 220 Feet tương đương với cao ốc 20 tầng.

Ý tưởng làm cầu treo vào 75 năm trước đơn giản như chuyện trẻ con, nhưng khi hoàn tất đã trở thành một công trình kỹ thuật và mỹ thuật không thể tưởng tượng được vào năm 1937.

Năm 1964 tại Nữu Ước đã có thêm cây cầu treo dài hơn Golden Gate 60 Feet tức là 4,260 xa cách giữa 2 trụ cầu. Được coi là dài nhất nước Mỹ. Tuy nhiên Kim Môn Kiều vẫn còn vô địch về tất cả mọi mặt. Đến năm 1998 Nhật Bản hoàn tất cây cầu treo dài nhất thế giới với 6,532 Feet giữa 2 trụ cầu. Lại thêm một lần nữa Golden Gate vẫn mãi mãi là mối tình đầu bất diệt của nhân loại. Trị giá của cây cầu vàng tính theo tiền bạc của thế kỷ 21 là một tỷ 200 triệu mỹ kim. Nhưng giá trị của kỹ thuật và mỹ thuật thì không thể so sánh được. Đây là cây cầu của Thái bình Dương, của sự kết hợp Đông và Tây phương và là biểu hiệu của văn minh nhân loại qua kiến trúc. Đó chính là tiêu biểu của miền đất Hiệp chủng quốc, đất của cơ hội, đất của dân chủ. Từ phương xa dù mới đến hay trở về San Francisco, qua cầu Golden Gate sẽ được chào đón không phải trả tiền. Nếu đi khỏi San Francisco dù là giã từ vĩnh viễn hay chỉ rời xa chốc lát là phải trả tiền cầu.

Bây giờ thương mại địa ốc tạm thời đi xuống, chỉ có nghề bán cầu là may ra phát đạt. Ai mà mua được cây cầu Golden Gate, sáng sáng đem vợ con ra thu tiền. Mệt nghỉ.

Có anh lính Sài Gòn ngày xưa, gần 30 tuổi, năm 1962 lần đầu tiên gặp cô Kiều San Fran lúc nàng 25 tuổi. Đem lòng yêu thương, nhưng chỉ chụp được những tấm hình. Rồi duyên may trở lại đôi lần cho đến ngày Kim Môn Kiều sinh nhật 50 năm, vào tháng 5-1987. Bây giờ, 25 năm sau thật may mắn còn ngồi đây mà viết cho ngày sinh nhật 75 vào 27 tháng 5-2012 của nàng Kiều mãi mãi trẻ trung như cô gái 25 tuổi vào năm 1962, ta mới gặp nhau. Nhưng anh chàng sỹ quan 30 tuổi đứng trên du thuyền lộng gió chạy quanh vịnh Cựu Kim Sơn dưới chân cầu Golden Gate năm xưa bây giờ ở đâu.

Giao Chỉ, San Jose.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.