Hôm nay,  

Mong Được Lắng Nghe

12/04/201000:00:00(Xem: 9520)

Mong Được Lắng Nghe

Tôn tượng Quán Thế Âm được tạc xong tại núi Ông Trịnh, Vũng Tàu, Việt Nam.


Vĩnh Hảo


Quán Thế Âm (Avalokistevara) trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền là một vị bồ-tát xuất hiện nơi đời bằng hình thức nữ nhân, đã từng phát lời nguyện rộng lớn: “Khi nào chúng sanh hết khổ tôi mới thành Phật.”
Đại nguyện của ngài làm chấn động tâm tư của bất cứ ai nghe đến, tác động đến lòng từ bi và ý hướng dấn thân cứu khổ của tất cả những hành giả công khai hay thầm lặng đi vào cuộc đời. Theo ý nghĩa đó, bồ-tát Quán Thế Âm đã hóa thân khắp mọi nơi chốn, mọi thời gian. Cũng theo ý nghĩa đó, ngài thị hiện trong ứng thân ngàn tay ngàn mắt (thiên thủ thiên nhãn). Lòng từ bi và hạnh nguyện của ngài, thật cao vời mà lại rất gần gũi. Người đời, dù ở độ tuổi nào, thân phận nào, cũng thờ kính ngài như một người mẹ; và trong dân gian, người ta gọi ngài là “mẹ hiền Quán Âm.”
Pháp môn của ngài là quán âm (lắng nghe âm thanh của thế gian); hạnh nguyện của ngài là lắng nghe tiếng kêu cầu của chúng sanh mà tùy duyên cứu độ. Phật-tử Việt đã quá quen thuộc với hình ảnh và hạnh nguyện của ngài nên ở đây không cần phải nhiều lời. Điều muốn kể quý vị là câu chuyện bức tượng bồ-tát Quán Thế Âm của Chùa Tam Bảo, thành phố Tulsa, tiểu bang Oklahoma, Hoa Kỳ. Xin cùng học theo hạnh của ngài, lắng nghe phật sự của Chùa Tam Bảo.
Chùa này được thành lập từ năm 1993, hiện nay do thầy Thích Đức Trí trụ trì. Tôi không quen biết thầy trước. Chỉ tình cờ nghe được câu chuyện tôn tượng Quán Thế Âm tạc bằng đá hoa cương tại Việt Nam, đã hoàn tất nhưng lại thiếu tiền để vận chuyển qua Mỹ. Nơi tạc tượng có ý thúc giục Chùa Tam Bảo lo việc vận chuyển sớm chừng nào hay chừng nấy. Đây cũng là điều dễ hiểu, vì tôn tượng Quán Thế Âm này cao 17 mét, nặng 200 tấn, nếu không chuyển đi sẽ choán chỗ của xưởng đúc và bãi đá. Chỉ nghe vậy thôi, lòng thấy không an. Tôi liền liên lạc với thầy bằng điện thoại và được thầy trình bày rõ hơn, sau đó thầy giới thiệu tôi website của Chùa Tam Bảo (www.ducquannam.com).
Đại khái, thầy đã xin được giấy phép tôn trí tượng Quán Thế Âm lộ thiên trong khuôn viên Chùa Tam Bảo, chi phí tạc tượng (ở Việt Nam) đã trả xong, chi phí xây móng để dựng tượng (tại Oklahoma) cũng đã trả xong. Nay chỉ còn thiếu chi phí chuyên chở. Chi phí quá đắt, còn nặng hơn cả chi phí đúc tượng, nằm ngoài dự liệu của Chùa Tam Bảo; vì năm ngoái (2009) thầy khảo giá thì được biết là mỗi container chuyển từ Việt Nam sang Mỹ tốn $2,500 USD, nhưng năm nay thì lại $4,900. Tôn tượng cao 17 mét được phân thành 17 containers, tính luôn tòa sen. Thầy đang nỗ lực vận động tăng ni và phật-tử các nơi hỗ trợ tài chánh để tiến hành việc chuyển vận tôn tượng; nếu việc vận động tài chánh không có kết quả tốt trong tình hình kinh tế khủng hoảng ngày nay, thầy buộc lòng phải vay tiền nhà băng để thực hiện sớm, không thể trì hoãn.


Phần nền (foundation) của tượng đài Quán Thế Âm trong khuôn viên Chùa Tam Bảo cũng đã xây xong.

Tôi không có duyên theo dõi diễn tiến công trình xây tượng Quán Thế Âm lộ thiên của Chùa Tam Bảo ngay từ đầu. Nay đến giai đoạn chót mới được tin thì tượng của ngài đang trong tình trạng mà xưởng đúc thúc hối phải đưa đi (dù suốt thời gian qua, sau khi tượng được đúc xong, thầy vẫn phải trả tiền cho bãi đá để nhờ người bảo vệ, chăm sóc); còn công ty xây dựng ở Mỹ (thực hiện đúc nền và trang trí nơi tượng đài) cũng không thể chờ đợi quá lâu. Lòng không an của tôi lúc này giống như đứa con ở phương xa, nghe tin mẹ mình ở quê bị người khác mời ra khỏi nhà, sớm chừng nào tốt chừng đó. Hai chữ “choán chỗ” dù đã thốt thành lời hay còn trong ý niệm, vẫn là điều xót xa, khó chịu cho đứa con đối với sự hiện diện của người mẹ đang tạm trú trong nhà người khác.
Do vậy, tôi viết ít dòng nơi đây, kính mong chư tôn đức tăng ni và quý bạn đạo khắp nơi, xin tiếp giúp mỗi người một tay, để pho tượng Quán Thế Âm sớm được cung nghinh và tôn trí tại sân Chùa Tam Bảo, làm biểu tượng văn hóa của Phật Việt trên xứ người.
Điều chúng ta quan tâm hiện nay là đóng góp tài chánh để vận chuyển trong một thời gian thật ngắn để hoàn tất giai đoạn cuối cùng của công trình; nhưng sự đóng góp của một biểu tượng lớn, phổ hiện lòng từ bi của mẹ hiền Quán Âm nơi xứ này, là ngàn năm.
Tất nhiên các pháp hữu vi, hình tướng đều bị chi phối bởi luật vô thường. Dù bằng kim cương hay đá hoa cương, vẫn sẽ suy tàn hoại diệt theo thời gian. Nhưng hãy tưởng tượng thời gian hiện hữu khiêm nhường của đá khoảng ngàn năm, khi tất cả chúng ta và nhiều thế hệ sau này đều thay nhau nằm xuống, thì bức tượng Quán Thế Âm bằng đá hoa cương, vẫn sừng sững tồn tại; và trong suốt thời gian ngàn năm tôn tượng hiện diện nơi đây, trước tiên là gieo duyên lành với người qua lại và sinh sống quanh vùng, ngoài ra, còn cảm hóa và an ủi, đem lại tâm bình an cho không biết bao nhiêu phận người. Biểu tượng từ bi cứu khổ của Quán Âm lộ thiên Chùa Tam Bảo sẽ là bài pháp không lời, là dấu ấn của văn hóa Phật Việt tại hải ngoại nói chung, và tại Hoa Kỳ nói riêng. Chỉ ngần ấy thôi, đã là kỳ tích của việc hoằng dương chánh pháp.
Nhất tâm cầu nguyện cho phật sự này được thành tựu tốt đẹp.
Thư viết ngắn không thể hết ý; chỉ là đôi lời giới thiệu để gieo duyên đến bạn đạo khắp nơi.
Để biết thêm chi tiết, xin liên lạc:
Đại Đức Thích Đức Trí
16933 E. 21st Street
Tulsa, OK  74134
Tel: 918-438-0714  *  Fax: 918-438-0714
email: [email protected]
Chi phiếu ủng hộ, xin ghi: CHÙA TAM BẢO
California, ngày 10 tháng 4 năm 2010
Vĩnh Hảo

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trước hiện trạng kỳ thị, không chỉ bạo hành bằng lời nói, mà còn tấn công hung bạo và bắn giết khiến nhiều người đã thiệt mạng hoặc bị thương tích nặng, các chuyên gia và các nhà hoạt động đã đưa ra một số biện pháp để chống trả vấn nạn này và giúp các thành viên trong cộng đồng tự bảo vệ
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.