Hôm nay,  

Cưỡng Bách Hôn Nhân

09/02/201000:00:00(Xem: 7144)

Cưỡng  Bách  Hôn  Nhân

Phó Tế Nguyễn Mạnh San trong Hội Thảo Pháp Lý Vào Ngày 23 Tháng 1, Năm 2010

Phó  Tế  Nguyễn  Mạnh  San
(LTS: Đây là đề tài thứ mười mà thầy Phó Tế N.M. San đã thuyết trình cho quý vị cử tọa của Hội Thân Hữu Việt Mỹ (Vietnamese American Association), tại thành phố Oklahoma City, Oklahoma vào ngày 23 tháng 1 năm 2010 vừa qua. Trong dịp này thầy Phó Tế đã mạn phép xin được thay mặt cho hàng ngàn những người tỵ nạn thuộc các sắc tộc Việt, Miên, Lào, Iran, Iraq, Nga, Cuba, v.v… để vinh danh Cụ Nguyễn Đình Thư, Sáng lập viên và là vị Chủ Tịch đầu tiên của Hội, cũng như cảm ơn Hội THVM, một Hội thiện nguyện bất vụ lợi, về những thành quả và sự liên tục giúp đỡ người Tỵ Nạn từ năm 1977 cho đến ngày hôm nay. Xin quý độc giả theo dõi câu chuyện liên quan đến đời sống và Pháp luật tại Hoa Kỳ dưới đây.)
Người ta vẫn thường nói ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên. Quả thật như thế, vì ngay cả hai người yêu thương nhau thật tình đi chăng nữa, cũng chưa chắc chắn gì có thể đem lại hạnh phúc cho nhau nói chi đến con cái bị Cha Mẹ ép buộc phải lấy nhau, thì làm sao có thể mang lại hạnh phúc cho nhau được. Nói như thế là khi chúng ta còn ở quê nhà, Cha mẹ đặt con cái ngồi đâu thì con cái phải vâng lời Cha mẹ ngồi đấy, có nghĩa là Cha Mẹ bảo con lấy ai thì phải lấy người đó, không được quyền cãi lại lời Cha Mẹ. Đó là chuyện xẩy ra từ xa xưa ở quê nhà trước ngày mất nước.
Nhưng từ khi chúng ta đến sinh sống tại Hoa Kỳ, thì truyền thống Cha mẹ đặt con ngồi đâu con phải ngồi đấy không còn tồn tại nữa, trái lại con cái đặt cha mẹ ngồi đâu, Cha Mẹ phải ngồi đấy, có nghĩa là con cái tự quyền lựa chọn Tây, Tàu, Nhật, Đại Hàn, Ấn Độ, Nga, Mỹ, Phi Châu, Trung Đông, v.v… mà con cái muốn lấy người đó làm chồng hay làm vợ, thì Cha Mẹ không có quyền từ chối, bằng không, chúng nó sẽ cưới hỏi nhau trước pháp luật, không cần đến sự hiện diện của Cha Mẹ đôi bên, kể như cô dâu chú rể đều coi như là mồ côi Cha Mẹ; cho tới một ngày đẹp trời nào đó Cha Mẹ thương nhớ con quá, bằng cách tỏ thái độ bằng lòng chấp nhận nó là con dâu hay con rể của nhà mình, thì tình nghĩa phận làm con cái đối với Cha mẹ mới được phục hồi kể từ ngày đó.
Như chúng ta đã biết cách đây gần 2 năm, chính quyền Hoa Kỳ đã khám phá ra một số đông những cặp vợ chồng lập hôn thú giả vờ lấy nhau (fraud marriage) một cách trực tiếp hoặc qua trung gian của một số cơ sở dịch vụ thương mại tư, để đem cô dâu từ Việt Nam hay từ bên Trung Quốc sang Hoa Kỳ, mà trên thực tế cô dâu chú rể không hề chung sống vớí nhau bao giờ. Tất cả những vụ đưa người vào Hoa Kỳ bất hợp pháp này, đều bị truy tố ra tòa xét xử về tội vi phạm Luật Di Trú Hoa Kỳ.
Mục đích chính của bài viết này là chúng tôi muốn kể lại một câu chuyện của một cặp giả vờ lấy nhau  làm vợ làm chồng, có liên hệ đến pháp lý như vừa mới nêu ở phần trên. Tuy nhiên, đi sâu vào chi tiết của câu chuyện này, thì ngoài tội người chồng hờ và người vợ hờ vi phạm luật Di Trú ra, riêng người chồng hờ còn vi phạm thêm một trọng tội khác nữa, đó là tội phạm cưỡng bách hôn nhân, chỉ vì thấy cô vợ hờ của mình quá xinh xắn, như một nụ bông hồng vừa mới chớm nở ra những cánh hoa mịn màng thơm ngát, vào một buổi sáng sớm tinh sương của một ngày đầu xuân và câu chuyện này được diễn tiến như sau:
Lần đầu tiên trở về thăm quê hương trong 3 tuần lễ, tình cờ trong thời gian này anh Hanh được một người em họ của mình, biết rõ anh vẫn còn độc thân, nên người em họ mới ngỏ ý với anh là nếu anh bằng lòng lập hôn thú với một cô sinh viên đang theo học năm thứ nhất tại một trường Đại Học Mỹ Thuật mà người em họ quen thân với tất cả gia đình cô ta; và cô ta chỉ yêu cầu anh Hanh giả vờ lấy cô ta làm vợ nhưng trên thực tế cô ta coi anh như một người bạn cô ta mà thôi. Vì phải nhờ vào giấy giá thú là vợ anh, thì cô ta mới hội đủ điều kiện để được phép sang Hoa Kỳ, tiếp tục ghi danh vào học ngành Mỹ Thuật, với hy vọng sau này sẽ trở thành một họa sĩ nổi danh mà cô ta hằng mơ ước từ lúc còn ở bậc trung học. Sau khi cô ta đã cư ngụ tại Hoa Kỳ đủ 2 năm trở lên và có thẻ thường trú rồi, anh sẽ lập thủ tục ly dị cô ta, để cô ta không bị trục xuất trả về nguyên quán, thì cha mẹ cô ta sẽ đền đáp anh một số tiền xứng đáng bằng Mỹ kim tiền mặt và sẽ trao tận tay anh vài ngày, trước khi anh lên đường trở về Hoa Kỳ. Nhận thấy số tiền đền đáp này quá lớn, tưởng chừng như mình vừa mới trúng số lô độc đắc 25 ngàn đồng, nên anh liền nhận lời đề nghị của người em họ và vài ngày sau anh cùng cô ta đến cơ quan chính quyền để ký giấy giá thú với nhau. Giữ đúng như lời giao ước trước đây, Cha mẹ cô ta đã trao tận tay anh Hanh đầy đủ số tiền đền đáp như đã hứa với anh, trước khi anh đáp máy bay trở về Hoa Kỳ.
Về tới Hoa Kỳ, anh liền lập thủ tục bảo trợ cho cô ta sang Hoa kỳ theo diện đoàn tụ vợ chồng tại sở Di Trú và chưa đầy 9 tháng sau ngày anh nạp đơn bảo trợ, cô ta vui mừng gọi điện thoại báo tin cho anh biết ngày giờ, tên hãng máy bay để anh ra phi trường đón nàng. Giữ đúng y như lời cam kết của anh với cha mẹ nàng, anh thuê dùm cho nàng một căn phòng trong khu chung cư gần một trường Đại Học Cộng Đồng (Community college), để cho nàng không cần phải lái xe đi học mỗi ngày. Thỉnh thoảng vào những ngày cuối tuần, anh lái xe đến thăm nom nàng, xem nàng có cần mua bán gì thì anh chở nàng đi. Khoảng 6 tháng sau, cũng vào ngày cuối tuần, anh đến đón nàng về nhà anh chơi và cũng như mọi khi nàng đến nhà anh, đều thấy có mặt một vài người bạn thân của anh chờ sẵn ở nhà anh, nhưng lần này ngoài anh, ra nàng không thấy có ai hết ở trong nhà. Thế rồi anh trịnh trọng nói cho nàng biết, kể từ hôm nay nàng phải về chung sống với anh trong căn nhà này, vì trên giấy tờ pháp lý, nàng là người vợ chính thức của anh, kể từ ngày nàng đặt chân đến Hoa kỳ và nàng phải hành sử bổn phận của một người vợ đối với chồng. Nếu nàng không chịu bằng lòng làm vợ anh, thì bắt buộc anh phải bắn chết nàng ngay tại chỗ trong căn nhà này và anh sẽ tự sát theo nàng. Nói xong, anh đứng dậy, lấy tay thọc vào túi quần, để rút ra một khẩu súng lục nhỏ (chẳng biết súng thật hay giả), chĩa đầu súng thẳng vào mặt nàng. Vừa thấy khẩu súng chân tay nàng đã run lên cầm cập như người đang bị lên cơn sốt rét ngã nước và miệng lắp bắp trả lời: Em van xin anh đừng bắn em, em xin hoàn toàn vâng lời anh. Hầu hết người Việt Nam chúng ta ở tuổi trung niên trở lên, đều hiểu rõ nghĩa bóng cũng như nghĩa đen của câu “Tiền trao cháo múc”, thế mà anh chàng này không những lấy tiền của người ta rồi, lại còn tham lam đòi múc cháo ăn nữa, đúng là ở đời lắm chuyện oái oăm.


Sự việc này nếu xẩy ra ở Tiểu Bang Oklahoma và nạn nhân trong cuộc đã là một thuờng trú nhân chưa làm hôn thú, thì nạn nhân chắc chắn sẽ tố cáo trước pháp luật, là bị uy hiếp bằng vũ khí, phải chấp nhận lấy anh ta làm chồng và theo đạo luật Oklahoma số 21, điều khoản 1118, liệt kê các Tội Danh và các Hình Phạt (Title 21, Crimes and Punishments, Section 1118) quy định rằng: Bất luận ai có hành động cưỡng bách bằng vũ lực, hăm dọa hay ép buộc người phụ nữ lấy mình làm chồng, là phạm tội đại hình và có thể bị bỏ tù không quá 10 năm (Every person who takes any woman unlawfully against her will, with intent to compel her by force, menace or duress to marry him or marry other person, shall be guilty of felony and he is punishable by imprisonment in the penitentiary not exceeding ten (10) years). Khổ một nỗi là cô nàng này đã làm giá thú với anh Hanh từ Việt Nam rồi và chưa có thẻ thuờng trú. Hơn nữa, nếu sự thật được phơi bày trước ánh sáng công lý, là Cha mẹ cô này đã trả tiền cho anh Hanh, để anh giả vờ lấy cô làm vợ, đem cô sang đây. Như thế cô này sẽ bị trục xuất trả về nguyên quán, còn anh Hanh sẽ được chính quyền mời đi nghỉ mát ở một nơi xà lim ít nhất vài năm, vì phạm tội hình sự. Tuy nhiên trong trường hợp như thế này, giả thử nạn nhân không dám tố cáo anh Hanh là cưỡng bách cô ta phải lấy anh làm chồng, vì những lý do vừa được nêu ra ở phần trên, nhưng nếu muốn, nạn nhân vẫn có thể tố cáo anh dùng vũ khí để cưỡng hiếp dâm cô, cho dù trên giấy tờ pháp lý cô ta là vợ chánh thức của anh (điều này áp dụng đối với tất cả vợ chồng dù có quốc tịch hay không có quốc tịch). Bởi vì, chúng ta nên hiểu rằng người vợ hay người chồng không phải là một món đồ chơi của con nít, hễ thích lúc nào, mang nó ra chơi. Hành động như thế, vô tình hay hữu ý, một trong hai người đã vi phạm đến quyền bình đẳng, sự tự do, vấn đề sức khỏe và ý muốn của cá nhân mỗi người, cần phải luôn luôn được tôn trọng trong đời sống gia đình cũng như ngoài xã hội. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi không thể tiếp tục trình bày thêm những chi tiết pháp lý của sự tố cáo hiếp dâm này nếu có, vì nó hoàn toàn chuyển sang một đề tài pháp luật khác, nói về tội Cưỡng Hiếp Dâm bằng vũ lực đối với người phối ngẫu vợ hay chồng của mình. Nói tới đây, có lẽ nhiều người trong chúng ta thuờng nghe thấy, hành động hiếp dâm chỉ xảy ra đối với người khác, chứ không xảy ra đối với người vợ hay chồng của mình. Vấn đề này, chúng tôi sẽ trình bày cùng đọc giả trong một dịp thuận tiện khác nếu thời gian cho phép.
Cũng một tình trạng và hoàn cảnh tương tự như câu chuyện vừa được kể trên đây, nhưng nội dung của câu chuyện này lại hoàn toàn khác biệt, thay vì cô dâu ở trong câu chuyện trên, đã phải trả một số tiền khá lớn cho chú rể ngoại kiều lập hôn thú để được sang Hoa Kỳ, mà cô dâu vẫn không được toại nguyện theo điều mình mơ ước. Nhưng ngược lại cô dâu trong câu chuyện này, không những không phải trả một đồng xu cắc bạc nào cho chú rể ngoại kiều, mà vẫn được chú rể bảo trợ sang Hoa Kỳ và kết quả lại quá tốt đẹp, ngoài sức tưởng tượng của mọi người biết rõ từ đầu câu chuyện này xẩy ra như sau:
Ông Vương có một cậu con trai đã lập gia đình được hơn 3 năm, nhưng chưa kịp có con thì cô vợ đã ly dị cậu, để bước sang thuyền khác. Cậu con trai này rất có hiếu với Cha Mẹ cậu và cậu luôn luôn làm tất cả những điều gì có thể làm vui lòng Cha mẹ. Ông Vương có một người bạn học cũ, rất thân thiết nhau như anh em ruột thịt, từ khi hai người cùng học chung  một lớp với nhau, Ông bạn thân này cùng gia đình còn ở Việt Nam, vì không có điều kiện để định cư tại Hoa Kỳ. Ông có một người con gái duy nhất vừa có nhan sắc lại rất thông minh, nói năng hoạt bát, hiện cô đang theo học năm thứ 2 ngành quản trị tài chánh tại môt trường Đại Học. Cha mẹ nghèo, không có tiền bạc để gửi con đi du học, nhưng vẫn mơ ước làm sao cho con được sang Hoa Kỳ, để tiếp tục học ngành này, thì tương lai con mình sẽ sáng lạng hơn nhiều, nên ông đã ngỏ ý nhờ ông Vương, cố gắng tìm phương cách nào có thể giúp đỡ con gái ông sang Hoa Kỳ du học, thì gia đình ông sẽ không bao giờ quên ơn trời biển này. Vì quý mến tình nghĩa bạn học chung với nhau đã mấy chục năm, nên ông Vương bảo con trai mình về Việt-Nam giả vờ lấy cô gái này làm vợ, bằng cách lập hôn thú với cô ta, để đưa cô ta sang đây, rồi chờ đợi khi nào cô ta chính thức có thẻ thường trú, cộng thêm thời gian cư trú của cô ta ở đây được đủ 2 năm, tới lúc đó con trai ông mới làm giấy ly dị cô, để cho cô ta sẽ không bị trục xuất trả về Việt Nam. Vâng lệnh Cha Mẹ, cậu liền về Việt Nam để lập Hôn Thú với cô gái này.
Sang đến Hoa Kỳ đuợc vài tháng, cô gái này được ông Vương cho phép tạm trú nhà của ông, để có thì giờ chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ ghi danh vào học ngành quản trị tài chánh tại một trường đại học cộng đồng (community college) như đã được dự tính trước đây. Nhờ sống cùng chung một nhà với gia đình Cha mẹ của anh chồng hờ này, nên cô biết được anh đang làm nghề chở nước đá, hàng ngày phải lái xe đi giao nước đá cho một số tiệm chạp phô (Convenience stores) và nhiều lần cô thấy tận mắt, anh phải khuân vác nhiều bịch nước đá nặng, chất đầy lên xe, rồi phải dỡ xuống khỏi xe, đem chất vào tủ đựng đá trong tiệm, và cứ thế lái xe chạy ngược chạy xuôi 10 tiếng mỗi ngày, để bốc hàng và giao hàng, mà tiền lương kiếm được chỉ vừa đủ cho anh tiêu xài hàng tháng. Nhìn thấy rõ cảnh cực nhọc của người chồng hờ này, trái tim cô đã bị rung động, làm cho cô cảm thấy yêu anh hết lòng và trước khi cô định tỏ tình yêu với anh, để chính thức  nhận lãnh bổn phận làm vợ anh, như hai người đã ký giấy hôn thú tại Việt Nam. Cô liền đi đến quyết định, thay vì tiếp tục học lấy bằng quản trị tài chánh, cô chuyển sang học nghề sửa móng tay (nails). Nhờ có năng khiếu thẩm mỹ, với đôi bàn tay khéo léo của cô ta và sự làm việc chăm chỉ 7 ngày một tuần, cô đã có nhiều khách hàng trung thành đến với cô, giúp cô kiếm tiền vào như nước, chưa đầy một năm sau, với số tiền dành dụm của cô, thừa thắng xông lên, cô sang luôn cửa tiệm của chủ cô đang làm. Thế rồi chỉ môt tháng sau ngày làm chủ tiệm, cô tự nguyện nhận lãnh bổn phận làm vợ chánh thức của con trai ông Vương và chồng cô nghiễm nhiên trở thành ông chủ mới của tiệm nail khá lớn của cô, gồm có 10 cộng sự viên làm việc trong tiệm mỗi ngày, dưới quyền điều khiển của chồng cô.
Sau này chúng tôi tình cờ gặp lại người vợ của anh Hanh, trong câu chuyện đầu tiên trên đây, chị ta cho chúng tôi biết là chị đã có một con với anh Hanh, nhưng chị đã ly dị anh vì anh mắc căn bịnh ma men (Alcoholic addition) cộng thêm cái tật mỗi khi mở miệng nói câu nào với ai, thì anh phải sổ một câu chữ nho trước đã. Do đó chị không thể chịu đựng nổi hai căn bịnh trầm kha này của người chồng bất đắc dĩ mà chị phải lấy. Hơn nữa, chị gần như sắp sửa bị điếc cả hai lỗ nhĩ, chỉ vì cứ phải nghe đi nghe lại hoài chồng mình sổ chữ nho mỗi ngày tới mấy chục lần.
Cách đây hơn một năm, chúng tôi gặp lại ông Vương, ông vui vẻ và tỏ thái độ hãnh diện, khoe chúng tôi là vợ chồng con trai ông đã sang thêm một tiệm nail khác, cách tiệm nail cũ không xa là bao. Vợ chồng hai cháu sống rất hạnh phúc, có một tí nhau và vợ đã khuyên chồng đi học lớp buổi tối, mỗi tuần 3 ngày về ngành quản trị xí nghiệp tại một trường Đại Học Cộng Đồng (community college) trong vòng 2 năm, để sau này chúng nó sẽ dự định làm ăn lớn hơn, trên thị trường thương mại, với mục đích sẽ cung ứng đầy đủ những dụng cụ và những sản phẩm của ngành nail, cho những tiệm nails trên toàn quốc. Quả đúng với câu “Nhất nghệ tinh nhất thân vinh” trong một quốc gia được coi là văn minh nhất thế giới, bao gồm sự tự do dân chủ đích thực và chính quyền cũng như người dân đều triệt để tôn trọng pháp luật trên hết tất cả quyền lợi cá nhân cũng như quyền lợi tập thể, trong một Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ này.
Phó Tế Nguyễn Mạnh San
Phụ  Tá Trưởng Phòng Tố Tụng
Tòa Án Liên Bang Hoa Kỳ
Oklahoma City, Oklahoma

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.