Hôm nay,  

Như Trâu…

31/12/200800:00:00(Xem: 9317)
Như trâu…
Trần Văn Giang
Lời mở đầu:
Một quang cảnh thường thấy trong sinh thái người dân Việt là:
"Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cầy vợ cấy con trâu đi bửa"
Trâu kéo cầy dưới ruộng, trâu kéo gỗ trên rừng, trâu kéo xe trên đường lộ…
*
A- Chuyện (như) Con Trâu
Năm con trâu 2009 ("Kỷ Sửu") sắp đến, giới viết lách (cả báo in và điện báo), theo như thông lệ, đã tốn khá nhiều giấy mực viết về con trâu…Nếu quí vị đã chán ngấy chuyện trâu thì có thể thong thả lật qua trang khác cho đỡ ngứa mắt; còn không thì…cùng nhau bàn chuyện trâu thêm một lần nữa nhé…
Con trâu đối với dân Việt, nhất là nhà nông (có đến 80% dân số), đã một thời là một thành viên của gia đình, là của cải, là kế sinh nhai, là cứu cánh, là "đầu cơ nghiệp," là hạnh phúc, là hiện tại, là hy vọng, là tương lai…  tóm lại là tất cả những gì quí báu nhất của gia đình nhà nông.  Hãy thử đọc lại cuốn "Con Trâu" của Trần Tiêu để thấy rằng gia đình nông thôn Việt Nam vật vã than khóc, xem sự việc một con trâu bị chết còn bi thảm hơn là chính bố mẹ, con cái trong gia đình bị chết…  Vai trò quan trọng của con trâu đã rõ rệt… 
Nhưng Việt Nam ở thế kỷ 21 đã bắt đầu đánh dấu sự "lúng túng," sự "lo lắng" là đàn trâu Việt Nam giảm số lượng quá nhanh (cả tỉnh Tiền Giang bây giờ, năm 2009, chỉ còn vỏn vẹn 377 con trâu")  Nguyên do của sự gỉam số lượng trâu vì vấn đề cơ giới hóa trongviệc cày cấy và giết trâu làm thịt (vì thịt trâu ăn "mát" hơn thịt bò!)  E rằng một ngày rất gần đây con trâu Việt Nam sẽ biến thành lọai động vật tương tự như "khủng long" của thời tiền sử và có lẽ sẽ chỉ còn thấy con trâu trong sách gíao khoa và viện bảo tàng!  Các số lượng trâu bị biến mất dần dần sẽ xuất hiện đều đặn trong các báo cáo của ngành nông nghiệp trong các năm sắp đến!  Hình ảnh quen thuộc thân yêu "con trâu đi trước cái cày" bao đời nay sẽ là hình ảnh tiêu biểu cho một nền nông nghiệp lạc hậu (!) của xứ sở nghèo đói (!)
Trước mặt chúng ta, con trâu có rất nhiều viễn ảnh "khuất bóng;"  nhưng những hình ảnh và biểu tượng văn hóa mà con trâu để lại có lẽ sẽ mãi mãi trong tâm thức người dân Việt: từ tranh sơn mài đến bát phở; từ câu ca dao mộc mạc đến một bản tân nhạc giật gân được ưa chuộng, từ các địa danh "trâu" đến các chưyện huyền thọai "trâu"…
Hình ảnh con trâu to kềng càng, đắt gía, hiền lành, khỏe mạnh, cần cù…  được dân Việt sử dụng để làm tiêu chuẩn đủ lọai trong vấn đề mô tả, so sánh v..v...
Tuần tự hãy xem:
"Khỏe như trâu."  Công việc đồng áng rất nặng nhọc đâu có dễ dàng như đi "shopping."  Ở ngòai ruộng, bùn lầy hay lún, chỉ có sức trâu dẻo dai mới có thể cày được ruộng sâu ("Ruộng sâu, Trâu nái.")  Nên biết là bò cũng có sức kéo mạnh nhưng chỉ  có 7 món kéo trên mặt đất khô; còn ở ruộng có nhiều bùn lún, bò không kéo được đâu đấy nhé!
"Ăn như trâu."  Trâu to lớn làm việc nặng thì phải ăn nhiều mới có sức.  Mà cũng tội nghiệp!  Trâu chỉ gặm cỏ chứ có đòi hỏi cao lương mỹ vị gì đâu mà con người phải than thở!  Chưa nói đến chuyện bây giờ các đồng cỏ cho trâu gặm đã được lấy đi để xây khách sạn 5 sao!  Trâu muốn sống có lẽ phải ăn bo bo khoai độn"
"Béo như trâu trương."  Cái dáng kềnh càng bụng to của trâu bị người đời ví von chê bai.  Tại sao kỳ cục vậy"  Martin Luther King đã từng nói là: "Không thể phán xét con người qua hình dáng, mầu da; mà phải phán xét con người qua tư cách" mà lị.  Con người hay con trâu thì cũng vậy thôi; có gi là khác biệt đâu"  Có nhiều người tư cách còn kém xa con trâu mà lại không biết ngượng lên mặt che bai trâu!  Ít ra trâu cũng là con vật bình dị, mộc mạc, không bon chen đi hút mỡ bụng hay bỏ món ăn cỏ hàng ngày để đổi ("diet") qua ăn củ xả, lá lốt…hay thịt cá, mỡ chài…!
"Đàn gẩy tai trâu."  Rõ rệt là trâu bị hiểu lầm rât lớn ở cái tiết mục văn nghệ văn gừng này.  Chẳng qua là trình độ thưởng thức âm nhạc của trâu rất cao.  Người đời đã gẩy đàn dở ẹc mà lại muốn trâu khen là sao"  Công lý ở đâu vậy"
"Dai như trâu đái."  Trâu bị bắt lao động suốt ngày không nghỉ ngơi; không cho đi buồng tắm thi chuyện xả súp bắp hơi lâu có gì mà phải ngạc nhiên.  Ở Việt Nam bây giờ cứ vào làm việc cho hãng giầy "Nike" là biết ngay.  8 tiếng đồng hồ làm việc mà "xếp" chỉ cho đi đi đái có một bận thì trách trâu đái dai là chuyện "phản động!"
 "Cứt trâu để lâu hóa bùn."  Câu nói này chẳng những đã thiếu khoa học mà cũng thiếu cả đạo đức (Chưa nói đến vấn đề chính trị - bất công và kỳ thị).  Khoa học đã chứng minh chăm phần chăm là bất cứ cứt gì để lâu cũng dần dà hóa thành đất; hóa thành bùn cả; chả riêng gì cứt trâu!  "Nói đến (cứt) trâu phải nghĩ đến (cứt) người" chứ!

"Đầu trâu mặt ngựa."  Vấn đề cho coi nhan sắc mà cho điểm tư cách này coi bộ hơi tế nhị đó nghe.  Đẹp hay xấu là tùy nơi người đối diện ("Beauty is in the eye of the beholder!")  Cứ xấu trai là hổng lấy được vợ hay sao"  Có người nào xấu đến nỗi phải ở gía đâu"  Về khía cạnh nhan sắc, trâu không dám lên tiếng dùm cho ngựa; vì đó là đời tư của ngưa.  Còn phần trâu, trâu mặc dù có cái mũi hơi to, sừng dài hơi quá khổ mà lại cong cong và sún vài cái răng cửa nhưng có trâu đực nào bị trâu cái chê xấu trai đâu mà con người phải cất công chê dùm…  Rõ là rảnh hơi, rửng mỡ!  Con người có tính tủn mủn nên cứ chê cho được việc vậy thôi.  Còn lúc ví von là "vú sừng trâu" thì là "vú xấu" hay "vú đẹp""  Nói sao cũng đặng.

B- Địa danh mang tên Trâu
1- Miền bắc:
Khỏang thế kỷ 15, Trần Thế Pháp trong sách "Lĩnh Nam Chích Quái" (trích lược các chuyện kỳ lạ ở đất Lĩnh Nam - Đất lập quốc nguyên thủy của dân Việt) có ghi hai câu chuyện cổ, huyền sử về địa danh miền bắc Việt Nam liên quan đến con trâu như sau:
"Ngày xưa, đời thượng cổ, có Vương Chất đi đốn củi ở trong núi gặp hai tiên đồng đang đánh cờ. Hai tiên đồng cho Chất một hạt táo, Chất ăn khỏi đói rồi gác rìu mà ngồi xem đánh cờ. Tiên đồng bảo Chất: 'Cán rìu của người nát rồi,'  Chất cúi xuống, lúc ngẩng lên thì không thấy tiên đồng đâu. Kịp đến khi trở về nhà thì không còn gặp lại những người thân cũ ở trần gian nữa. Do tích đó người đời bèn gọi quả núi này là núi Lạn Kha (núi rìu nát) còn gọi là núi Tiên Du (núi chơi tiên) rồi nhân lấy tên ấy để đặt tên huyện. ở huyện Tiên Du nay vẫn còn vết cũ. Núi Tiên Du có tinh trâu vàng nửa đêm thường tỏa ra ánh sáng. Có nhà sư lấy tích trượng yểm lên trán trâu, trâu vàng bỏ chạy húc vào đất làm sụp thành cái hồ.
Nơi này sau gọi là thôn Húc. Trâu chạy đến địa phận Văn Giang (là huyện cực Tây của tỉnh Hưng Yên), vì vậy ở đây có cái vũng lớn gọi tên là vũng Trâu Đằm (*). Trâu chạy qua các xã Như Phượng, Như Loan, Đại Lạn, Đa Ngưu. Các xã này sở dĩ tên như vậy là vì có vết chân trâu đi tới. Trâu lại từ trong bến ra sông Cái, đến Ninh Giang, đi men phủ Lý Nhân, theo ven sông Cái tới sông Tô Lịch, chỗ ấy chính là Tây Hồ. Người đời truyền tụng rằng Cao Biền giỏi thuật số, thông địa lý, thường cưỡi diều giấy bay trên không trung để yểm các nơi thắng cảnh. Biền thấy trâu đi vào hồ Dâm Đàn, nay là Hồ Tây (*),  rồi thoắt không thấy trâu đâu nữa. Trên đường trâu chạy, khắp nơi biến thành khe, ngòi, rãnh,lạch."
--------
(*) Thì ra cái vũng tên là "Trâm Đằm" ở tỉnh Hưng Yên có sự tích hẳn hoi; và "Hồ Tây" rất thơ mộng ở Hà Nội còn có một cái tên nguyên thủy là "Hồ Dâm Đàn" không có vẻ gì là thơ mộng cả!
2- Miền nam: 
Có một địa danh mang trên Trâu.  Đó là "Kinh Đường Trâu."  Câu chuyện như sau: 
Địa phận (Huyện / Quận) Bình Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long có một con kinh tên là "Kinh Đường Trâu."  Chuyện kể là khi xưa khu vực này có nuôi rất nhiều trâu.  Trâu được lùa đi thành từng đàn cả ngàn con trên một con lộ bằng đất.  Đường đất qua thời gian bị sức nặng của trâu đè xuống biến thành một con mương goi là muơng "đường trâu đi".  Dần dà, nườc chẩy soi mòn làm mương mở rộng lớn ra biến thành con kinh goi là "Kinh Đường Trâu."
C- Tuổi Sửu (Con Trâu):
Nhân dịp tết Kỷ Sửu, tôi xin ghi lại đây (lượm trên NET) một vài đặc tính của người có tuổi con trâu.  Xin mời đọc cho biết rồi bỏ vì tôi thấy chỉ có giá trị tương đối thôi:
Mặc dầu chậm chạp cứng chắc như thế, tuổi Trâu không phải là con bò sửa ngoài đồng.  Con vật khỏe mạnh nầy sinh ra đã là bậc lãnh đạo, đáng tin cẩn, và có khả năng tự nhiên làm nên việc lớn. 
Dầu vậy, tuổi Trâu chậm chạp và nguyên tắc - theo những dự toán từng bước một và không hề mất hướng. Thiên hạ thấy tuổi Trâu quá nghiêm khắc và khó nới nẩm.
 Phẩm tính bền chặt tự nhiên làm mất tình xả giao và trở thành ngượng ngập giữa đám đông.  Tuổi nầy không màng tới người khác suy nghĩ ra sao mà chỉ thích làm điều gì họ nghĩ là tốt cho họ.  Tuy làm mặt lạnh nhưng tuổi Trâu cũng không tránh khỏi chịu đau lòng, cô đơn, và mất thân ái với người khác.
 Bạn bè và gia đình là nguồn an ủi lớn lao cho tuổi này, ngay cả khi gia đình họ cũng không hiểu họ đã làm gì cho tuổi Trâu nổi sùng nữa.
 Cứng đầu và độc đoán, tuổi Trâu có khuynh hướng càn lên, xông xáo, không biết thối lui.  Nếu tuổi nầy bị dồn ép vào chân tường thì có nước là đất cũng phải rung chuyển theo!
 Nói tóm tắt là tuổi Trâu không quan tâm đến chuyện bị dồn đẩy lắm, bởi vì tuổi nầy nghĩ là họ là người tốt trong thiên hạ. Lý thuyết nầy cũng đúng, bởi lẻ tuổi Trâu thông minh, đáng tin cậy, lo cho người, và đáng kính.
 Nếu bạn cần lời khuyên chân thật, thẳng thắn và không thiên vị thì cứ hỏi tuổi Trâu.
 Cái khó nhất cho tuổi Trâu là làm sao khắc phục mình khỏi phải tật thiên kiến đã khiến họ khó làm thân với người khác.  Nếu tuổi nầy biết đánh giá những phẩm tính tốt của riêng mình, họ sẽ mở rộng tấm lòng ra để đón tha nhân vào.
Hạp: Tuổi Sửu hạp với tuổi Tỵ (con Rắn) và tuổi Dậu (con Gà).
Xung: Tuổi Sửu khắc / kỵ  tuổi Thìn (con Rồng) , tuổi Mùi (con Dê) và tuổi Tuất (con Chó).
Trần Văn Giang
(Tết Kỷ Sửu 2009)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.