Hôm nay,  

Cạn Tín Dụng Trong Lạm Phát

28/02/200800:00:00(Xem: 10212)

...Không phải ngẫu nhiên mà 2 nền kinh tế Trung Quốc và VN đang nguy cơ khủng hoảng cao nhất...

Trong những ngày qua, Việt Nam đã như lên cơn sốt về giá cả với quyết định tăng giá xăng dầu quá đột ngột. Lồng bên dưới nỗi bất an đó còn có một hiện tượng nhất thời đáng lo ngại là nhiều ngân hàng lại thiếu tiền mặt để kinh doanh do những quyết định điều chỉnh lãi suất và tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trong không khí đầy bất trắc ấy, Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu vì sao lại có hiện tượng ngân hàng thiếu bạc mặt và tác động của nó tới tình hình kinh tế nói chung. Cuộc trao đổi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ do Việt Long thực hiện sau đây hầu quý thính giả.

- Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, người ta cứ tưởng rằng sau cơn sốt giá cả nhân mùa Tết nhất vào đầu năm thì tình hình kinh tế có thể tạm lắng đọng đôi chút. Sự thật lại không được như vậy, đây đó đã có triệu chứng của sự hốt hoảng khi giá cả vẫn tăng vọt và lồng bên dưới là những lao đao của một số ngân hàng bị thiếu bạc mặt đến nỗi hết tiền cho thân chủ vay. Chúng tôi xin đề nghị là trong chương trình tuần này, chúng ta sẽ tìm hiểu về hiện tượng đầy nghịch lý đó. 

Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là vì sao thị trường đang bị ứ đọng tiền bạc đến nỗi giá cả tăng vọt vì hiện tượng lạm phát tiền tệ trong khi có ngân hàng lại thiếu tiền cho vay và có thể bị phá sản nếu thân chủ rút tiền ký thác để gửi tiền qua nơi khác kiếm lời cao hơn"

- Thưa đây chỉ là một vấn đề nhất thời do những điều chỉnh cần thiết của các ngân hàng, với hậu quả là nhiều ngân hàng quản ký kém có thể phá sản và sự hốt hoảng có thể còn lan rộng hơn nữa.

Chúng ta không quên là vào cuối năm ngoái, sau vụ khủng hoảng vì loại tín dụng thứ cấp sub-prime, nhiều ngân hàng của Hoa Kỳ và Âu châu cũng đã gặp hoàn cảnh đó là tạm ngưng cấp phát tín dụng đưa đến nạn can kiệt tín dụng khiến các ngân hàng trung ương đã phải đột ngột can thiệp vào thị trường, cụ thể là bơm vào nền kinh tế tới 200 tỷ đô la để đối phó với tình trạng này trong khi vẫn chưa đẩy lui được nguy cơ lạm phát. Tại Việt Nam thì tình hình còn phức tạp và đáng ngại hơn vì khả năng quản lý và ứng phó rất kém của các cơ quan hữu trách lẫn các ngân hàng thương mại xảy ra từ nhiều năm nay.

- Hỏi: Nếu như vậy, xin đề nghị là chúng ta sẽ phân tích lại từ đầu, từ vấn đề quản lý và chính sách, là vì sao lại có biện pháp thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát rồi tình trạng các ngân hàng lại thiếu tiền mặt"

- Trên diễn đàn này, chúng ta đã nhiều lần nói tới một nhược điểm của Việt Nam là quá chú trọng vào đà tăng trưởng biểu kiến của sản xuất mà bất kể tới phẩm chất, và tập trung nỗ lực vào xuất khẩu bằng mọi giá, lại lồng trong tâm lý lạc quan với triển vọng gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Bây giờ là lúc phải điều chỉnh thì nếu không khéo lại gây ra nguy cơ bị lật thuyền khi bắt đầu hội nhập vào dòng sinh hoạt kinh tế thế giới.

Trước hết, trong nhiều năm liền, Việt Nam đã vì yêu cầu tăng trưởng cao mà mở rộng vòi nước tín dụng, cụ thể là cung cấp quá nhiều tiền cho nền kinh tế, với đà gia tăng tín dụng bình quân là 25% một năm trong năm năm liền. Hệ thống ngân hàng trong chức năng huy động và phân phối tín dụng của một máy bơm và máy hút lại chỉ làm có một việc là bơm tiền, với lãi suất thực tế là số âm, nghĩa là thấp hơn mức lạm phát. Vì tiền bơm ra quá nhiều làm kết số dư nợ tín dụng đã cao gần bằng tổng sản lượng nội địa của toàn năm, người ta thực tế thổi lên nhiều trái bóng đầu cơ, nổi bật nhất là trong thị trường chứng khoán và lớn hơn gấp bội là trong thị trường gia cư địa ốc, thị trường bất động sản.

Cũng cần nói thêm là vì trình độ nghiệp vụ kém, người ta không có khả năng thẩm định rủi ro tín dụng cho chính xác mà cứ cho vay theo kiểu chọn mặt gửi vàng, theo quan hệ. Mà trong hệ thống ngân hàng, các ngân hàng thương mại của tư nhân cho vay rất mạnh so với các ngân hàng thương mại quốc doanh, nên đang bị rủi ro phá sản cao nhất.

- Hỏi: Trong giai đoạn ấy, Ngân hàng Nhà nước giữ chức năng gì và làm gì để điều tiết hay kiềm chế khối tiền tệ lưu hành"

- Thực tế là chẳng làm gì để điều tiết mà năm ngoái còn thi hành chính sách của nhà nước là bơm thêm tiền vào kinh tế đến hơn 110 tỷ đồng Việt Nam để thu về bảy tỷ Mỹ kim hầu hỗ trợ cho mục tiêu xuất khẩu nhờ tỷ giá đồng bạc rất thấp. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước đã chẳng ngăn ngừa mà còn gây nên lạm phát, cho tới giữa năm mới lật đật điều chỉnh với hàng loạt biện pháp cấp cứu có sức công phạt quá nặng cho nền kinh tế, và trước tiên là các ngân hàng thương mại cổ phần. Nguyên do chính ở đây là Ngân hàng Nhà nước không có khả năng độc lập và chỉ làm công cụ cho Nhà nước để vì mục tiêu tăng trưởng biểu kiến mà áp đặt một thứ thuế vô hình và vô cảm là lạm phát đánh trên những người ký thác tiết kiệm, thành phần có lợi tức cố định và nhất là các thành phần nghèo túng.

- Hỏi: Thưa ông, một cách cụ thể thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã làm những gì"

- Từ giữa năm, Ngân hàng Nhà nước đã trước tiên tăng tỷ lệ dự trữ pháp định lên gấp đôi, tới đầu năm nay thì nâng hàng loạt lãi suất cơ bản và đến tháng tới thì bắt các ngân hàng phải mua vào hơn hai chục nghìn tỷ đồng tín phiếu với lãi suất rất thấp. Trong có vài tháng mà các ngân hàng phải đồng loạt hút bớt tiền trong lưu thông nên bị hạn thiếu hiện kim, hay thanh khoản, nôm na là bạc mặt. Một vài ngân hàng có cơ cấu tài chính tương đối vững thì còn khả năng nâng lãi suất trả cho trương chủ ký thác, là lãi suất huy động; nhiều ngân hàng khác thì đành bó tay và còn bị khủng hoảng nhanh hơn khi các trương chủ rút tiền qua ký thác vào ngân hàng khác để hưởng "siêu lãi suất" như người ta đang gọi trong nước.

Trong hoàn cảnh mà trái bóng đầu cơ chứng khoán đang bị bể, trái bóng bất động sản bắt đầu bị đình đọng, người ta chỉ còn một khả năng thủ thân là gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng, hoặc đi mua vàng để tài sản khỏi bị mất giá. Trong khi ấy, vật giá vẫn gia tăng, bình quân là 3% mỗi tháng trong hai tháng đầu năm. Rồi cú sốc về giá xăng dầu vừa tăng cách đây hai ngày sẽ còn gây nhiều điêu đứng cho thị trường, mà hậu quả chỉ được thấy trong vài tháng nữa. Chúng ta đang chứng kiến sự hốt hoảng sẽ dẫn tới khủng hoảng.

- Hỏi: Chúng tôi không hiểu vì sao biện pháp chống lạm phát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lại có vẻ gây phản tác dụng như vậy"

- Cơ chế này không có độc lập như nhiều ngân hàng trung ương của thế giới văn minh và phải thi hành chính sách của nhà nước với những hậu quả gây phản tác dụng như ông nói.

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước đòi các ngân hàng thương mại phải hút tiền ra khỏi thị trường với lãi suất huy động rất cao để trả cho trương chủ tiết kiệm; trong khi ấy từ tháng tới thì lại phải mua tín phiếu của nhà nước với lãi suất thấp và lập tức bị thiếu hiện kim để kinh doanh. Thứ hai, hậu quả của sự can thiệp quá trễ và quá nặng này, là vòi tín dụng bơm vào sinh hoạt kinh tế cũng bị khoá, ngân hàng và doanh nghiệp sẽ nhất thời thiếu vốn kinh doanh, "nhất thời" ở đây là trong vài ba tháng. Thứ ba, để ứng phó với nạn thiếu vốn ấy, Ngân hàng Nhà nước lại phải mở vòi bơm tiền vay ngắn hàng trên thị trường liên ngân hàng, là nơi các ngân hàng thiếu hiệm kim phải vay tạm của nhau trong ngắn hạn.

Đâm ra Ngân hàng Nhà nước vừa muốn hút về hai chục ngàn tỷ thì đã phải bơm ra ba chục ngàn tỷ, nghĩa là bơm ra gấp rưỡi con số định thu về. Rốt cuộc thì biện pháp chống lạm phát đang gây ra lạm phát. Dân chúng, tức là thị trường, đã kết luận như vậy và mặc nhiên chuẩn bị tăng giá hoặc phải tăng chi trong tương lai...

- Hỏi: Nếu Ngân hàng Nhà nước có quyền độc lập hơn thì liệu trường hợp éo le này có thể xảy ra không"

- Ông nêu một câu hỏi rất lý thú mà tôi thực sự không thể trả lời được!

Trước hết vì chính nhà nước cũng không có quyền hành xử độc lập do vai trò âm thần mà quá nặng của đảng Cộng sản Việt Nam, và vì âm thầm nên đảng không lãnh trách nhiệm trước quốc dân, hay thị trường. Thứ nhì, trong cơ chế nhà nước đó, Ngân hàng Trung ương của Việt Nam cũng không thể đi ngược với quyết định của Chính phủ vốn dĩ lại chỉ là công cụ can thiệp của đảng vào sinh hoạt của xã hội. Tôi xin nêu một thí dụ dễ hiểu là một Thống đốc của Ngân hàng Nhà nước có bắt buộc phải là Trung ương Ủy viên, thậm chí Ủy viên Bộ Chính trị hay không" Nếu ông ta không có quyền hạn đó trong guồng máy đảng thì người cầm đầu cơ chế tín dụng và tiền tệ của quốc gia lại không có thực quyền nên hôm nay phải lấy quyết định này, ngày mai lại được chỉ thị phải tung ra biện pháp khác.

Hậu quả bất ngờ của tình trạng ấy là hàng loạt ngân hàng thương mại có thể lâm vào hoàn cảnh vỡ nợ ít nhất về mặt kỹ thuật vì bị giằng xé giữa những nhu cầu tương phản của chính sách ở trên đầu và của thị trường ở trước mặt. Khi dân chúng tức là thị trường phải ào ạt rút tiền ra khỏi ngân hàng để ký thác vào ngân hàng khác có lời hơn thì nhiều ngân hàng sẽ phá sản, mà đây lại là các ngân hàng thương mại cổ phần, là của tư nhân, vốn dĩ có ít vốn hơn cả. Trong khi ấy, năm ngân hàng thương mại quốc doanh thì vẫn có thể ủng hộ những quyết định này của nhà nước nhờ cấp phát tín dụng ít hơn và nay vẫn còn dư hiện kim thanh khoản để mua tín phiếu.

Kết cuộc thì cái gọi là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang gây khủng hoảng cho thị trường vì định hướng ấy. Cho nên câu trả lời chuyên môn ở đây là nhà nước phải được độc lập với đảng thì Ngân hàng Nhà nước mới có thể là cơ chế thực sự độc lập để thoát khỏi cảnh trống đánh xuôi kèn thổi ngược và gây ra lạm phát vì muốn ngăn ngừa lạm phát.

- Hỏi: Thưa ông, trước hoàn cảnh ngặt nghèo hiện nay thì người ta phải làm gì"

- Thưa tùy theo "người ta" đây là ai. Người dân thì sẽ phải nghiến răng chịu đựng những bất trắc sẽ còn dồn dập xảy ra và nhiều người sẽ đói to. Một số ngân hàng vỡ vợ có thể gây phá sàn dây chuyền vì thiếu thanh khoản và sẽ phải giải thể hay sát nhập cùng nhau. Những cơ quan hữu trách thì phải quan niệm lại vai trò của lãi suất, tức là ra khỏi tình trạng giữ lãi suất dưới số âm, kể cả lãi suất tín phiếu của nhà nước, và qua đó quan niệm lại vai trò can thiệp vào thị trường. Khi can thiệp thì phải đi từng bước tiệm tiến theo quy luật thị trường chứ không thể hành chính hoá thị trường qua biện pháp máy móc như hiện nay. Người ta đã duy trì tình trạng dư dôi tín dụng và tiền tệ quá lâu rồi mới lập đật hãm phanh và gây sốc cho thị trường, nay lại phải châm thêm tiền như tiếp thêm máu độc cho bệnh nhân khỏi chết. Không ai quản lý kinh tế theo lối chữa bệnh cho trâu như vậy được.

- Hỏi: Câu hỏi cuối, thưa ông, rồi đây tình hình sẽ ra sao"

- Tôi e rằng mình khó tránh được một vụ khủng hoảng dây chuyền, từ thị trường này qua thị trường khác theo nguyên tắc "bình thông đáy", từ cổ phiếu sụp đổ qua ngân hàng rồi nhà đất. Nhưng điều đáng lo ngại nhất không chỉ là những giao động về giá cả hay đầu tư kinh doanh ở thành phố như vậy mà là đời sống của công nhân thợ thuyền và nông dân ở thôn quê.

Đình công sẽ gia tăng và bất ổn xã hội cũng vậy. Sau trận khủng hoảng này, Việt Nam sẽ phải quan niệm lại nhược điểm trong cốt tủy của cái gọi là "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Không phải ngẫu nhiên mà tại Đông Á, hai nền kinh tế Trung Quốc và Việt Nam đang có nguy cơ khủng hoảng cao nhất, do theo đuổi cùng một chiến lược kinh tế và chính trị có mâu thuẫn hữu cơ, ngay bên trong ruột gan của chế độ chính trị. Đây là bước đầu phá sản của mô thức phát triển kiểu Trung Quốc và Việt Nam.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.