Hôm nay,  

Robert Gates Và Thế Đứng Của Hoa Kỳ

10/09/201000:00:00(Xem: 8993)

Robert Gates Và Thế Đứng Của Hoa Kỳ

Trần Bình Nam
Tháng 8 vừa qua báo chí Hoa Kỳ loan tin ông Robert Gates, bộ trưởng Quốc phòng muốn rời chức vụ bộ trưởng vào năm tới, sau cuộc bầu cử quốc hội cuối năm nay và trước mọi rục rịch chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống năm 2012.
Ông Robert Gates được tổng thống George W. Bush (Bush nhỏ) bổ nhiệm vào chức vụ Bộ trưởng quốc phòng năm 2006. Tổng thống Obama sau khi đắc cử mời ông Robert Gates ở lại chức vụ, và ông đã nhận lời.
Ông Gates nhận lời không phải vì quyền lực. Ông ở lại vì ông muốn giúp tân tổng thống ổn định mặt quốc phòng. Hoa Kỳ đang điều hành hai cuộc chiến Iraq, Afghanistan, và những dấu hiệu căng thẳng tại Á Châu Thái Bình Dương cho thấy Hoa Kỳ cần chuẩn bị tư thế.
Trước các tin đồn, phát ngôn viên của bộ quốc phòng cảnh giác giới truyền thông rằng “trong quá khứ ông Robert Gates đã nhiều lần muốn nghỉ hưu, nhưng lại đổi ý vì nhu cầu quốc gia. Cho nên tốt nhất nên chờ năm tới có gì chính thức bàn cũng không muộn” (theo hãng thông tấn AP, Los Angeles Times  đăng tải ngày 17/8/2010 dưới nhan đề: “Gates says he wants to step down next year”).
Việc ông Robert Gates rời ghế bộ trưởng quốc phòng tạo ra hai câu hỏi quan trọng: 
(1) Ai thay thế ông Robert Gates
(2) Ông Robert Gates sẽ làm gì sau khi rời bộ Quốc phòng.
Câu hỏi thứ hai gợi nhiều ý trên diễn đàn chính trị Hoa Kỳ. Gần đây dư luận báo chí Hoa Kỳ bắt đầu bàn tán ai sẽ là người đại diện đảng Cộng Hòa ra tranh cử tổng thống năm 2012.  Người ta nói đến nhiều nhân vật nhưng dư luận báo chí không hề nhắc đến ông Robert Gates, mặc dù về tầm vóc và kinh nghiệm chính trị ông Robert Gates có đầy đủ. Có lẽ chưa phải là thời điểm do quan hệ đặc biệt “Tổng thống – Bộ trưởng quốc phòng” giữa Obama và Gates. Nhưng sau khi ông rời chức vụ trước sau vấn đề này cũng sẽ là một đề tài thời sự hấp dẫn .
Ông Robert Gates tuyên thệ nhậm chức bộ trưởng Quốc phòng thứ 22 của Hoa Kỳ ngày 18/12/2006, và là người bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ được một vị tân tổng thống mời ở lại chức vụ. Nếu ông nghỉ hưu năm 2011 ông là người công chức liên bang làm việc với 8 đời tổng thống (Nixon, Ford, Carter, Reagan, Bush lớn, Clinton, Bush nhỏ và Obama).
Ông Robert Gates sinh tại bang Kansas, tốt nghiệp đại học William and Mary sau đó lấy bằng Master về Sử học tại đại học Indiana, và bằng tiến sĩ về Liên bang Xô viết và nước Nga tại đại học Georgetown. Là một tiến sĩ  nhưng ông Robert Gates không dùng –và cũng không muốn ai dùng- học hàm tiến sĩ để gọi ông.
Sau khi gia nhập CIA năm 1996 ông được gởi đi huấn luyện như một sĩ quan Không quân. Năm 1967 ông được gắn lon Thiếu úy phi công của Không lực Hoa Kỳ và phục vụ như một sĩ quan tình báo tại căn cứ Không quân Whiteman (bang Missouri). Ông làm việc liên tục trong ngành tình báo cho đến năm 1993.
Chức vụ cuối cùng là giám đốc CIA từ 1991 (do tổng thống Bush lớn bổ nhiệm) cho đến năm 1993 (dưới thời tổng thống Clinton). Trong thời gian này ông phục vụ 9 năm như một thành viên của Hội Đồng An Ninh Quốc gia. Ông là nhân viên tình báo duy nhất trong lịch sử CIA đi từ nhân viên tân tuyển lên đến giám đốc. Trong thời gian từ 1/1989 đến 11/1991 ông phụ tá tổng thống Bush (lớn) về an ninh quốc gia.
Khi nhận chức bộ trưởng Quốc phòng ông Robert Gates là Chủ tịch đại học A&M ở Texas – từ tháng 8/2002 - Trước đó ông là khoa trưởng phân khoa hành chánh  (1999-2001) của đại học này.
 Ông được ban thưởng nhiều huy chương trong đó có huy chương Công dân Danh dự của tổng thống (Presidential Citizens Medal), và 5 lần được ban thưởng huy chương cao nhất về tình báo. Ông là tác giả của cuốn  “From the Shadows: The Ultimate Insiders Story of Five Presidents and How Thay Won the Cold War” xuất bản năm 1996 viết về đề tài “Bằng cách nào Hoa Kỳ để thắng được trận chiến tranh lạnh”  và đã cứu thế giới thoát khỏi một cuộc tàn phá bởi vũ khí nguyên tử.
Ngoài lĩnh vực tình báo ông Robert Gates còn phục vụ trong ngành kinh tế tài chánh, kỹ nghệ, giáo dục, và ngành hướng đạo ở các chức vụ lãnh đạo trong các Hội đồng Quản trị.
Là người có kinh nghiệm tình báo và an ninh thế giới ông Robert Gates luôn luôn quan tâm đến vị thế chiến lược của Hoa Kỳ, và nơi ông quan tâm nhất là Đông Á – Thái Bình Dương. Vào lúc tổng thống Obama đang bận tâm với tình trạng kinh tế và các vấn đề nội bộ khẩn cấp như bảo hiểm sức khỏe, di dân, giáo dục và bà bộ trưởng ngoại giao Hillary Clinton còn thiếu kinh nghiệm, ông Robert Gates đã là bộ óc giúp cho chính quyền Obama giữ vững chiến lược thế giới.
Ông Robert Gates quan tâm đặc biệt đến vùng Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông mà ông nghĩ sẽ là nơi Trung quốc thử thách ý chí của Hoa Kỳ trong cuộc so kiếm tương lai.
Hằng năm đi Singapore dự hội nghị Shangri-La (1) ông Robert Gates không quên nhắc nhỡ cộng đồng quốc tế nhớ đến Biển Đông và thái độ của Trung quốc trong vùng .
Tại hội nghị Shangri-La lần thứ bảy vào tháng 9 năm 2009 khi nói về quan hệ quốc phòng ông nói ông nghĩ Trung quốc không tìm cách một chọi một với Hoa Kỳ như tàu chiến với tàu chiến, máy bay chiến đấu với may bay chiến đấu mà Trung quốc sẽ dùng một chiến lược làm giảm tiền năng chiến đấu của quân lực Hoa Kỳ như:
- hạn chế lưu thông bằng cách chẹt các đường giao thông trên biển


- hạn chế sự lựa chọn chiến lược bằng cách phá sóng liên lạc (2).
Ông từng nói tại Shangri-La Dialogue rằng sự đấu trí trong tương lai với Trung quốc là ở những vụ chạm trán tầm xa trên biển, trên bầu trời và nhất là trong lĩnh điện toán quân sự (cyberspace).
Trong khi ông Obama học việc, ông Robert Gates đã là người canh giữ an ninh quốc gia trong cái thế gỡ dần Hoa Kỳ ra khỏi những vướng víu do chính sách quá hữu của nhóm tân bảo thủ (Bush, Cheney, Rumsfeld, Wolfowitz …) đồng thời thích ứng với quan niệm chiến lược của tổng thống Obama là Trung quốc có thể thành siêu cường bên cạnh Hoa kỳ trong hòa bình, một quan niệm nếu áp dụng không điều chỉnh có thể làm cho Hoa Kỳ trở nên yếu kém trên thế giới.
Chính nhờ sự cảnh giác của ông Robert Gates Hoa Kỳ đã không để hở lưng tại Đông Á và tây Thái Bình Dương. Khi Trung quốc đi nước cờ dọa “Biển Đông là vùng có quyền  lợi thiết yếu” (core interest) của Trung quốc, Hoa Kỳ đã có đối sách ngay, và bà Bộ trưởng ngoại giao Hillary Clinton đã có thể công bố chính sách mới của Hoa Kỳ tại Đông Á. Nhờ Robert Gates, Hoa Kỳ có một cú đánh ngọan mục, phối hợp nhẹ nhàng  giữa ngoại giao và quân sự làm cho Trung quốc chới với.
Nhưng chuyện ông Robert Gates có ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ (hay đảng Cộng Hòa có ủng hộ ông) không là chuyện tương lai.
Trước mắt là vào đầu năm tới nếu ông Robert Gates rời chức vụ bộ trưởng quốc phòng ai sẽ thay ông" Hiến Pháp quy định tổng thống đề cử, Thượng Viện phê chuẩn thật là đơn giản.
Nhưng vụ bổ nhiêm này sẽ không đơn giản cho tổng thống Obama. Dù tổng thống Obama chọn ai sự phê chuẩn cũng sẽ là một cuộc đấu tranh gay go tại Thượng Viện. Sau sự thay đổi chính sách Đông Á –tây Thái Bình Dương, ngoài điểm nóng tại đó, Hoa Kỳ sẽ phải ở tư thế đối đầu với Trung quốc trên nhiều mặt mặt trận tại Nam Mỹ, Phi Châu, Ấn Độ Dương và trong cả nhiều lĩnh vực liên quan đến kinh tế, tài chánh.
Công tác chính là ngoại giao nhưng ở bất cứ địa bàn nào việc sẵn sàng lực lượng quân sự vẫn là điều cần thiết và ông bộ trưởng quốc phòng tương lai cần đủ bản lãnh để làm công việc này.
 Tổng thống Obama đã mời ông Robert Gates ở lại vì nhu cầu. Nhưng lần này tổng thống Obama theo phản ứng tự nhiên nếu không muốn nói dưới áp lực của nội bộ đảng Dân Chủ, ông sẽ phải bổ nhiệm một đảng viên dân chủ có đủ khả năng.
Việc bổ nhiệm này và cuộc thảo luận phê chuẩn tại Thượng Viện Hoa Kỳ sẽ là thước đo thế đứng của Hoa Kỳ trên thế giới đặc biệt là sân khấu Đông Á -  Thái Bình Dương, nơi Hoa Kỳ vừa cho thế giới và Trung quốc biết đã đến lúc Hoa Kỳ hành động để bảo vệ tư thế siêu cường của mình . Nó cũng là thước đo sự mạnh yếu của chính quyền Obama trước nhiệm vụ mới. Và thước đo này sẽ ảnh hưởng đến tư thế lãnh đạo của tổng thống Obama.
Nếu đảng Dân Chủ mất quá nhiều ghế tại cả hai viện quốc hội trong cuộc bầu cứ tháng 11/2010 sắp tới. Nếu vào giữa năm 2011 cuộc khủng hoảng kinh tế vẫn chưa vực lại được, lương thất nghiệp cạn và chỉ số thất nghiệp vẫn còn cao. Nếu Hoa Kỳ tỏ ra lúng túng trước những cuộc phá bĩnh (chắc sẽ có) của Trung quốc ít nhất trên mặt trận kinh tế tài chánh, và thiếu cứng rắn tại vùng tây Thái bình Dương thì ngay tư thế lãnh đạo một nhiệm kỳ nữa của tổng thống Obama cũng sẽ được đặt thành vấn đề. Và sự việc một đảng viên dân chủ ra tranh với tổng thống Obama để giành sự đề cử của đảng không phải là điều không thể xẩy ra  (3).
Nếu người Mỹ cần một tổng thống da đen để tạm vực nước Mỹ ra khỏi khó khăn do sai lầm chính sách chiến tranh và suy sụp kinh tế, họ sẽ thấy cần một vị tổng thống khác hơn là tổng thống Obama khi bước vào giao đoạn tranh chấp nóng với Trung quốc để bảo vệ vị thế siêu cường. Không ai tin tổng thống Obama có thể làm được công việc có tính đối đầu này .
Năm 2011 sẽ là năm bản lề của tình hình chính trị Hoa Kỳ. Nếu ông Robert Gates rời chức vụ, việc chọn người thay thế ông sẽ là một sự việc then chốt trong thời điểm bản lề này. Vai trò lịch sử của Robert Gates chưa thể chấm dứt ở  đây.
Hình như đâu đó có sự tiên báo rằng đất nước Hoa Kỳ và thế giới đang cần ông.
Trần Bình Nam
Sept. 9, 2010
[email protected]
www.tranbinhnam.com
(1)  Hội nghị Tổng trưởng quốc phòng của 27 nước Australia, Brunei, Burma, Cambodia, Canada, France, Germany, India, Indonesia, Japan, Laos, Malaysia, Mongolia, New Zealand, Pakistan, People's Republic of China, Philippines, Russia, South Korea, Sri Lanka, Singapore, Thailand, East Timor, United Kingdom, United States và Vietnam. họp hằng năm tại khách sạn Shangri-La ở Singapore bắt đầu từ năm 2002 do sáng kiến và tổ chức sắp xếp bởi Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế (International Institute for Strategic Studies). Do đó hội nghị này có tên là Hội nghị Shangri-La (Shangri-La dialogue)
(2) Áp dụng nguyên tắc thứ ba “Dùng mưu thắng địch” trong 13 nguyên tắc “Nghệ thuật chiến tranh” của Tôn Tử trong đó có nguyên tắc: thắng một trận giặc mà không cần chiến trường.
(3) Việc này ít xẩy ra. Lần cuối cùng xẩy ra năm 1980 khi Thượng nghị sĩ Edward  Kennedy ra tranh với tổng thống Jimmy Carter. Edward  Kennedy không giành được sự đề cử của đảng. Nhưng sau đó tổng thống Carter thua ông Ronald Reagan (Cộng Hòa) và trở thành tổng thống một nhiệm kỳ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.