Hôm nay,  

Chậm Còn Hơn Không

17/11/200900:00:00(Xem: 6132)

Chậm còn hơn không

Trần Bình Nam
Quan hệ giữa Việt Nam và Trung quốc liên quan đến vùng Biển Đông, một vùng biển giới hạn phiá bắc bởi đảo Hải Nam, phía đông bởi Phi Luật Tân, phía tây bởi Việt Nam, phiá Nam bởi Singapore, Nam Dương, Mã Lai Á và Brunei trong đó có hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa là một vấn đề vẫn còn nhiều câu hỏi. Nhiều câu hỏi được dành cho Việt Nam.
Từ năm 1958 khi Trung quốc chính thức công bố bản đồ vùng Biển Đông (TBN: Trung quốc gọi là biển Nam Trung hoa và thế giới quen hiểu theo tiếng Anh là South China Sea) trong đó Trung quốc khoanh một khoảng lớn có hình như một cái lưỡi bò (TBN: từ đây sẽ gọi là vùng biển hình lưỡi bò) bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và nói thuộc chủ quyền của họ thì Việt Nam đã phản ứng một cách khó hiểu. Mãi đến ngày 10/11/2009 vừa qua chính quyền đảng cộng sản Việt Nam mới có thái độ tương đối rõ ràng và công khai.
Ngày 4/9/1958 Trung quốc ra thông cáo tuyên bố lãnh hải Trung quốc 12 hải lý thay vì 3 hải lý như vẫn được áp dụng (TBN: theo phong trào chung của nhiều nước trên thế giới), và đính kèm thông cáo là bản đồ vùng biển hình lưỡi bò như đã nói ở trên.
Lúc đó Việt Nam còn ở tình trạng chia đôi qua vĩ tuyến 17 bởi Hiệp định Geneva năm 1954. Tại miền Nam tổng thống Ngô Đình Diệm không đếm xỉa gì đến tuyên bố của Trung quốc vì Nam Việt Nam không có quan hệ ngoại giao với Trung quốc, mặt khác vì tính cách đòi chủ quyền một vùng biển của Trung quốc không có tính pháp lý.
Nhưng miền Bắc dưới quyền của chính phủ cộng sản do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo đã đáp ứng công bố về chủ quyền lãnh hải của Trung quốc. Ngày 14/9/1958  thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi công hàm công nhận và hứa tôn trọng tuyên bố lãnh hải mới của Trung quốc. Công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng không đá đông gì đến vùng biển hình lưỡi bò.
Điều này vẫn còn là một nghi vấn không biết ý của ông thủ tướng Phạm Văn Đồng như thế nào. Tuy thế dư luận cho rằng chính quyền miền Bắc qua công hàm 14/9/58 đã bán đứng Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung quốc. Và lẽ dĩ nhiên Trung quốc cũng “giả mù làm mưa” hiểu như vậy.
Tuy nhiên ông Nguyễn Mạnh Cầm nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, nhân buổi họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992 đã nói với Thông tấn xã Việt Nam và được phổ biến ngày 3 tháng 12 năm 1992 rằng: “Các nhà lãnh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa như vậy là do theo hiệp định Genève năm 1954 về vấn đề Đông Dương thì tất cả lãnh thổ từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào Nam là thuộc chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này . (TBN: ý của ông Nguyễn Mạnh Cầm là có thuộc của chúng tôi mà bán hay không bán.)
Thêm vào đó, vào lúc ấy Việt Nam phải tập trung hết mọi lực lượng vào cuộc chiến chống Mỹ nên cần bạn bè khắp nơi. Tình hữu nghị Việt-Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung Quốc là một nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị.
Trong tinh thần đấy thì do tình thế cấp bách, quan điểm của lãnh đạo ta là cần thiết vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc.
Đặc biệt, việc này còn nhắm vào nhu cầu cấp thiết lúc đó là ngăn ngừa đế quốc Mỹ không sử dụng các quần đảo đó để tấn công chúng ta. Việc lãnh đạo ta tạm công nhận như thế với Trung Quốc không có can hệ gì đến chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cả.”
Như vậy về mặt thực tế cũng như pháp lý công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng không thể hiểu là văn kiện Hà Nội công nhận vùng biển hình lưỡi bò là của Trung quốc.
Thực tế là từ năm 1991 sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ, mặc dù quan hệ giữa Việt Nam và Trung quốc rất tốt đẹp và Việt Nam bị lệ thuộc vào Trung quốc về mặt kinh tế cũng như chính trị một cách nặng nề, Việt Nam vẫn luôn khẳng định bằng lời hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Bằng lời là vậy nhưng Hà Nội chưa bao giờ công bố lập trường của mình đối với vùng biển hình lưỡi bò một cách chính thức trước quốc tế bằng văn bản.
Hôm 10/11/2009 nhân Ban Tuyên Giáo Trung ương đảng cộng sản Việt Nam triệu tập “Hội nghị tuyên truyền biển đảo và phân giới cắm mốc” có tính nội bộ do Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Phạm Văn Linh chủ tọa, một bản tin do VietnamNet một cơ sở thông tin “online” của chính quyền Hà Nội phổ biến tiết lộ rằng trong tháng 5/2009 Việt Nam đã gởi văn thư đến Ủy ban Ranh Giới thềm Lục địa Liên hiệp quốc bác bỏ yêu sách vùng biển hình lưỡi bò của Trung quốc.


Văn kiện phản bác của Việt Nam gởi Liên hiệp quốc ngày 8/5/2009 sau khi Việt Nam và Mã Lai Á chính thức gởi hai báo cáo quốc gia, một của Việt Nam (VNM-N) và một viết chung với Mã Lai Á (MYS-VNM) đến Ủy ban Ranh Giới thềm Lục địa Liên hiệp quốc xác định ranh giới thềm lục địa Việt Nam đồng thời khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (TBN: xem tài liệu “Chung quanh vấn đề Việt Nam đăng ký thềm lục địa ngoại biên” số 311 www.tranbinhnam.com) và bị Trung quốc phản đối.
Bản tin VietnamNet viết: “Sau khi Việt Nam nộp Báo cáo thềm lục địa ra Liên hiệp quốc, phái đoàn thường trực của Trung quốc tại Liên hiệp quốc đã gởi các công hàm đến ông Tổng thư ký  Liên hiệp quốc phản đối hai báo cáo trên và yêu cầu Ủy ban Ranh Giới thềm Lục địa Liên hiệp quốc không xem xét báo cáo chung (MYS-VNM) và báo cáo khu vực phía Bắc (VNM-N) của Việt Nam và đồng thời và cũng là lần đầu tiên chính thức khẳng định yêu sách vùng biển hình lưỡi bò trên Biển Đông.
Bản tin VietnamNet viết tiếp: “Phái đoàn Việt Nam tại Liên hiệp quốc đã gởi công hàm phản đối công hàm của phía Trung quốc, khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bác bỏ yêu sách vùng biển hình lưỡi bò, coi đây là yêu sách phi lý, không có cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn”. 
Như vậy, về đảo, qua Báo cáo quốc gia trình Ủy ban Ranh Giới thềm Lục địa Liên hiệp quốc, Việt Nam đã chính thức tuyên bố trước thế giới bằng văn bản rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Và về biển qua văn thư gởi Liên hiệp quốc ngày 8/5/2009 Việt Nam đã bằng văn bản bác bỏ yêu sách vùng biển hình lưỡi bò trên Biển Đông của Trung quốc. Một điểm đáng lưu tâm là trong tháng 5/2009 Việt Nam đã không tiết lộ rằng Việt Nam đã gởi công hàm phản bác sự đòi hỏi chủ quyền Biển Đông của Trung quốc .
Việt Nam hoặc quá nể Trung quốc hoặc quá tế nhị về ngoại giao nên không công khai tiết lộ lập trường của Việt Nam đối với vùng biển hình lưỡi bò, hồi tháng 5/2009 vừa qua. Chờ cho đến ngày 10/11/2009 vừa qua mới công bố .
Trễ 6 tháng! Nhưng trễ còn hơn không.
Chuyến công du Á châu của tổng thống Obama  từ ngày 13 đến ngày 17/11 cho thấy Hoa Kỳ dù bận tay đối phó với các vấn đề cấp thiết khác như chiến tranh Iraq, Afghanistan, vấn đề Iran đang chế tạo vũ khí nguyên tử và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Hoa Kỳ cũng không quên vai trò của mình tại Á châu là cân bằng quyền lực với lực lượng đang lên của Trung quốc.
Khó nói được chuyến đi của tổng thống Obama có ảnh hưởng gì đến thái độ mới của Việt Nam đối với Trung quốc không. Nhưng nếu có cũng không thay đổi được gì tư thế của Việt Nam trong cuộc tranh chấp biển đảo với Trung quốc nếu chính quyền đảng cộng sản Việt Nam chưa phát huy nội lực của toàn dân.
Bài học của tiền nhân là sống cạnh nước lớn, chúng ta phải khiêm nhường và khéo léo để tồn tại. Vua Lê Lợi giết Liễu Thăng giành được độc lập vẫn phải làm một Liễu Thăng bằng vàng để triều cống Trung quốc. Vua Quang Trung sau khi đánh tan 10 vạn quân của Tôn Sĩ Nghị vẫn phải xin Bắc Triều phong vương. Nhưng vua Lê Lợi cũng như vua Quang Trung đều cho người Trung Hoa hiểu rằng nếu Trung quốc còn manh tâm xâm chiếm Việt Nam họ sẽ bị đánh tan. Tiền nhân đã chứng tỏ Việt Nam nhún nhường phận nước nhỏ nhưng không hèn nhát.
Việt Nam hôm nay đứng trước một thử thách lịch sử là lại đứng trước người khổng lồ phương Bắc đang triển khai sức mạnh với tâm lý nước lớn ngàn đời không thay đổi. Và sự đe doạ lần này có vẻ nghiêm trọng hơn bất cứ sự đe doạ nào trong 2000 năm qua.
Nhưng Việt Nam không phải không có lối để tồn tại như một quốc gia độc lập. Ngoài nội lực phong phú của dân tộc, khung cảnh toàn cầu liên đới quyền lợi cũng là một vũ khí của chúng ta.
Biết khai thác thế nhân dân, biết khai dụng thế liên kết thế gìới vì quyền lợi hỗ tương, Việt Nam còn có rất nhiều đường để thoát hiểm.
Nhiều người cho rằng đảng cộng sản Việt Nam đã để cho Trung quốc bắt nạt quá lố và quá trễ để còn có thể phản ứng tự vệ.
Nhưng cứ nên xem bát nước đầy một nửa và … trễ còn hơn không.
Trần Bình Nam
Nov. 16, 2009
[email protected]
www.tranbinhnam.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Các ‘đại gia’ đó đã trở về Việt Nam từ thập niên 1990 khi đất nước bắt đầu mở cửa để đổi mới. Họ đầu tư chủ yếu vào bất động sản và xây dựng quan hệ là hai thứ tài sản có lợi nhất trong thời quá độ. Với túi tiền và kinh nghiệm tham nhũng ở Liên Xô và Đông Âu cũ, họ là những người cơ hội (như ‘carpetbaggers’) đặc trưng của thời kỳ tích tụ tư bản hoang dã.
Chuyện thứ nhì vui, tràn đầy hạnh phúc. Đoàn lính đang diễn hành, sắp tới khán đài. Bổng một anh lính trẻ, tân binh của Trường Võ bị, đưa tay ra hiệu vào nhóm người đừng trên lề đường coi lễ. Một cô đầm, xiêm y tươm tất, vội tiến ra tới gần anh lính. Anh lính liền bước ra khỏi hàng, quì xuống, móc túi lấy ra chiếc nhẫn đính hôn, đeo vào ngón tay áp út của cô đầm. Họ đứng dậy, dĩ nhiên là ôm nhau hôn tuy còn luật ngăn cách vì dịch vũ hán! Cấm hôn!
Theo bản tin đăng trên trang mạng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Ngoại Trưởng Blinken đã tái cam kết sự ủng hộ của Hoa Kỳ với khối ASEAN, xây dựng mối quan hệ chiến lược dựa trên nhân quyền và các quyền tự do phổ quát, sự thịnh vượng kinh tế và dựa theo lợi ích người dân. Ông cũng cam kết là Hoa Kỳ sẽ tiếp tục giúp đỡ các quốc gia trong khu vực chống lại đại dịch Covid-19 qua các chương trình viện trợ của Mỹ.
Khi Tổng thống Mỹ Joe Biden và Tổng thống Nga Vladimir Putin tổ chức hội nghị thượng đỉnh đầu tiên tại Geneva vào tháng trước, vũ khí mạng đóng vai trò lớn hơn trong chương trình nghị sự so với loại vũ khí hạt nhân. Rõ ràng thế giới đã thay đổi kể từ Chiến tranh Lạnh, nhưng Biden đã hoàn thành điều gì, nếu có?
Hoa Kỳ đang rút quân khỏi Afghanistan, dự định sẽ đưa hết binh lính ra khỏi vùng đất này vào cuối tháng Tám, sau 20 năm can thiệp quân sự và giúp xây dựng quốc gia. Quan ngại là quân Taliban chống đối chính phủ đang chiếm đất giành dân tại nhiều nơi và đã kiểm soát được nhiều quận. Hình ảnh sụp đổ của Việt Nam Cộng hoà năm 1975 đang được nhiều giới chức và truyền thông Mỹ nhắc lại và đặt câu hỏi là chuyện gì sẽ xảy ra nếu Taliban chiếm được Thủ đô Kabul.
Như vậy, những ai trong đảng CSVN đang hô hoán rằng “thực hành tập trung dân chủ trong đảng để lan tỏa ra toàn xã hội” là hoang tưởng, mị dân. Hãy lấy bằng chứng vài việc để xem dân đã có dân chủ chưa, như: Quyền tự do Tín ngưỡng và hoạt động Tôn giáo bi kiểm soát; Tự do tư tưởng, ngôn luận và báo chí bị phủ nhận; Người dân không có quyền ra báo.
Điều quan trọng đáng lưu ý là với Rashford và Sancho, hai cầu thủ dự bị vào sân thay người của Anh đã không thành công vì "yếu thần kinh". Ác mộng của người Anh trong loạt sút luân lưu bước sang một chương mới. "Tam sư (Anh Quốc)" thất bại trận chung kết trong "vụ Lotterie (Xổ số) 11 mét và qua đó bỏ lỡ danh hiệu vô địch châu Âu! Thật là cay đắng vô cùng cho đội tuyển Anh !. Ý đọat ngôi Vô Địch Túc Cầu Châu Âu lần thứ hai kể từ năm 1968. Đội tuyển Anh trải qua một "trận chung kết chấn động" trên sân nhà của họ, điều mà đội Southgate sẽ phải chịu đựng trong một thời gian dài.!
Thách thức của Tàu ngày nay đối với thế giới, nhứt là Âu châu và Huê kỳ, không chỉ là ý thức hệ, mà còn là kinh tế và công nghệ cao. Vậy các nước Dân chủ chấp nhận lệ thuộc Tàu vì tiền hay phải liên kết ngăn chận? Ông Tổng thống Joe Biden của Huê kỳ tuyên bố sẽ tổ chức một Diễn Đàn Dân chủ vào cuối năm để chống Tàu bành trướng!
Với tuổi già ở Mỹ với thế hệ thứ ba, ông bà mong muốn cháu nội, cháu ngoại nói được, viết được tiếng Việt là là tiếng mẹ đẻ là niềm vui trong gia đình. Vì vậy nơi nào có nơi dạy tiếng Việt cho con em, phụ huynh như tìm được cái phao để tuổi thơ tìm về cội nguồn. Đối với ông bà, khi các cháu nói “thưa ông, thưa bà, chào ông, chào bà…” nghe rất thân thương và mát lòng.
Gần đây, Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Nga Vladimir Putin đã đồng ý gia hạn hiệu lực của Hiệp ước Hữu nghị Trung Quốc và Nga năm 2001. Đây là một quyết định quan trọng để cho hai nước có cơ sở đến gần nhau hơn trong việc thực hiện các chiến lược hợp tác kinh tế và chính trị. Nhưng trong mối quan hệ đối tác mới này không có nghĩa là cả hai nước không còn các vấn đề tranh chấp.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.