Hôm nay,  

Lạm Phát Chưa Lui

27/08/200800:00:00(Xem: 10194)
...và đồng bạc Việt Nam sẽ còn mất giá rất nặng...

Trong tháng Tám, lạm phát tại Việt Nam vẫn tăng và lên tới 28,3%, mức cao nhất từ 17 năm nay. Riêng lương thực và thực phẩm thì tăng 44% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là mấy con số ước lượng vừa được Tổng cực Thống kê thông báo hôm Thứ Hai vừa qua. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu về mối nguy đó của Việt Nam khi nhiều người cũng lo rằng lãi suất gia tăng sẽ cản trở sản xuất khiến người dân càng thêm khốn đốn. Cuộc trao đổi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về tiết mục chuyên đề này sẽ do Việt Long thực hiện sau đây hầu quý thính giả...

Hỏi: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, cách đây hai tuần, ông có trình bày một diễn biến mới của thế giới là hiện tượng thương phẩm, nhất là dầu khí, đã hết tăng giá mà còn giảm. Nhưng trong chương trình tuần trước, ông vẫn cảnh báo nguy cơ khủng hoảng vì vật giá gia tăng tại Việt Nam. Hôm thứ Hai vừa qua, Tổng cục Thống kê của Việt Nam vừa công bố dữ kiện kinh tế tháng Tám, theo đó, lạm phát vẫn tăng hơn 28%. Xin đề nghị là trong chương trình kỳ này ta sẽ lại tìm hiểu về mối nguy lạm phát đó, với mặt trái của vấn đề là nếu nâng lãi suất ngân hàng để ngăn chặn lạm phát thì lại gây cản trở cho sản xuất vì phải vay tiền với lại suất quá đắt. Ông nghĩ sao về bài toán lưỡng nan ấy"

- Một cách cụ thể thì trong ba tháng qua, lạm phát chỉ có tăng chứ không giảm. Tháng Năm thì tăng 25,2%, tháng Sáu tăng 26,8% và qua tháng Bẩy thì tăng 27%. Khi thấy áp lực vật giá có vẻ giảm trong tháng Bảy - vì chỉ tăng từ 26,8 lên 27% - nhiều người lạc quan nghĩ rằng lạm phát có thể sẽ lui nên Việt Nam nên giảm lãi suất ngân hàng. Sự thật thì lạm phát tháng Tám đã lên tới 28,3%, một mức gia tăng cao nhất kể từ 17 năm nay, và hiện đang là cao nhất Á châu.

- Đã vậy, Việt Nam tiếp tục bị nhập siêu nặng, tức là nhập nhiều hơn xuất khẩu, với số thiếu hụt trong tám tháng đầu năm lên tới 16 tỷ, so với mức thiếu hụt 14 tỷ của cả năm ngoái. Vấn đề ấy tiếp tục đẩy giá đồng bạc xuống, trong bối cảnh đảo chiều là Mỹ kim hết sụt mà còn tăng giá, khiến tỷ giá hay hối suất đồng bạc không thể duy trì ở mức hiện tại. Lãi suất và hối suất vì vậy là hai vấn đề rất ngặt nghèo cho Việt Nam.

Hỏi: Đa số các chuyên gia nước ngoài đều khuyên Việt Nam cần nâng cao lãi suất để kiềm chế lạm phát, lời khuyên ấy có đúng không, khi mà lãi suất gia tăng khiến gánh nặng tài chính sẽ cản trở sản xuất vì nhiều người không thể vay tiền với mức lãi cắt cổ"

- Trước tiên, chúng ta cần biết rằng không phải mọi lời khuyên của các chuyên gia nước ngoài đều là đúng cả vì mỗi người lại nhìn vấn đề từ một giác độ và hoàn cảnh trách nhiệm khác nhau. Nhưng, riêng về lãnh vực tín dụng thì tăng hoặc ít nhất không hạ lãi suất lúc này là việc cần thiết.

- Trong một kỳ trước, ta có cảnh báo rằng nhiều quốc gia đang phân vân giữa hai ưu tiên là 1) hoặc chặn đứng lạm phát bằng cách gia tăng lãi suất ngân hàng và nâng cao định mức dự trữ để tiết giảm lượng tiền lưu thông trong kinh tế, hoặc 2) hạ lãi suất để hỗ trợ sản xuất hầu duy trì một mức tăng trưởng đủ cao để khỏi bị thất nghiệp và động loạn xã hội. Việt Nam cũng gặp vấn đề ấy và ngả theo xu hướng duy trì mức tăng trưởng nên ngần ngại tăng lãi suất và vẫn bị nguy cơ lạm phát. Điều ấy quả nhiên đang xảy ra, với mức độ còn cao hơn kỳ trước.

Hỏi: Xin đề nghị là ông giải thích thêm cho rõ vì sao Việt Nam không nên hạ lãi suất như nhiều người yêu cầu. Mối nguy lạm phát có nặng đến nỗi mình phải trả giá với lãi suất thực tế là 25% như ông trình bày tuần trước không"

- Ta hãy nhìn lại chỉ số vật giá. Tháng Năm thì tăng 25,2% so với tháng Năm của năm ngoái. Tháng Sáu thì tăng 26,8%, tháng Bảy tăng 27% rồi tháng Tám tăng 28,3% so với tháng Tám năm ngoái. Nếu xét vào chi tiết trong thời hạn ngắn hơn thì lạm phát hàng tháng vẫn tăng nhưng nhẹ hơn, thí dụ như tăng 3,9% trong tháng Năm, rồi 1,1% trong tháng Sáu. Vì thấy lạm phát hàng tháng có vẻ giảm, thực ra chỉ là tăng nhẹ hơn, và dầu thô cũng đang hạ giá trên thế giới, từ 147 đồng đã giảm được hơn 30 đồng một thùng, nên Việt Nam đã đảo ngược chế độ trợ giá xăng dầu. Vừa tăng giá xăng dầu bình quân từ 14 đến 37% vào ngày 21 tháng Bảy thì lại hạ bình quân là 5% vào ngày 14 tháng Tám vừa qua. Nhưng quyết định tăng giá xăng dầu vào tháng Bảy sẽ ảnh hưởng đến vật giá trong tháng Tám là điều người ta sẽ còn thấy rõ hơn trong những ngày tới.

- Tôi ngần ngại khi phải kể ra hàng chục con số nhức đầu như vậy cho thính giả, nhưng mình cần nhắc lại khoảng cách thời gian của từng quyết định kinh tế để từ đó thấy rõ sự lụp chụp chạy theo thị trường bằng các quyết định hành chánh và mỗi quyết định ấy lại ảnh hưởng đến vật giá của tháng sau. Trong bối cảnh đó, mình mới trở lại vấn đề lãi suất mà ông hỏi.

Hỏi: Muốn thấy rõ vấn đề ấy, có lẽ ông phải đề nghị ông phân tích và giải thích bàng tổng kết tài sản của các ngân hàng tại Việt Nam.

- Nếu nhìn vào bảng tổng kết tài sản của cả hệ thống ngân hàng tại Việt Nam, ta thấy rằng các ngân hàng đang bị sức ép rất nặng từ cả hai đầu. Thứ nhất là sức ép của yêu cầu tiết giảm tín dụng do lỡ dại bơm ra quá nhiều tiền từ năm ngoái nên lãi suất liên ngân hàng đã tăng bình quân gấp đôi, từ khoảng 8-9% lên tới gần 20%, nên ngân hàng bị cạn kiệt thanh khoản, thiếu tiền cho vay và cần ráo riết đòi lại nợ. Vì sức ép tín dụng ấy, ngân hàng trung ương tại Việt Nam mới cố duy trì mức lãi suất trần ở khoảng 14% và nhiều người nói tới nhu cầu hạ lãi suất, hoặc đả kích các chuyên gia nước ngoài khi họ khuyến cáo phải tăng lãi suất.

- Nhưng, nếu nhìn rộng ra ngoài thì mình còn phải thấy sức ép thứ hai. Lạm phát cao và lãi suất hạ, dưới mức lạm phát, tức là lãi suất thuần âm, khiến ngân hàng không huy động được ký thác. Trong khung cảnh lạm phát, người ta thích làm khách nợ, tức là đi vay tiền nhờ lãi suất thấp, hơn là làm chủ nợ, tức là làm trương chủ ký thác tiền bạc của mình vào ngân hàng vì không có lời. Nếu mình xét kỹ bảng kết số tài sản của hệ thống ngân hàng Việt Nam và so sánh tỷ lệ tín dụng với tỷ lệ ký thác thì sẽ thấy khối tín dụng vẫn tăng mạnh hơn khối ký thác, tăng từ 103% vào đầu năm nay giờ đây đã vượt 160%, tính theo con số tháng Bảy.

- Tôi phải nói tới mấy con số rắc rối ấy để mình cùng thấy rằng các ngân hàng đang bị ngộp và nhiều cơ sở sẽ phá sản hoặc phải bị sát nhập và rằng việc hạ lãi suất sẽ càng khiến ngân hàng khó huy động được ký thác. Chưa kể là việc hạ lãi suất sẽ không trực tiếp toả rộng ảnh hưởng tốt đẹp xuống người sản xuất, hay nông gia hoặc ngư dân, như mình đã nói tới tuần trước vì bề nào họ cũng khó đi vay, trong khi tác dụng ấy lại chỉ có lợi cho một số doanh nghiệp nhà nước, hoặc những cơ sở có quan hệ chính trị thuận lợi với tay chân nhà nước.

Hỏi: Chúng ta bước qua phần thứ hai, thưa ông. Thống kê kinh tế vừa công bố có cho thấy mức nhập siêu vẫn quá cao của Việt Nam, với ảnh hưởng tất yếu là khiến đồng bạc Việt Nam mất giá. Trong khi ấy, như một chương trình kỳ trước đã trình bày, đồng Mỹ kim hết sụt giá mà còn có vẻ tăng so với các ngoại tệ khác, tức là cũng sẽ tăng so với tiền Việt Nam. Như vậy, có phải Việt Nam còn bị một sức ép rất nặng khác là tỷ giá đồng bạc sẽ phải hạ, cụ thể là phải hơn hai chục nghìn đồng mới đổi được một đô la, chứ không phải chỉ có chừng 17 nghìn như hiện nay. Điều ấy có đúng không"

- Thưa đúng vậy và vấn đề thứ hai này cũng đáng chú ý như chuyện lãi suất và chống lạm phát. Việt Nam bị nhập siêu nặng vì nhập khẩu gia tăng quá mạnh và tăng ở nhiều nơi không trực tiếp có lợi cho sản xuất, do tác động của các đại gia có quyền thế, như ta có nới tới rất nhiều lần. Họ nhập khẩu bừa phứa để trục lợi riêng và còn lập cơ sở tiếng là đầu tư ở nước ngoài để thực hiện loại nghiệp vụ tai hại ấy.

Trong khi đó, dù hối suất hay tỷ giá đồng bạc của Việt Nam được duy trì rất thấp và dù thương phẩm hay ngũ cốc đang tăng giá trên thế giới, xuất khẩu của Việt nam vẫn tăng chậm hơn số nhập khẩu. Thí dụ như nông gia Việt Nam đang bị ứ lúa gạo mà bán ra ngoài không được mặc dù giá gạo trên thế giới hiện vẫn còn cao. Hậu quả của tình trạng đó là Việt Nam sẽ còn bị nhập siêu và nói gì thì nói, mức nhập siêu tới cuối năm nay sẽ sấp xỉ khối dự trữ ngoại tệ của Việt Nam và đồng bạc Việt Nam sẽ còn mất giá rất nặng.

Hỏi: Nếu tổng kết lại thì dường như Việt Nam chưa ra khỏi đường hầm và cũng chưa thấy ánh sáng ở cuối đường hầm" Chẳng lẽ tình hình lại nguy kịch như vậy sao"

- Tôi không thích nói đến chuyện đen tối, nhưng chưa thể có ánh sáng ở cuối đường hầm mà đường hầm có thể còn sụp trên đầu mọi người như ta đang thấy tại Thủ Thiêm. Lý do là lạm phát sẽ phải hạ thấp hơn mức lãi suất hiện nay, tức là vật giá không thể tăng quá 20% so với cùng kỳ năm ngoái, hoặc không tăng quá 1,5% trong ba tháng trước mặt. Kịch bản này không thể xảy ra cho dù dầu thô có giảm tới giá dưới 100 đồng một thùng. Lý do thứ hai là dầu thô có giảm thì Mỹ kim cũng lại tăng giá và càng gây sức ép vào cơ chế kinh tế quá lỏng lẻo của Việt Nam và sẽ gây ra khủng hoảng về ngoại hối.

Hỏi: Câu hỏi cuối thưa ông. Trong viễn ảnh kém sáng sủa như vậy thì vì sao một tập đoàn đầu tư rất lớn của Mỹ là Franklin Templeton quyết định lập văn phòng đầu tư tại Việt Nam và người quản trị đầu tư nổi tiếng thế giới là ông Mark Mobius đã có những nhận định lạc quan về tương lai kinh tế Việt Nam"

- Cách đây gần hai chục năm, vào quãng 1992, tôi có dịp liên lạc với nhân vật nổi tiếng này khi Templeton chuẩn bị đổ bộ vào đầu tư trực tiếp tại Việt Nam. Khi đó, ai cũng mong là chuyện ấy sẽ thành, nhưng tôi lại nêu ý kiến ngược. Rằng trước khi vào thì phải chuẩn bị chiến lược tháo chạy - exit strategy - vì nhiều bất trắc trong cơ chế kinh tế và chính trị của Việt Nam. Sau đó, năm 1994, ông Mobius có đem tiền vào tìm các dự án đầu tư có giá trị để tải trợ kiếm lời, mà kiếm không ra. Quỹ đầu tư của ông ta phải đổi mục tiêu và cải danh thành quỹ đầu tư vào các doanh nghiệp có liên hệ đến Việt Nam, tức là đầu tư vào các công ty đầu tư vào Việt Nam. Sau cùng thì quỹ này cũng phải đóng cửa, đây là một thất bại nhỏ của ông Mobius.

Hỏi: Bây giờ, ông ta lại mở cơ sở đầu tư vào Việt Nam thì điều đó có nghĩa là tình hình đã có thay đổi hay không"

- Thưa lần này Templeton vào Việt Nam không để đầu tư trực tiếp, là bỏ tiền vào các dự án sản xuất, mà đầu tư gián tiếp, là mua cổ phần hay hùn vốn vào các doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước sẽ cổ phần hoá, trước hết hùn vốn đầu tư với Vietcombank. Nhân chuyện này, tôi xin được nhắc tới lời khuyên của ông Nathan Rothschild, nhà đầu tư nối tiếng từ đầu thế kỷ 19 sau trận Waterloo giữa Anh và Pháp. Lời khuyên đó là "khi máu chảy đầy đường thì đấy là lúc nên mua vào". Có thể là sau trận khủng hoảng và xuất huyết này, Việt Nam sẽ có thay đổi tốt đẹp hơn và người trường vốn có khi chờ đợi viễn ảnh tốt đẹp ấy, để làm chủ với giá rất rẻ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.