Hôm nay,  

Món Quà Ngoại Giao

1/26/200800:00:00(View: 11602)

(thế hệ 1.5)

Bản thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Việt Nam ký vào hôm 23 tháng Giêng, 2008 ở Hà Nội, để tiến hành trục xuất 8 ngàn Việt kiều (thường trú nhân hợp pháp) trong 2 tháng tới và kéo dài 5 năm, nặng tính ngoại giao và màu sắc chính trị hơn là mang lại những lợi ích đích thực trước tình trạng bất lực và khủng hoảng của cơ quan Di Trú - bằng sự tốn kém chính trị của người Việt ở Hoa Kỳ và sự chia lìa của nhiều gia đình Việt Nam, mà lẽ ra họ có thể ở lại.

Thỏa thuận hôm 23 tháng Giêng là một món quà ngoại giao đậm màu sắc chính trị giữa hai nước.  Trước tiên, nó đánh dấu quan hệ Việt-Mỹ đang bước qua một trang sử mới.  Thỏa thuận được ký vào ngày kỷ niệm 35 năm Hiệp Ước Paris (23/01/1973).  Về phía Việt Nam, nó là món quà ngoại giao của Tân Đại Sứ Việt Nam, Lê Công Phụng, để biếu cho TT Bush trước khi trình nhiệm thư; đồng thời khỏa lấp những khó chịu ngoại giao về sự cố, Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, John Negroponte bị từ chối đón tiếp vì " thời tiết chính trị xấu" vào hôm 18-20.  Việt Nam cũng muốn dùng bản thỏa thuận để chứng tỏ thiện chí của mình với Hoa Kỳ về vai trò mới ở HDDBA Liên Hợp Quốc- Phó Chủ Tịch Ủy Ban Chống Khủng Bố. 

Đối với Hoa Kỳ, đây là món quà ngoại giao mang nhiều ý nghĩa chính trị khác nhau trong hoàn cảnh đặc biệt.  Thứ nhất:  Đánh dấu một thành tựu nhỏ đáng kể về nổ lực của Hoa Kỳ, sau 20 năm (1988-2008), để xây dựng miền tin ở chính phủ Hà Nội (mất nhiều thời gian bởi vì Hà Nội sợ vấp phải kinh nghiệm tương tự của Miền Nam Việt Nam vào giai đoạn 1969-1973).  Năm 1988, Việt Nam muốn cải thiện quan hệ với Tây Phương, đặc biệt với Hoa Kỳ và khối ASEAN để cứu nguy nền kinh tế Việt Nam (sau khi Đông Âu sụp đổ 1989 và Nga Sô 1991), và tránh Thiên An Môn xảy ra ở Việt Nam.  Việt Nam rút quân ra khỏi Campuchia vào năm 1989, và đồng ý nối lại vòng đàm phán ngoại giao với Hoa Kỳ về tù nhân chính trị sau khi bị gián đoạn dưới thời Jimmy Carter 1976-77; đổi lại, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Cộng và khối ASEAN đồng ý cải thiện quan hệ với Việt Nam và giúp viện trợ kinh tế; đặc biệt Hoa Kỳ muốn xây dựng giềng mối lâu dài với Hà Nội, cho nên đã cố gắng tạo miền tin ở Việt Nam, bằng cách chấm dứt mọi hoạt động tài trợ (tài chánh và kỹ thuật) cho các tổ chức chống đối Việt Nam ở biên giới Thái Lan, Lào và Campuchia.

Thứ hai: Nội các TT Bush có thể dùng bản thỏa thuận như một đề tài để ăn nói với báo chí trước những lời chỉ trích của dân chúng Hoa Kỳ, các cơ quan công lực ở tiểu bang và địa phương, và Quốc Hội về tình trạng bất lực của cơ quan Di Trú trước làn sóng nhập cư lậu; Cuối cùng, bản thỏa thuận này dùng để thuyết phục Quốc Hội Hoa Kỳ có cái nhìn thay đổi về một Việt Nam mới (New Vietnam)- khi nhiều thành viên của Quốc Hội đang nghi ngờ thiện chí và thái độ của Việt Nam trong quan hệ với Hoa Kỳ: vì Đô La chứ không mặn mà gì với các giá trị của Hoa Kỳ: dân chủ, cởi mở và nhân đạo.  Do đó, cả Việt Nam và Hoa Kỳ lấy mốc thời gian 12/7/1995 (ngày bình thường hóa quan hệ) để áp dụng chính sách trục xuất với những người Việt nhập cư hợp pháp vào Hoa Kỳ vào ngày này hoặc sau đó, nhằm mục đích để hợp thức hoá và công nhận hiện tình và thể chế chính trị Việt Nam trước chính giới Hoa Kỳ.  Nôm na, bản thỏa thuận muốn nhấn mạnh đã có nhiều tiến bộ và cởi mở ở Việt Nam. Không có vấn đề bị bạc đãi. Những người Việt đến Hoa Kỳ sau ngày 12/7/1995 thuần túy là vì lý do kinh tế.  Nhưng không đả động đến Tu Chánh Án McCain (1997 đến Tháng 9, năm 2007), đã tạo điều kiện cho nhiều gia đình cựu tù nhân chính trị và con cái trên 21 tái định cư ở Hoa Kỳ sau ngày bình thường hóa.     

Hoa Kỳ là xã hội thượng tôn pháp luật. Không ai có thể trên luật pháp.  Với những trường hợp nằm trong diện bị trục xuất, vì coi thường pháp luật hay cố ý vi phạm thì không có gì để bàn cãi.  Điều đáng đề cập ở đây, nhiều trong số 8,000 người nằm trong danh sách trục xuất, sai lầm của họ có thể giải quyết bằng con đường pháp lý và có thể ở lại Hoa Kỳ.  Thêm vào đó, luật pháp Hoa Kỳ dựa vào ba yếu tố chính để hành xử: hiến pháp (Constitution), bộ luật (Code), và trường hợp (case by case basic).  Do đó, không thể so sánh và quy nạp những thường trú nhân Việt như những người di dân lậu như báo chí ở Mỹ đưa tin - Lại càng không thể so sánh với các quốc gia khác bởi vì hiến pháp Việt Nam chưa sẵn lòng chấp nhận những khác biệt về chính trị và vẫn còn coi những cựu tù nhân chính trị như những tù phạm (treat as criminal); thì thử hỏi những người bị trục xuất với nhãn hiệu, “Tội Phạm thật " có thể tìm được An toàn và Nhân đạo khi bị gởi trả lại Việt Nam hay không!"  Nếu nhìn vào góc độ công bằng và đạo đức của chính sách công, thì những người này đã phải trả giá quá đắt cho chung một lỗi lầm: 3 lần (Triple Jeopardy)- (1) ở tù; (2) bị câu lưu bởi Di Trú; và (3) đối diện một nguy cơ bị bạc đãi khi bị gửi trả lại Việt nam. 

Bản thỏa thuận đáng là một tin báo động cho những ai quan tâm đến đời sống luật pháp ở Hoa Kỳ.  Nhiều trong số 8,000 người bị trục xuất, họ đã không nhận được sự đối xử bình đẳng của hệ thống luật pháp Hoa Kỳ chẳng hạn như Due Process, Double Jeopardy, và Tu Chánh Án thứ 5, bởi vì họ không phải là công dân Hoa Kỳ; đặc biệt ở những toà thấp, thường áp dụng legal sub-standards- chưa nói đến những định kiến luật pháp (legal bias) bởi vì màu da và trở ngại ngôn ngữ.  Vì vậy, tỷ lệ bị kết án thường rất cao-.  Nếu so sánh con số 8 ngàn ( legal immigrants) với 12 đến 20 triệu cư dân lậu (illegal immigrants), thì chẳng giúp ích gì bao nhiêu trước tình trạng bế tắc nhập cư hiện thời.  Thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và các quốc gia trên thế giới liên quan vấn đề trục xuất thì không phải là đề tài mới mẻ. 

Sứ mệnh quan trọng của cơ quan Di Trú Hoa Kỳ bây giờ là phải đi săn lùng và bắt giam những thành phần di dân lậu; xây dựng hàng loạt hàng rào điện cao thế (120 ngàn Volt) và tăng cường ngân sách và nhân viên tuần tra các đường biên giới để ngăn chặn làn sóng di cư lậu không rõ nguồn gốc (lương thiện, tội phạm có tổ chức, khủng bố, và nhiều thành phần nguy hiểm khác) mà có thể gây phương hại đến an ninh-sự sống-kinh tế của người dân Hoa Kỳ, mà trong đó có hơn 1.2 triệu người Việt (bao gồm công dân và  ngoại kiều gốc Việt) đang đóng góp vào sự thịnh vượng của kinh tế Hoa Kỳ (hơn 40 tỷ đô la mỗi năm).   Mặt khác, thỏa thuận này trộn lẫn quá nhiều động lực chính trị vào tiến trình làm chính sách và thực thi chính sách ở Hoa Kỳ mà hậu quả, nó sẽ làm lệch lạc những dụng ý nguyên thủy (original intents) của Quốc Hội Hoa Kỳ khi soạn thảo luật; Bên cạnh đó, nó sẽ gởi một thông điệp sai lệch về vai trò chính phủ Hoa Kỳ- đến hàng tỷ người trên thế giới- luôn coi chính phủ Hoa Kỳ là biểu tượng của:"Preserve, Protect and Defend" trong nổ lực bảo vệ quyền lợi của thường dân Hoa Kỳ.  Riêng đối với 30 phần trăm của 1.2 triệu người Việt, chưa có quốc tịch Hoa Kỳ hiện cư ngụ ở Hoa Kỳ, có thể tự giúp mình bằng cách nhập tịch, thượng tôn pháp luật (abiding law); nếu không may gặp rắc rối với luật pháp như bị giam giữ và buộc tội, thì phải xử dụng quyền giữ im lặng (right to remain silent) cho đến khi có luật sư đại diện; và thông báo cho luật sư đại diện biết về tình trạng nhập cư của mình để tránh những hậu quả không lường và đắt đỏ.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.