Hôm nay,  

Họ Là Ai?

09/12/201000:00:00(Xem: 14183)

Họ Là Ai"

Trang Hien Vo
Ca dao Việt-Nam có câu: 
"Trai khôn tìm vợ chợ đông.  Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân."
Trong văn học của Việt-Nam, cụ Nguyễn Công Trứ cũng có để lại:
“Ví phỏng cuộc đời bằng phẳng cả
Anh hùng hào kiệt có hơn ai”.
Xem ra anh hùng thường chỉ xuất hiện khi có vấn đề…  Nhưng trong khi cái chính danh của anh hùng vẫn còn là vấn đề của tranh luận thì những hệ luận của nó lại đặt để những câu hỏi khác xa hơn, thậm chí còn được dùng để chứng minh cho chính danh của anh hùng.  Có nhiều người đã nói rằng luận anh hùng không căn cứ trên thành công hay thất bại.  Nhưng chính lúc thất bại là lúc để tỏ rõ khí anh hùng – vì trong chói lòa hào quang của chiến thắng, người nào mà chẳng vỗ ngực được để xưng anh hùng"
Các chiến binh hải quân của Việt-Nam biết sẽ thua mà vẫn đánh quyết tử để giử gìn lảnh hải của Tố Quốc Việt-Nam là vì cái gì" Vào cuối tháng Tư năm 1975, trong giờ phút hấp hối của chế độ Việt-Nam Cộng Hòa, có người biết là đã bại rồi mà nhất quyết không chịu ra đi.  Có người chịu chết chứ không đầu hàng thế mà danh lưu muôn thuở thì nghĩa anh hùng nào đâu phải dựa trên thắng bại"  Cựu Phó Tổng Thống VNCH Trần văn Hương từ chối không chịu di tản theo lời yêu cầu của Đại Sứ Martin để chịu chết âm thầm trên quê hương mình.  Các vị tướng, tá, binh sĩ VNCH - kẻ tự tử, người chiến đấu cho đến phút cuối để đến bị xữ tử là vì cái gì" - nếu không phải vì hai chữ anh hùng mà chính họ cũng chưa bao giờ tự nhận" Có chăng là do những người còn sống, hậu thế đã dành cho họ một vị trí trang trọng trong lòng dân tộc.  Nhưng tại sao phải đánh đổi bằng cả sinh mạng, không phải chỉ của một người mà có khi còn liên lụy đến cả gia đình, giòng họ nhiều đời để chỉ cho hai chữ anh hùng"  - hai chữ mà đối với một số người, cho những trao đổi thiệt thòi như thế  chỉ là uổng công, phung phí, thậm chí là dại dột, ngu dốt!  Ngay giờ đây, có bao nhiêu người quan niệm rằng nếu có người Việt-Nam nào thấy cần phải đương đầu với Trung Cọng thì chỉ là làm anh hùng dổm, anh hùng rơm"
Không ai phê phán những người đã bỏ đi trong những giờ phút của cuối tháng Tư 1975.  Nhưng không vì thế mà những người ra đi có lý khi chỉ trích những người ở lại là dại dột, hy sinh vô ích.  Đã thế, giờ đây họ còn cổ động cho những người như họ hãy quên quá khứ để trở về hợp tác với nhà cầm quyền CSVN hiện nay - như là một chứng minh cho  lòng yêu nước.  Và đối với thế hệ kế tiếp, những người phần lớn không kinh nghiệm gì về CSVN, là môi trường tốt nhất để họ thuyết phục hãy vì quê hương mà phục vụ cho cái chế độ phi nhân này.   Những người này, nếu họ cho rằng việc tháo chạy của ngày xưa là sai lầm như là vì một sự sợ hải vô lý thì những gì họ làm ngày nay sẽ hoàn toàn có nghĩa, dù khác chính kiến.  Nhưng không!  Họ vẫn mang căn cước tị nạn, vẫn sống và phát triễn trên cái căn cước này.  Thật ra họ là ai"  Trong Tâm Lý Học, người ta đã phân tích rõ ràng những kẽ phạm tội thường có xu hướng kéo theo kẻ khác cũng phạm tội như mình – như một chứng minh rằng những chuyện tội lỗi ấy là chuyện bình thường của con người, không phải chỉ riêng của họ.  Tệ hại hơn nữa, không hiểu ví  lý do gì, những hình ảnh tội phạm có khi lại được thấy dưới lăng kính của điện ảnh, trình bày như là một hình ảnh của lòng “can đảm”! 
Bên cạnh những mập mờ trong hành động, họ mập mờ trong danh xưng để đồng hóa họ với những người tị nạn chân chính.  Không đấu tranh trực diện, CS và tay sai bám vào người Việt hải ngoại như là một loại “Ký Sinh Trùng”.  “Việt kiều”  theo định nghĩa giáo khoa là những kiều bào người Việt, những người Việt sống ở nước ngoài.  Những người Việt tị nạn nhập quốc tịch Hoa Kỳ không còn là “Việt Kiều” nữa.  Có chăng là vì trong lòng của những người Việt tị nạn, chính họ vẫn tự coi mình là người Việt.  Đó là cái đẹp, cái cao quí của những người Việt tị nạn tha phương chứ không phải là người Việt cần được che chở bởi nghị quyết 36 của Bộ Chính Trị CSVN.  Cái danh từ “người Mỹ gốc Việt” lại càng mù mờ hơn nữa.  Trên phương diện pháp lý, không có gì khác biệt giữa người Việt tị nạn và cán bộ CS nằm vùng có cùng quốc tịch Hoa Kỳ.  Vậy thì làm sao phân biệt được ai là CS"  Vấn đề là người Việt tự do đang đứng ở vị trí nào"  Người CS lợi dụng tất cả những lảo đảo của người Việt Quốc Gia như là hoạt động có lợi cho họ thì người Việt tị nạn muốn đấu tranh cho một Việt-Nam tự do cũng phải hiểu những hoạt động nào có hại cho phong trào đấu tranh nói chung.   Còn nếu như họ không thấy được thì dù với giải thích gì, chúng ta cuối cùng vẫn chưa đủ trình độ để đấu tranh với CS mà thôi.  Một tổ chức mạnh là một tổ chức có đường lối hoạt động và cương lĩnh rõ ràng, có cán bộ trung kiên và dám hy sinh vì lý tưởng.  Một đám đông rời rạc, phân hóa thì cũng chỉ như một bức tường xiêu vẹo mà lại mục nát bên trong, chỉ cần đạp nhẹ là đổ ngay lập tức.   Trên mạng BBC, chương trình tiếng Việt tôi cũng có dịp đọc được một bài nói về một hoạt động có tên là Hiệp Hội Doanh Nhân Người Việt"  Nếu những vị chủ tịch (vùng) của Hiệp Hội này quả là những người đã chụp hình chung với Thủ Tướng Việt-Cộng Nguyễn Tấn Dũng trong lần ông công du Hoa Kỳ năm rồi mà tấm hình đã được phát tán rộng rãi trên Internet thì những hoạt động của hội cho  những “Người Mỹ gốc Việt”, dù là phù hợp với cương lĩnh đã được giới thiệu, cũng cần được kiễm nghiệm bởi những “Người Mỹ gốc Việt” còn lại" Ván bài cũ, ván bài “vàng thau lẫn lộn”  CSVN đem ra đánh lại mà vẫn còn hiệu nghiệm thì xướng máu của hơn 30 năm qua quả là vẫn chưa đủ để cảnh tỉnh những người Việt mù lòa…
Gần đây, trước hiểm họa xâm lăng của chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc, một số người đã khéo léo lèo lái lòng yêu nước với thuyết phục người Việt-Nam hãy đứng sau lưng đảng CSVN để chống lại hiểm họa xâm lăng này.  Họ cho rằng người Việt vẫn chưa trưởng thành để chấp nhận tiếp tục hà hơi tiếp sức cho sự cai trị độc tài và ngu xuẩn này"  Lịch sử Việt-Nam đã chứng minh rõ ràng rằng, vì là một nước nhỏ và yếu,  những cuộc chống xâm lăng từ phương Bắc của người Việt là cuộc chiến của một dân tộc phải biết bất khuất và phải cần sự đồng thuận của toàn dân.  Trước những khiếp nhược đến độ hèn hạ của lảnh đạo CSVN mà chứng cớ còn cho thấy là cả một sự bán đứng tổ quốc thì CSVN không có và không thể tập hợp được sức mạnh nào. Trong ngấm ngầm, Trung Cộng đang lũng đoạn lảnh đạo CSVN để thao túng xã hội Việt-Nam.  Trong lảnh đạo cho chính Việt-Nam, CSVN đang hủy hoại tất cả các sức mạnh của dân tộc như là nguy cơ chống lại chế độ của họ…Cho nên CSVN không còn là đại diện cho người Việt-Nam nữa.  Ngược lại, chính họ là mầm mống của tại họa và để đủ sức chống lại xâm lăng của phương Bắc, việc làm trước tiên hết cả là phải thay đổi cái chế độ độc tài, phá hoại nhưng vô dụng và hèn nhác này. 


Cũng gần đây thôi, khi chính phủ Hoa Kỳ chính thức những họat động để trở lại Đông Nam Á thì một số(") chính trị gia tỏ ra đã thấy ngay cơ hội  khuyến khích cọng đồng tị nạn hợp tác với nhà cầm quyền CSVN, nhất là mượn danh cho cơ hội để thúc đẩy dân chủ tại đây…  Người Mỹ đã nói họ trở lại Châu Á là vì quyền lợi của họ. Tuần trước, cựu Tổng Thống Hoa Kỳ đến Hà Nội tuyên bố hợp tác Mỹ -Việt là một kế hoạch lâu dài... là hợp tác với ai" Diễn dịch khác đi là tự lừa dối mình rồi có ngày lại hờn oán người Mỹ không giữ lời hứa"  Những hồ hởi và hoạt động cho sự trở lại này tại Việt-Nam, nếu chỉ vì quyền lợi của Hoa Kỳ thì cũng đã tạo thêm niềm tin cho lảnh đạo CSVN về uy tín và sự thừa nhận đó để họ thẳng tay đàn áp các hoạt động đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền tại Việt-Nam - một hậu quả tức thì trái ngược với suy diễn của những người ủng hộ khuynh hướng này.  Một số người khác, dù là nạn nhân của chế độ, chống đối nhà cầm quyền nhưng cuối cùng vẫn tin tưởng vào chủ nghĩa và lý tưởng cộng sản.  Có một ông Tướng, một người hùng được dựng lên trong chế độ CSVN sau một trận đánh nổi tiếng đã để lại trong tự điển tiếng Pháp một động từ mới có tên là “Dienbienfuser”.  Sau “Đại Thắng Mùa Xuân” năm 1975, ông này đã được sắp xếp để quản lý chương trình kiễm soát Sinh Đẻ Có Kế Hoạch của chính phủ Cộng Sản Việt-Nam, Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc!  Có ai còn hoài nghi về sự hạ nhục lộ liểu này"  Dù chỉ được đánh bóng để lợi dụng, huyền thoại về giá trị của người hùng Điện Biên Phủ này trở thành nghi vấn trong chính những đồng chí của ông ta về thái độ không mấy tự tin vào sự thành công của cuộc tiến công vào Nam.  Và khi mà CSVN đã thật sự đặc chân lên được những bậc thềm của dinh Độc Lập ở Sài Gòn thì những ai đã không quả quyết từ đầu còn có giá trị gì"  Một anh hùng, dĩ nhiên vẫn có thể bị bôi nhọ như tất cả mọi người khác.  Vấn đề là thái độ của người đó đối với những bôi nhọ này:  ông vẫn cung cúc tận tụy đóng góp ý kiến để mong đảng sữa đổi.  Ông không muốn mất những huyền thoại mình đã có hay ông thật tin vào những tốt đẹp của chế độ mà mình đã lỡ hiến thân phục vụ cả một đời người"
-----
Lần đầu tiên tôi biết đến ông Cao Quang Ánh là vào một buổi sáng ngay tại sở làm việc, khi khung hình nhỏ (một windows) của trang chính Yahoo.com đưa tin ông thắng cử Dân Biểu tại Tiểu Bang Louisiana.  Dù hiểu được những khó khăn mà ông Ánh phải đương đầu tại một địa phương như vậy, tôi cũng không khỏi khó chịu  khi nghe những lời bình luận nặng phần ác ý của giới truyền thông trước chiến thắng đột ngột nhưng không ngạc nhiên khi người ta so sánh ông với đối thủ  Dân Chủ của ông.  Những khó khăn cho ông có lẻ còn sâu xa hơn khi ông phát biểu (") ông chấp nhận hy sinh sự nghiệp chính trị cho tiếng nói của lương tâm mình .  Trong thực tế, ông đã biểu quyết ngược lại với khuynh hướng của chính đảng mình.  Để minh bạch thế đứng của mình, ông đến hòa đồng với những người biểu tình chống chiến dịch văn công ở hải ngoại của cộng sản Việt-Nam, ngay sau vụ ông Lý Tống xịt hơi cay vào mặt một ca sĩ Việt-Cộng tại San José.  Khi được yêu cầu làm trung gian để “hòa giải” những “ngộ nhận” của cọng đồng tị nạn, thái độ bất hợp tác, dứt khoát, gần như tạt gáo nước lạnh vào mặt những dụ dỗ của CSVN, ông đã không làm hài lòng với chính cái chính quyền và những ai đang muốn bắt tay với chế độ này.  Trong khoảng thời gian ngắn ngủi hai năm mà thường thì những chính trị gia đã phải bắt tay, ngay từ ngày đầu thắng cử, cho những quỷ vận động tranh cử nhiệm kỳ kế tiếp, ông lại dành quá nhiều thì giờ cho những hoạt động ngoại tiểu bang của mình mà cụ thể là những hoạt động cho người tị nạn chống cộng.  Không mấy ngạc nhiên khi ông bị bỏ rơi bởi chính đảng của mình.  Và rồi trong những tuần cuối cùng trong chức vụ, ông vẫn nỗ lực thúc đẩy hai dự luật nhân quyền cho Việt-Nam tự do, mạnh mẽ hơn trong những biện pháp chế tài.   Ông chứng minh ông đã tận sức mình ngay với những kẻ có thể còn cho ông là … dại. 
Luận về anh hùng có lẽ có nhiều tiêu chuẩn để xét đoán.  Có những nhân vật dù nổi tiếng trên thế giới hình như vẫn chưa bao giờ được mang tiếng anh hùng, như  Hitler, Stalin"  Ngược lại, có thể nào không cần phải nỗi tiếng mà vẫn  được ca tụng là anh hùng".  Những người lính Hải Quân bình thường của Việt-Nam vẫn đã để lại những gương anh hùng cho muôn đời hậu thế.  Thuở còn là một học sinh Trung Học Đệ Nhất Cấp  tôi đã học tiếng Pháp qua những bài học luân lý và có lần người thầy đã chọn một bài nói về cuộc sống can đãm của người thợ rèn làm việc bên ánh lữa hồng với mồ hôi nhuể nhại toàn thân…  Rồi thầy hỏi cả lớp tại sao người thợ rèn này là can đãm" -  Thôi thì các triết gia tí hon này, bao gồm cả tôi,  trổ hết tài giải thích, tranh luận, thậm chí có bạn còn cho rằng can đãm là vì làm việc mệt nhọc,  nguy hiễm đến thế mà vẫn không sợ hãi….  Cho đến bây giờ dù tóc đã 2 màu tôi hiễu được bao nhiêu về lòng can đãm, tính anh hùng của những con người, dù gian khổ đến đâu cũng phải sống một cuộc đời có khí phách, lương thiện" – rồi nhìn lại quanh mình, tôi thấy lòng ấm áp và thêm tự tin hơn khi hiểu được xung quanh tôi thật ra đã có lắm anh hùng.
“Nổi tiếng” và “anh hùng” là hai giá trị  rất chênh lệch.  Như Thành Cát Tư Hản trong Anh Hùng Xạ Điêu có phải là một anh hùng hay không thì Kim Dung để dành cho đọc giả tự phán xét.  Nhưng có một danh từ rất gần “anh hùng” mà người ta có thể lèo lái để ngộ nhận đó là danh từ “Gian Hùng”.  Dù cố gắng thế nào thì những người như Hồ Chí Minh, Tào Tháo cùng lắm cũng chỉ đạt được đến mức độ này mà thôi là tại sao"  Có thể nào một Việt gian, một Hán gian, một … “Mỹ gian” trở thành anh hùng"  Đối với một số người, hai chữ anh hùng dĩ nhiên là quá xa vời vì ngay cả hai chữ liêm sĩ cơ bản cũng đã không hề nằm trong một cảm nhận nào cả của chính họ.
Những người theo đóm ăn tàn thì dĩ nhiên sẽ không bao giờ xứng đáng để được đề cử trong danh sách những anh hùng.  Những kẻ theo “cơ hội chủ nghĩa” thì cùng lắm cũng chỉ thành tựu ở mức độ của một Tôn Thọ Tường.  Với sự trở lại của Mỹ tại Đông Nam Á, trong tình hình chính trị hiện nay, từ nhiều góc độ, người ta vẫn nhận ra một khuynh hướng thuyết phục người Việt hợp tác với chính quyền CSVN. Họ thuộc thành phần nào thì mọi người đều có thể biết.  Chỉ có họ là không có cam đảm tự nhận mình là ai đó thôi.  Xa hơn nữa, cái giá trị của những anh hùng, của thắng bại thật ra không nằm trong tầm tay của cả những người đương cuộc vì đó là một giá trị ngoại hạng của lương tâm loài người - như bản chất trong sáng của một viên ngọc và những bôi nhọ, bịp bợm là hai phạm trù hoàn toàn khác biệt.  Khi đấu tranh vì một lý tưởng, người ta khởi đầu và hy sinh vì cái lý tưởng ấy chứ không vì một sự thành công phải được thấy trước .  Chính niềm tin, dù là mù quáng, đã giúp cho những nhà lảnh đạo CSVN thành công  trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ.  Giờ đây, khi Chủ Nghĩa Xã Hội đã hiện rõ  trong những biểu hiện cực kỳ phản động và không tưởng thì tuổi trẻ Việt-Nam, những người “quốc gia” đã trang bị được cho mình lý tưởng gì trong hành trình đầy chông gai này" – vì ngày trước người cọng sản hiểu rõ họ phải ca tụng những lý tưởng độc lập, tự chủ và công bằng, giàu mạnh cho thế hệ thanh niên Việt-Nam, trong đó có cả cha của tôi, như là sức mạnh của cách mạng thì ngày nay, hơn ai hết, họ phải triệt tiêu mọi lý tưởng ngoại trừ lý tưởng phục vụ cho đảng để bảo vệ chế độ này.
Sống vì lý tưởng tự do nhân bản, giải phóng và khai phóng con người là cuộc sống đẹp. Trước những cám dổ của tham vọng, nhất là trước những khó khăn của đời sống hiện nay, đấu tranh cho một lý tưởng không phải dễ dàng.  Nhưng chính tại cái quốc gia dư ăn dư mặc như tại Hoa Kỳ này, người ta vẫn  thấy những bế tắc và thao thức về một đời sống tâm linh, hướng thượng cho con người.  Tùy vào vị trí của mỗi người mà bước khởi hành và thành tựu có thể khác nhau.  Nhưng đừng tuyệt vọng.  Hãy nuôi cái tâm nguyện vì đời mà cũng là vì mình, dù chỉ là ánh sáng của một ngọn nến trong bóng đêm nhưng sẽ dẫn dắt chúng ta qua bao trầm luân của kiếp người - như lời đại nguyện cứu độ chúng sinh của đức Phật, ngay từ đáy của địa ngục.
Trang Hien Vo

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.