Hôm nay,  

Chế Độ Buôn Người

27/11/200700:00:00(Xem: 10705)

...Việt Nam ngày nay có đủ khía cạnh đa diện của nạn buôn người...

Năm 2007 sắp kết thúc đánh dấu 200 năm của một biến cố đáng chú ý, là đạo luật bãi bỏ chế độ buôn bán nô lệ của nước Anh. Vậy mà hai thế kỷ sau, kỹ nghệ buôn người vẫn đứng hàng thứ ba thế giới, sau buôn lậu ma túy và võ khí. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu vấn đề này trong cuộc trao đổi sau đây của Việt Long với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa.

Hỏi: Thưa ông, năm 1807, Quốc hội Anh đã ban hành đạo luật cấm buôn bán nô lệ gọi là "Slave Trade Act". Hai trăm năm sau, việc buôn người vẫn là một lối làm ăn phát đạt, dù bất chính, vì chỉ thua kỹ nghệ buôn lậu ma túy và võ khí mà thôi. Do đó, chúng tôi xin đề nghị là trong chương trình tuần này, chúng ta sẽ đề cập tới khía cạnh kinh tế của hiện tượng ấy,  vì nạn buôn người cũng có ảnh huởng đáng kể đến Việt Nam.

Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi, thưa ông, liệu người ta có tìm ra những định luật kinh tế giải thích hiện tượng đó hay không"

Thưa ông, khi William Wilberforce, một người sùng đạo và có từ tâm của Đế quốc Anh đề xướng việc chấm dứt nạn buôn người nô lệ và vận động ra đạo luật Slave Trade Act mà ông nhắc tới, những thuyền trưởng bất lương bị bắt quả tang đang buôn người nô lệ trên Đại tây dương đã phi tang để tránh tội bằng cách quăng dân nô lệ xuống nước. Mãi cho tới năm 1833, tức là 26 năm sau, Đế quốc Anh mới có đạo luật bãi bỏ chế độ nô lệ, gọi là Slavery Abolition Act. Một tư tưởng lớn như vậy mà mất nhiều thập niên mới có kết quả, cho nên chúng ta không quá lạc quan về tính ác và máu tham của loài người.

Liên quan đến Việt Nam, khi Đế quốc Anh thấy ra điều sai trái của nạn buôn người và chế độ nô lệ thì cũng là lúc Nguyễn Du của chúng ta viết Truyện Kiều, trong đó, mấu chốt của câu chuyện vẫn là một vụ buôn người, một thiếu nữ 15 tuổi bị bán vào một ổ điếm! Ta vẫn biết rằng cốt truyện lấy từ một tác phẩm văn học tầm thường của Trung Hoa, và rằng mình không phê phán đời xưa với quy phạm luân lý xã hội của đời nay, nhưng trong hai trăm năm qua, dân ta đã thương xót hay phê phán nàng Kiều mà ít thấy ra hay nói ra sự tồi tệ của hệ thống luật pháp và tâm lý con người đã dung túng chế độ buôn người. Hậu quả là ngày nay, Việt Nam vẫn là quốc gia nổi tiếng với nạn buôn người.

Câu trả lời của tôi vì vậy là trước khi quy luật kinh tế có thể giải thích hiện tượng đó, thì mình cần nhìn ra phản ứng văn hoá tiềm ẩn bên dưới những quyết định kinh tế.

Hỏi:  Xin lỗi, nhưng tôi e rằng sự ví von của ông có phần nào kém chính xác.  Ví dụ như truyện Kiều liên hệ gì tới chế độ buôn người, tới quy luật kinh tế hay những tệ nạn xã hội ngày nay tại Việt Nam"

Từ 200 năm nay, tác phẩm văn chương trác tuyệt này được dân ta truyền đọc và ca tụng, mà ít ai thấy sự thối nát của một xã hội có "hai kinh vững vàng" thời Minh Gia Tĩnh. Ít ai nói tới nạn tham nhũng, xiết nợ, vu cáo người lành khiến một gia đình lương thiện phải bán con gái đi làm điếm. Sau này, gia đình ấy còn kết thông gia với tay cò tham nhũng là Chung công, ông bố vợ của cậu Vương quan! Giờ đây, nhiều gia đình cũng phải bán con, nhiều thiếu nữ phải bán mình làm tì thiếp cho người nước ngoài, coi đó là một thứ tai trời ách nước, mà cả xã hội không thấy rằng thế giới đã đổi thay và những điều ấy là phi pháp.

Cái nếp văn hoá an phận và khinh miệt phụ nữ ấy mới giải thích các động lực kinh tế ghê tởm bên dưới. Nhưng, tôi e rằng chúng ta lạc đề mất!

Hỏi: Thưa đúng thế, vậy để trở lại nạn buôn người ngày nay, trước khi tìm hiểu xem vấn đề nó nằm ở đâu, ông cho rằng ở Việt Nam thì những biểu hiện gì là đáng chú ý"

Trừ có nạn bắt trẻ em đi làm du kích đã chấm dứt, thì Việt Nam ngày nay có đủ khía cạnh đa diện của nạn buôn người.  Phổ thông nhất là hiện tượng cưỡng bách trẻ vị thành niên, cả trai lẫn gái đi vào kỹ nghệ tình dục, bán dâm. Khi xã hội mở cửa và bước vào toàn cầu hóa thì kỹ nghệ bán dâm và ép người bán dâm cũng đã được quốc tế hoá.  Việt Nam xuất khẩu nhiều loại lao động cưỡng bách đó, dưới dạng cô dâu hay là con nuôi. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã nhập vào dòng khai thác lao động bất chính qua việc lường gạt, xiết nợ và thậm chí bạo động để ép người khác làm những loại việc họ không muốn.

Hỏi: Xin lỗi phải ngắt lời ông, nhưng tôi e rằng sự khẳng định như vừa rồi mới là có tính cách cưỡng ép. Lấy cơ sở nào để xác định như vậy" Tôi thấy là không thể nói rằng vịêc Việt Nam cho kết hôn và cho nhận con nuôi là để phụ nữ và trẻ em đi mãi dâm! Ông chứng minh được điều đó hay không"  

Trong phúc trình năm nay của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình buôn người trên thế giới, Việt Nam được đánh giá là một quốc gia vừa là xuất xứ vừa là điểm tụ của nạn buôn người, cả nam, nữ lẫn trẻ em cho hai mục tiêu là mại dâm và cưỡng bách lao động. Phụ nữ và con gái Việt Nam bị buôn qua Cambốt, Trung Quốc, Thái Lan, Hong Kong, Macao, Malaysia, Đài Loan và qua cả Anh quốc lẫn Cộng hoà Tiệp. Bọn buôn người đã ngụy trang nạn nhân thành du khách hay dân lao động trong khuôn khổ xuất cảng lao công để đưa họ qua Hong Kong, Đài Loan hay Malaysia. Thậm chí họ còn tuyển mộ phụ nữ qua các công ty tìm việc và bán nạn nhân cho các băng đảng tội ác tại Trung Quốc hay Malaysia, thậm chí còn dùng các chat room trên Internet để khuyến dụ nạn nhân.

Cũng qua phúc trình của bộ Ngoại giao đã đệ nạp Quốc hội Mỹ hồi tháng Bảy vừa rồi, người ta được biết là nhiều phụ nữ Việt Nam được mai mối qua hôn nhân với người nước ngoài thực tế đã bị buôn hoặc bị khai thác. Trong năm ngoái, toà án Việt Nam đã xét xử 700 trường hợp buôn người, liên hệ tới 1.700 nạn nhân trong đó có 200 thiếu nhi. Những trường hợp như vậy chỉ là mặt nổi đã được công khai hoá mà thôi.

Hỏi: Thế cho đến nay, Việt Nam đã làm những gì để ngăn ngừa tình trạng ấy"

Thế giới đã báo động và vận động hợp tác giữa các nước để ngăn ngừa tệ nạn ấy và vì vậy, Việt Nam cũng có cố gắng cải sửa, nhưng vẫn chưa phê chuẩn Nghị định thư của Liên hiệp quốc năm 2000 về nạn buôn người, và Đạo luật về Xuất khẩu Lao động của Việt Nam ban hành cuối năm ngoái cho đến nay vẫn chưa đi vào áp dụng. Theo danh mục của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trong báo cáo thường niên về nạn buôn người thì Việt Nam được xếp loại hai, các quốc gia chưa chấp hành những tiêu chuẩn tối thiểu để bảo vệ nạn nhân hiện tượng buôn người.

Dĩ nhiên, Việt Nam không là duy nhất hay tệ nhất so với nhiều xứ khác. Nhưng nói chung thì dư luận vẫn chưa để ý đến hiện tượng đau lòng này, ngoài một vài tuyên bố của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hay của Hội Liên hiệp Phụ nữ.

Hỏi: Trước khi nói đến các khía cạnh văn hoá rồi kinh tế, xin hỏi ông là thế giới đã chú ý tới vấn đề này như thế nào - trước hết là về mặt pháp chế"

Từ gần 10 năm nay, thế giới đặc biệt quan tâm đến nạn buôn người. Nói đến nạn buôn người, thế giới tố giác một chuỗi hoạt động, từ tuyển mộ hay chiêu dụ tới vận chuyển, chứa chấp, chuyển giao, tiếp nhận và phân phối những người bị đẩy vào thị trường phi pháp và bất chính như khai thác tình dục, bóc lột sức lao động.

Ta nên phân biệt nạn buôn người, có khác với nạn chuyển người nhập lậu, thí dụ như di dân bất hợp pháp. Di dân nhập lậu trả tiền cho bọn bất lương giúp mình vượt biên và tới nơi là được hạ phóng để sống trà trộn trong cộng đồng di dân. Nạn buôn người lại tệ hơn vậy vì từ xuất xứ tới nơi tiếp nhận và làm việc, người bị buôn như nô lệ hoàn toàn nằm dưới sự khai thác của hệ thống bất lương, kể cả làm đầy tớ hay làm điếm.

Tổ chức Lao động Quốc tế ILO của Liên hiệp quốc cho biết thế giới đang có hơn 12 triệu người, kể cả thiếu nhi, bị cưỡng bách lao động, lao động để trả nợ, hoặc bị khai thác trong kỹ nghệ bán dâm. Nhiều tổ chức khác ước lượng là con số nạn nhân có thể lên tới 27 triệu người, lớn nhỏ, trai gái. Vì hiện tượng phổ biến đó, Liên hiệp quốc và nhiều quốc gia hay các cơ quan ngoài chính phủ đã vận động sự hợp tác quốc tế để bài trừ, chủ yếu là tại ba khâu chính là quốc gia xuất phát, quốc gia tiếp nhận và các tổ chức tội ác.

Hỏi: Vì sao mà vào đầu thế kỷ 21 này, thế giới vẫn còn hiện tượng bất thường đó"

Thưa ông, người ta có thể kể ra hàng chục lý do. Trước hết, hiện tượng toàn cầu hoá và thông tin lẫn việc chuyển vận dễ dàng hơn khiến người ta thấy ra nhiều cơ hội cải tiến cuộc sống ở nơi khác, và ưa đứng núi này trông núi nọ, tưởng rằng bên kia sông là ánh mặt trời nên dễ bị dụ dỗ lường gạt. Thứ hai, chênh lệch về mức sống hay tự do hoặc chế độ phân biệt đối xử của xã hội cũng khiến nhiều người muốn thoát ly và bị sa vào bẫy.

Thứ ba, chiến tranh và bất ổn xã hội khiến nhiều người bị xiêu tán và cố tìm một cuộc sống khá hơn ở nơi khác nên dễ thành nạn nhân của mạng lưới buôn người. Ngoài chiến tranh và sự sụp đổ của khối Xô viết hay nội chiến tại Nam Tư, một số biến cố cũng có thể khiến con người bị đánh bật gốc và rơi vào tình trạng bị buôn như nô lệ là nhiều dự án kinh tế đã giãn dân trên một quy mô lớn mà không có kế hoạch tái định cư.

Theo một phúc trình của Hoa Kỳ, hàng năm có chừng 80 vạn người bị buôn qua biên giới, 80% là phụ nữ, 50% là trẻ vị thành niên. Đa số nạn nhân là từ các nước Cộng sản cũ và các nước Á châu nghèo, bị buôn đi phục vụ các nước giàu có hơn.

Hỏi: Đó là những chuyển động lớn về kinh tế hay chính trị, ngoài ra ông còn thấy những lý do nào khác chăng"

Ngần ấy lý do đều không thể dẫn tới một làn sóng buôn người rất lớn như hiện nay nếu thiếu ba yếu tố quan trọng, là nạn tham ô trong chính quyền, sự hoành hành của tổ chức bất lương và thái độ thụ động của xã hội, kể cả luật pháp. Nguyên do chính là con người ta, từ chính quyền tới báo chí và các tổ chức thiện nguyện, thường coi phụ nữ bán dâm là có tội hơn là những kẻ bất lương đã đẩy họ vào chốn đó. Trong một chế độ mà công an có nhiều quyền hành như tại Việt Nam thì làm sao tội ác lại xảy ra trên một quy mô lớn như vậy nếu không có sự đồng lõa của công an và cán bộ" Dư luận lại quên mất điều này.

Như khi thấy phụ nữ Việt Nam bị bán qua Đài Loan hay Đại Hàn làm nô lệ tình dục hay lao nô, xã hội thường nghĩ ngay là vì họ tham tiền mà quên hẳn tội ác của bọn bất lương và cán bộ hữu trách. Theo cuộc khảo sát của bộ Ngoại giao Mỹ, tới 80% nạn nhân là những người muốn thoát khỏi nghề bán dâm mà không nổi. Đây là lý do vì sao ta nói tới khía cạnh văn hoá qua cách đọc Truyện Kiều khi nhiều người dửng dưng với thằng bán tơ, kẻ lại già và các nhân vật như Tú Bà, Bạc Hạnh, Bạc Bà và lại nặng lời phê phán nạn nhân là Thúy Kiều! Một người nổi tiếng nghiêm khắc ở lời phê phán nàng Kiều là cụ Nguyễn Công Trứ, một khách chơi rất hào hoa trong chốn ca lâu đó. Nếp văn hoá ấy mới giải thích những quy luật kinh tế bên dưới.

Hỏi: Nếu đã vậy, xin ông nói luôn về những quy luật kinh tế này trong hiện tượng buôn người.

Tôi thiển nghĩ là có ba quy luật khả dĩ giải thích được tình trạng đó.

Thứ nhất là quy luật tạm gọi là "ảnh hưởng của ngoại cảnh”, nôm na là những xáo trộn trong môi trường sinh sống ở chung quanh khiến mức sống và nhân phẩm bị phá giá và nhiều gia đình bị đẩy vào chỗ phải có những chọn lựa đau lòng. Khi quá nhiều người phải bán vợ bán con thì những người chung quanh hết thấy rằng việc đó là xấu nữa. Lợi ích kinh tế xoay chuyển ngược chiều với tiêu chuẩn về đạo lý xã hội vì ngoại cảnh. Và  đây là một trách nhiệm lớn của chính quyền trong địa hạt quản lý kinh tế vĩ mô. Sau một trận lũ lụt chẳng hạn, hãy kiểm tra xem nạn bán dâm và buôn người có thể gia tăng ra sao.

Thứ hai là quy luật thông tin bất cân đối. Chúng ta đều biết rằng người bán ít lầm, người mua mới lầm. Người mua ở đây là những người cùng khốn muốn thoát khỏi nghịch cảnh và đành chấp nhận rủi ro và bị bắt bí. Sở dĩ họ bị bắt bí là vì ở vào thế yếu và không có thông tin rõ ràng về quyền hạn của mình, trước tiên là về nhân quyền, một vấn đề nhạy cảm tại Việt Nam. Thứ nữa là những kẻ bán dịch vụ lao động theo kiểu bất lương đó lại biết rõ mục tiêu, môi trường và đối tác ở nước ngoài nên có lợi thế lường gạt người mua.

Việt Nam đang bán sức lao động tới các nước xa xôi như Thái Lan, Đài Loan, Malaysia, Saudi Arabia và nhiều xứ Trung Đông khác, nhưng Luật Xuất khẩu Lao động chưa áp dụng và chính sách kiểm soát lỏng lẻo càng đào sâu chênh lệch về loại thông tin của thị trường quái gở này, và tạo cơ hội cho bọn bất lương tung hoành.

Hỏi: Hai quy luật ấy nghe thấy cũng lạ. Thế còn quy luật thứ ba nữa là gì"

Thứ ba là một quy luật khá phổ biến từ kinh nghiệm của ngành bảo hiểm ra, đó là nạn ỷ thế làm liều, mà thuật ngữ kinh tế gọi là "moral hazard". Đó là những kẻ nghĩ mình có gốc lớn hay quan hệ tốt với chính quyền hay cán bộ nhà nước khả dĩ kinh doanh có lời và không bị rủi ro trong những ngành nghề họ biết là bất chính. Thí dụ như trong một đường dây buôn người có sự đỡ đầu của một quan chức cao cấp hay thân tộc của một đồng chí lãnh đạo thì bọn bất lương vẫn yên tâm làm bậy. Họ biết rằng dứt dây thì động rừng, cho nên vì thể thống của chế độ, việc sai quấy của họ cũng sẽ khó bị tố giác hay chấm dứt. Mối lợi của việc sai quấy đó mà được phân chia sòng phẳng thì mọi việc vẫn trót lọt. Và nhiều xứ giàu có cũng đáng quy trách khi không có nỗ lực trừng phạt bọn bất lương đó.

Hỏi: Trong hoàn cảnh ấy, Việt Nam có hy vọng gì thoát khỏi tình trạng ô nhục này chăng"

Tôi nghĩ rằng sẽ có, dù rất chậm và cần tới phản ứng của dư luận. Một thí dụ là nạn buôn phụ nữ dưới dạng hôn nhân giả đã giảm đáng kể với Đài Loan vì chính quyền xứ này có luật lệ kiểm soát khắt khe hơn. Ngược lại, trong năm năm qua, số cô dâu Việt Nam được bán qua Nam Hàn đã tăng gấp đôi. Khi bắt đầu hội nhập với thế giới bên ngoài thì luật lệ của quốc tế và của các nước khác liên hệ tới nạn buôn người cũng khiến Việt Nam phải tuân thủ mà thay đổi dần. Điều đáng buồn là Việt Nam chỉ biết tôn trọng nhân phẩm và nhân quyền của công dân mình khi có sức ép của ngoại quốc. Đây là một nỗi nhục mà dân mình nên nhìn ra, và có phản ứng, thay vì cứ thụ động trước sự bất lực hay bất lương của những người có trách nhiệm.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mỗi ngày tôi nhận được khoảng 20 email do bạn bè chuyển tới. Nội dung chủ yếu là xoáy vào đại dịch Coronavirus-Vũ Hán. Một email đặc biệt do chị Tống Mỹ Loan, Nantes, Pháp, với tựa đề Vũ Hán đang ở tình trạng bị đe dọa như ngàn cân treo sợi tóc, do đập Tam Hiệp bị vỡ. Vũ Hán phát tán ra Coronavirus-Vũ Hán, gây kinh hoàng trên 212 quốc gia và dùng lãnh thổ với 4,519, 986 ca nhiễm, số tử vong 316, 026 người (14-5-2020). Đồng thời Vũ Hán đang bị đe dọa bởi một tai họa kinh hoàng, là vỡ đập Tam Hiệp.
Trần Văn Giang mời quý vị đọc qua một ít triết lý vun vặt của đời sống thật do kinh nghiệm bản thân chứ bỉ nhân không hề dám có ý định dạy đời gì cả, trong lúc lịnh “Stay-At-Home” rất chán nản, mà vẫn còn hiệu lực dài dài.
Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn luôn vận động toàn dân, nhất là cán bộ, đảng viên, thanh niên, sinh vien, học sinh trong nước, học tập và làm theo gương đạo đức Hồ Chí Minh. Vậy thưa bà con, đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh là gì mà đảng cộng sản lại vận động toàn dân học tập?
Tôi sinh ra trong miền Nam, sau ngày thày u tôi di cư vào Nam năm 1954. Ngày còn bé chưa biết chiến tranh là gì. Đến năm 10 tuổi thấy đám tang ông chú họ với quan tài phủ cờ, nến lung linh, nghe nhiều tiếng khóc lóc thảm thương sao buồn quá. Chú là sĩ quan dù, chết trận ở Đồng Xoài. Thày tôi và bố chú đi nhận xác ở Tổng Y viện Cộng hoà. Nghe thày kể khi đi phải mang theo tỏi để lúc vào nhà xác đưa lên mũi khử mùi hôi. Nhiều xác chết, không biết chú nằm ở đâu, bố chú khấn nguyện “Con ơi! Nếu con chết thiêng thì ra dấu cho bố biết để nhận con”. Một xác người động đậy và đó là chú.
Đó là chỉ dấu nói lên yếu hèn thắp kém về tư tuỏng của TBT-CTN Nguyễn Phú Trọng. Ông không hề ý thức đươc rằng cách đây 35 năm, Mikhail Gorbachew, TBT cuối cùng của nha nước vô sản Liên Xô, từ năm 1985, đã phải từ bỏ xã hôi chủ nghĩa (cộng sản), tái cấu trúc lại xã hội Liên Xô, mở cửa đất nước, theo đuổi chế độ Kinh Tế Thi trường tự do. Năm 1991, Boris Yeltsin, Tổng thống Nga đầu tiên dưới chế độ Liên Xô, đã mạnh dạn gạt bỏ Xã Hội Chủ Nghĩa và đặt Đảng Công Sản Liên Xô ra ngoài vòng pháp luật và cấm đảng này hoạt động trên đất Nga... Từ đó nước Nga mới, mới có cơ hội đứng lên phát triển kinh tế đã trở thành, chẳng những môt cường quóc về nguyên tử và Quân đội mà còn là một cường quốc về Kinh tế cho mãi đến tân hôm nay.
Ôi, tưởng gì chớ cái “tác phong chưng dép” thì bác vẫn “thao tác” đều đều – vô cùng thành thạo – ở khắp cả mọi nơi: Khi Bác tới thăm 1 ngôi đền lớn và cổ kính của Ấn Độ thì có một chuyện lạ xảy ra. Lúc Bác bước vào trong đền, để lại đôi dép bên ngoài thì bất ngờ có hàng trăm phóng viên báo chí, nhiếp ảnh, quay phim ập đến vây kín đôi dép cao su của Bác… (“Trăm phóng viên nước ngoài vây kín đôi dép của Bác” – Tin Ngắn, 19/05/2013). Ngoài đôi dép, đôi môi của Bác cũng được bạn bè thế giới đặc biệt quan tâm và (vô cùng) quan ngại – theo như bản tường thuật của The Straits Times, số ra ngày 8 tháng 3 năm 1959: “Chủ tịch Hồ Chí Minh của Bắc Việt, 68 tuổi, đã bị bảo một cách thẳng thừng rằng phải ngưng việc hôn hít các em gái Indonesia và tôn trọng những điều dạy của Hồi giáo.”
“Cái nền dân trí luôn là mảnh đất cho hận thù, ngờ vực và chia rẽ” nếu chỉ giới hạn trong lãnh thổ VN thì có thể tìm ngay ra thủ phạm: Chủ Nghĩa Toàn Trị và học thuyết Marx – Lenin! Vấn đề là không ít người Việt đang sống ở nước ngoài, chả có liên quan (hay ảnh hưởng chi nhiều) với cái chế độ thổ tả hiện hành mà vẫn sẵn sàng chửi nhau, hủy bạn bè vì những chuyện nhỏ (như con thỏ) như thường. Vì cái nước mình nó thế nên dân mình không thể khác được chăng?
Bến Ninh Kiều, Cần Thơ đã ghi lại trong tôi biết bao là kỷ niệm vui buồn từ khi tôi mới bắt đầu xuống dạy tại Viện Đại Học Cần Thơ năm 1967 … Chính tại nơi đây, năm 1978, cũng vì khát khao hai chữ tự do, nên tôi đã liều mạng lôi cả gia đình xuống “cá nhỏ” để ra “cá lớn” đậu ngoài khơi vàm, không mấy xa chợ Cần Thơ. Nhưng than ôi, khi leo qua cá lớn thì bị dưa luôn về Chấp Pháp, trên đường vô Cái Răng. Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “ấm ớ hội tề” là “thái độ không dứt khoát”. Đem nghĩa này gắn vào những tuyên bố của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng liên quan đến công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội đảng XIII, dự kiến diễn ra trong tháng 01 năm 2021, thì sẽ thấy vẫn chỉ là chuyện nói nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu, hay chỉ nhằm tung hòa mù để hù họa nhau.
Báo chí trong nước hôm 12/5/2020 đưa tin Bộ Công an cho hay dự luật biểu tình chưa thể được trình lên Quốc hội vì "cần phải được nghiên cứu kỹ, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng". 45 năm qua dường như đảng Cộng sản Việt Nam chưa có được một ngày hòa bình, trong tâm trí họ xung quanh lúc nào cũng có những "thế lực thù địch" đe dọa sự tồn vong của thể chế. Câu chuyện "hòa hợp hòa giải dân tộc" đã được nói đến ngay từ khi Chiến tranh kết thúc năm 1975, nhưng đến nay nhà cầm quyền vẫn đề cao lịch sử của “bên thắng cuộc” và tiếp tục coi mọi tiếng nói khác biệt là thù địch.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.