Hôm nay,  

Dân Vi Quý

03/10/201100:00:00(Xem: 7687)
Dân Vi Quý

Minh Văn
Trong thời đại văn minh hiện nay, chế độ dân chủ đã được xác lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới; và tư tưởng Dân Chủ không còn xa lạ với nhân loại: Đó là người dân có quyền làm chủ đất nước và tự quyết định vận mệnh của chính mình. Tiếc rằng ở nước ta thì không được như vậy, dù là tư tưởng tiến bộ đó đã có ở các nhà tư tưởng thời cổ đại.
Mạnh Tử, người đã tiếp tục và phát triển một cách xuất sắc học thuyết của Khổng Tử, có nói rằng: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Câu ấy có nghĩa là: Dân làm quý, xã tắc là thứ, vua làm khinh. Chúng ta có thể thấy rõ tư tưởng trọng dân, đặt vị trí của người dân lên trên nhà vua của Mạnh Tử, khi ông cho rằng: Dân vi quý, quân vi khinh.
Quan điểm tư tưởng đó có bắt nguồn từ tư tưởng trọng dân, vì dân của Khổng Tử. Câu chuyện dưới đây sẽ minh chứng cho điều đó:
Khi Tử Cống xin Khổng Tử dạy bảo về đường lối trị quốc và quản lý, Khổng Tử đáp: “Túc thực, túc binh, dân tín chi hỹ”. Nghĩa là trước tiên phải có đầy đủ lương thực (yếu tố vật chất), thứ đến là phải có đầy đủ quân đội vũ khí và sự tín nhiệm của dân. Tử Cống lại hỏi: “Nếu trường hợp bất đắc dĩ mà phải bỏ một trong ba điều đó thì nên bỏ thứ nào"”. Khổng Tử đáp: “Bỏ binh”. Tử Cống hỏi tiếp: “Nếu như trong hai điều còn lại mà phải bỏ một thì bỏ thứ nào"”. Khổng Tử đáp: “Bỏ lương thực”. Khổng Tử cho rằng bỏ ăn thì chết song xưa nay ai cũng chết, nhưng không có lòng tin của dân chúng thì quốc gia không thể đứng vững và tồn tại lâu dài.
Đoạn đối thoại này của Khổng Tử đã nói với mọi người một cách rõ ràng rằng: So sánh “túc binh”, “túc thực”, và “dân tín” thì “dân tín” là quan trọng nhất. Trong những tình huống cấp thiết có thể có thể bỏ binh, bỏ lương thực, điều đó có thể làm cho quốc gia nảy sinh ra một số khó khăn nhất định về vật lực, tài lực nhưng không bao giờ được làm mất đi lòng tin của nhân dân. Tại sao “dân tín” lại quan trọng đến như vậy" Bởi vì “dân vô tín bất lập”. Không có sự tín nhiệm của dân chúng thì một quốc gia, một chế độ sẽ không tồn tại lâu dài được. Khi một chế độ mất đi lòng tin của dân chúng, thì cho dù vật chất có đầy đủ, quân đội vững mạnh thì đó cũng chỉ là một con hổ giấy mà thôi. Ngược lại, một chế độ thực sự vì dân và được sự tín nhiệm của dân thì dù trong hoàn cảnh khó khăn dân chúng vẫn tin theo để đưa đất nước vượt qua khó khăn đó.

Dân Tín là sự tín nhiệm của dân chúng đối với nhà nước và những người lãnh đạo. Tín nhiệm là chỉ sự tin tưởng tới mức dám phó thác. Nếu dân chúng mất đi tín nhiệm thì cũng có nghĩa là mất đi Dân Tâm. Lúc đó thì nhà nước có đưa ra những chính sách, quy định, pháp luật, chế độ tốt đến mấy thì dân chúng cũng không thèm để ý, không hy vọng. Như vậy nhân dân sẽ giữ thái độ bàng quan đối với những nhà nước không có tín nhiệm đối với dân.
Tín nhiệm sản sinh ra lòng tin và hy vọng, từ đó có thể liên kết và hòa hợp vận mệnh quốc gia với lợi ích của nhân dân. Ngược lại, không có sự tín nhiệm đối với nhà nước thì quần chúng không thể gắn bó với vận mệnh quốc gia được. Câu chuyện Thương Ưởng dựng cột gỗ để thay đổi biến pháp là một minh chứng tiêu biểu cho quan điểm này. Muốn thực hiện tốt đẹp công việc của quốc gia thì trước hết phải có được sự tín nhiệm của dân chúng.
Ấy vậy mà thời nay vẫn có những quốc gia không có tư tưởng trọng dân và làm cái việc ngược lại với những điều mà Khổng Tử và Mạnh Tử đã răn nói từ xưa.
Đảng cầm quyền ở nước ta chính đã và đang làm cái việc nghịch lý đó. Trong bối cảnh bức thiết là sự sụp đổ của hàng loạt các chế độ độc tài Cộng sản trên phạm vi toàn cầu, để cứu mình đảng Cộng sản đã làm ngược lại điều răn mà Khổng Tử đã dạy bảo kia. Đó là, thay vì “bỏ binh”, “bỏ lương thực” và giữ lại sự tín nhiệm của dân thì họ lại “bỏ tín nhiệm của dân”, “bỏ lương thực” và giữ lại binh quyền. Họ đã sẵn sàng vứt bỏ sự tín nhiệm của nhân dân để cứu lấy chế độ khi cấp bách. Họ có thể để cho dân đói khổ và thất nghiệp nhưng lại nuôi dưỡng lực lượng công an và quân đội để bảo vệ chế độ.
Từ lâu người dân đã mất hẳn niềm tin vào chế độ độc tài nhưng lại tự nhận là “nhà nước của dân, do dân, vì dân” này. Nhà nước chỉ quan tâm đến sự tồn vong của chế độ mà không bao giờ quan tâm đến sự tồn vong của đất nước và nhân dân. Đối với lãnh thổ thì biển đảo để cho ngoại bang xâm chiếm, đối với nhân dân thì sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi. Người dân vì thế mà sống trong sự hoang mang và mất đi niềm tin vào xã hội mà mình đang sống. Như vậy thì còn đâu tư tưởng “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” như người xưa đã dạy"
“Không có niềm tin của nhân dân thì quốc gia không thể tồn tại được lâu dài”, Khổng Tử đã dạy như vậy. Nhưng nay nhà nước vẫn luôn khinh rẽ nhân dân, chỉ khăng khăng dùng bạo lực và công an để bảo vệ sự ổn định chính trị. Một chế độ coi thường nhân dân như thế thì không thể nào tồn tại lâu dài được!
Minh Văn (Hà Nội, VN)
30/9/2011

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Việc lập Tòa án nhân dân để kết án các công dân xã Đồng Tâm là vi phạm trắng trợn các điều khoản trong công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Sự kiện này đòi hỏi Liên minh EU phải có thái độ thúc đẩy Hà Nội thực thi những cam kết bảo vệ Nhân quyền mà hai bên đã nhìn nhận theo tinh thần của các Hiệp định PCA và EVFTA.
Mở computer, “bấm” vào Inbox, tôi thấy trong danh sách emails hôm nay có email của nhà truyền thông Huy Tâm – tôi thường gọi anh một cách thân mật là “anh Mũ Nâu”. Vừa “bấm” vào email của anh Huy Tâm tôi vừa tự hỏi, không biết người Bạn trẻ đa tài Mũ Nâu chuyển đến tôi tác phẩm thơ, văn, âm nhạc, truyện đọc, youtube của chính anh hay là của ai?
Ngoài việc nguyền rủa, dân Việt có lẽ cũng không ai quên làm cù nèo và mài dáo mác. Với sự bạo ngược của đám cường hào ác bá hiện nay – ở xứ sở này - thì cái ngày mà chúng bị móc ra khỏi ống cống ̣(chắc) cũng không còn xa lắm nữa.
Rất nhiều người quen, bạn bè đã kể cho tôi nghe thời gian họ sống ở những trại tỵ nạn Hồng Kông sau chuyến vượt biên của họ từ Việt nam. Riêng tôi có ấn tượng nhất với Hồng Kông là khi máy bay đáp xuống phi trường Hồng Kông, tôi có cảm giác chiếc máy bay đi xuống cầu thang từng bậc, từng bậc… Xuống tới đất mới hiểu là người phi công rất giỏi mới đáp được vậy chứ không phải dở mà đáp máy bay kiểu lạ lùng.
Mới đó mà đã 19 năm trôi qua kể từ ngày xảy ra vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001. Tôi còn nhớ rất rõ buổi sáng hôm đó, Thứ Ba, ngày 11 tháng 9 năm 2001, trước khi đi làm tôi đã xem tin tức trên đài truyền hình Mỹ thấy hình ảnh một trong 2 Tòa Tháp Đôi (World Trade Center) đang bốc cháy trên các tầng lầu gần chót. Nhiều máy bay lượn vòng và khói bay ra tỏa khắp bầu trời thành phố New York. Ở dưới đất tiếng còi xe cứu thương, xe cứu hỏa kêu inh ỏi. Nhiều người đang hốt hoảng chạy ra từ hai tòa tháp đôi. Tôi sững sờ và bàng hoàng trước cảnh tượng giống hệt trong một cuốn phim chiến tranh giả tưởng nào đó đang chiếu. Nhưng không. Đó là sự thật, việc thật, cảnh thật! Có lẽ không phải một mình tôi có cảm xúc đó mà nhiều người Mỹ và kể cả nhiều người trên khắp thế giới xem cảnh tượng hôm đó cũng có cùng cảm trạng.Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, con người chứng kiến những cảnh tượng khủng bố tàn bạo và dã man không thể tả! Những kẻ khủng bố đã sử dụng đến phương tiện mà không ai trước
Nhiều người hỏi tôi: trong các nghề: dạy học, làm báo, làm thương mại, bà thích nghề nào nhất? Tôi trả lời ngay không một chút do dự: - Dạy học và làm báo.
Kính bạch Chư Tôn đức, Ba tháng Hạ an cư đã qua, Tăng tự tứ cũng đã viên mãn, và tháng Hậu Ca-đề cũng bắt đầu. Đây là thời gian mà một số điều Phật chế định được nới lỏng để cho chúng đệ tử có thể bổ túc những nhu cầu thiếu sót trong đời sống hằng ngày. Cùng chung niềm vui của bốn chúng, nương theo uy đức Tăng-già, tôi kính gởi đến Chư Tôn đức lời chúc mừng đã hoàn mãn ba tháng tĩnh tu trong nguồn Pháp lạc tịnh diệu, phước trí tư lương sung mãn.
Sau mùa An Cư Kiết Hạ năm nay, Phật lịch 2564 (2020), Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước được đón nhận lời pháp thoại của Thầy Tuệ Sỹ qua Thư Khánh Tuế đầy tâm huyết trước thực trạng “tình đời và lẽ đạo” hiện nay của Đạo Phật Việt Nam với hai hình thức tổ chức giáo hội song hành: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN).
Trong tầm nhìn nào đó, người dân và giới báo chí trong nước có thể đặt câu hỏi phải chăng ông Trọng đã dứt điểm vấn đề nhân sự trước Đai hội-XIII? Nhất là họ dựa trên những sự kiện vừa xảy ra trước ngày Quốc Khánh-75.
Việt Nam chỉ kiện Trung Cộng về Biển Đông “khi đàm phán bế tắc và chiến tranh đã gần kề”. Việt Nam cũng kiên định không đứng về phe nào trong cuộc tranh chấp quyền lực ở Á Châu-Thái Bình Dương giữa Trung Cộng và Hoa Kỳ. Quan điểm xuyên suốt này đã được lan tỏa trong nội bộ những nhà ngoại giao có thẩm quyền nhất của Việt Nam về xung đột ở Biển Đông hiện nay.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.