Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Quốc Nội: Phương Thức Xâm Nhập 2

18/04/200300:00:00(Xem: 4093)
Trong bài “2003: Chúng ta nghĩ và làm gì"” ở điểm D, tôi đã có viết: “…Một kế hoạch quan trọng có thể làm đầu cầu cho các kế hoạch khác là cần tạo nên một mặt trận mới ở ngay tại Việt Nam. Khi muốn tạo nên một mặt trận, thì điểm bắt buộc ắt có và đủ, có tầm nhìn rộng rãi và bén nhạy là điều quan trọng nhất đòi hỏi chúng ta phải hội đủ, và tìm cách bành trướng ra. Có thể đó là Mặt Trận Xã Hội (hoặc Phong Trào Dân Chủ) sẽ làm bàn đạp đến các điểm chính yếu khác. Vì đây là Mặt Trận Xã Hội nên cố giữ mức độ chậm rãi, mà không cần thiết nổi bật qua các vấn đề khác…”

“Về được trong nước, chẳng những phá thế của đảng cộng sản đang đưa người ra ngoài nước làm công tác văn hóa vận, kiều vận, mà ở hải ngoại những người Việt Nam sẽ không còn có cơ hội chỉ trích, công kích, chia rẽ ... mà đồng lòng ngồi lại đoàn kết với nhau trước kẻ thù chung.”

Nên trong loạt bài này chỉ tập trung vào phương thức xâm nhập quốc nội, tức là những công tác có thể tiếp cận được trong mặt trận xã hội. Những phương thức này cố gắng thực hiện làm sao đạt được hiệu quả, và sự thiệt hại ít nhất nếu có thể.

Những phương thức này có thể tùy theo cách nhận định của từng người, từng tổ chức. Vì tôi nghĩ rằng bất cứ tổ chức nào khi thực hiện cần nên đặt dân tộc Việt Nam trên căn bản tự do, dân chủ và nhân quyền. Kế hoạch này xin đề nghị quý vị hãy lưu tâm đến.

Phương thức này có các điểm:

điểm 1: Quyết Tâm
điểm 2: Khuấy động
điểm 3: Liên Kết
điểm 4: Hòa Nhịp
điểm 5: Tri Thức
điểm 6: Trải Rộng

điểm 4: Hòa Nhịp

Bất cứ một phương thức nào cũng có những thuận lợi và những bất thuận lợi trong đó. Quan trọng là chúng ta có thể thấy được những điểm mạnh và yếu để từ đó tìm ra phương hướng tốt hơn giải quyết vấn đề.

Trở lại Việt Nam lần này hoạt động với tính cách hợp pháp, không thể để cho cộng sản Việt Nam vu cáo là tội phạm để bắt giam. Muốn được như thế công việc tốt nhất là chuẩn bị cho thật chu đáo trước khi thi hành.

Từ nhiều năm qua nạn bão, lũ lụt, thiên tai, hỏa hoạn, v.v… đã làm cho nhiều người Việt Nam từ Nam chí Bắc sống trong cảnh màn trời chiếu đất. Nạn phá rừng, tiêu hủy mọi mầm sống của thiên nhiên, hiện nay là những tai họa cho người dân Việt Nam.

Rừng U Minh Thượng và U Minh Hạ từ trước 30-4-1975 đã yên ổn, người dân vui sống làm ăn, mặc dù có chiến tranh. Nhưng từ năm 1975 tới nay đã phải qua bao nhiêu lần cháy rừng, đã phá hủy biết bao mồ hôi và nước mắt của người dân ở vùng này. Thêm nữa, là có biết bao nhiêu cảnh bão lụt nghiêm trọng ở miền Trung, cảnh phá rừng ở Tây Nguyên, v.v… Năm nào cũng vậy, mỗi mùa hè, mùa thu tới là dân chúng lo sợ phải phòng chống thiên tai, bão và lũ lụt.

Đồng bằng Sông Cửu Long từ bao lâu nay người dân sống trong yên bình, ruộng lúa trù phú, cây trái dồi dào, nhưng nay lại phải hứng chịu bao tai nạn do thiên tai lũ lụt do chính sách ấu trỉ của nhà nước cộng sản mà ra. đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long, hiện nay có những người dân đã sống trên những chiếc thuyền con, vì nhà cửa đã bị cuốn trôi vì bão lụt. đời sống của người dân hiền hòa, mộc mạc, giờ đây phải chịu như vậy.

Do đó những tổ chức quốc tế đã lưu tâm rất nhiều cho việc phòng chống thiên tai, bão và lũ lụt. Liên Hiệp Âu Châu, Mỹ và các nước khác trên thế giới cũng đã tài trợ cho Việt Nam hàng năm nhiều phương tiện để có thể ngăn chận những thiên tai đó. Nhưng những sự tài trợ đó từ những năm qua đã bị lọt vào những tay to mặt lớn trong nhà nước cộng sản. Nên những phương tiện có được chỉ thô sơ, và ít ỏi không thể sử dụng được.

Các tổ chức quốc tế ngày nay như không còn hứng thú gì trong việc cứu giúp nữa. Chúng ta có thể tương kế tựu kế cùng vào giúp đỡ việc này. Mỗi tổ chức Việt Nam tỵ nạn của các nước nên trình bày với chính quyền, các tổ chức sở tại, kêu gọi họ cứu giúp, và người Việt Nam đồng ý về Việt Nam để làm việc này.

đây là việc làm nhân đạo, bất kỳ ai cũng có thể giúp đỡ, huống hồ chi đó là người Việt Nam chúng ta. Vì thế việc ra tay cứu trợ là việc tự nhiên. Có thể các tổ chức sẽ đồng ý. Tùy theo sự giúp đỡ của các tổ chức nhiều hay ít, chúng ta sẽ có nhiều người qua Việt Nam.

Chúng ta cần nói rõ với Tòa đại sứ cộng sản Việt Nam, trình bày sự thật và kêu gọi sự giúp đỡ của nhà nước khi chúng ta về Việt Nam để giúp đỡ những người bị thiên tai. đó là chúng ta nên lên tiếng trước, để ở đây sẽ can thiệp khi chúng ta có làm điều gì. Mọi việc ta phải xếp đặt cho thật tỉ mỉ và chu đáo mọi mặt.

Bên Việt Nam cũng sẽ có nhiều người Việt Nam cùng phụ giúp việc này. Khi cùng ra tay phụ giúp việc này là chúng ta có được một số đông người có thể tin cậy được. Dần dần có sự qua lại tiếp xúc, gần gũi, càng thêm tin tưởng được. Những số đông này có thể sẽ thành lực lượng, khi có biến cố nào đó xảy ra. Và lực lượng đó sẽ là chỗ dựa vững chắc cho ta khi muốn làm việc gì.

Ngoài những cứu giúp vì thiên tai ra, chúng ta cần nên giúp đỡ những người bị lâm vào tình trạng vô cùng túng quẫn, hay là những cô nhi, trẻ em bị tật nguyền và không được học hành, những người vô gia cư không nơi nương tựa, hoặc là những người bị thất nghiệp vì tai nạn, v.v….

Số người này thường được các cơ quan quốc tế phụ trách về xã hội đã đặc biệt quan tâm đến, nhất là những cô nhi, trẻ em bị tật nguyền không được học hành. Thông thường có những cô nhi viện, trẻ em bị tật nguyền… của những người phụ trách về tôn giáo vận động thành lập nên. Chúng ta nên gần gũi, tiếp xúc và giúp đỡ về các vấn đề nếu họ cần thiết. Nhất là việc học hành cần thiết hơn bao giờ hết.

Các bác sĩ ở ngoại quốc chịu tình nguyện về Việt Nam giúp đỡ, chữa trị những người nghèo. Thỉnh thoảng chúng ta thấy những đoàn bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, v.v… về Việt Nam làm công tác giúp đỡ từ thiện. Các sinh viên, học sinh cũng về Việt Nam để dạy tiếng Anh, hoặc Pháp. Có những đoàn về dạy ngành nghề cấp thời, nhưng khi thực hành sẽ là những công tác lớn.

đây là sự giúp đỡ thuần túy nhân đạo trong hiện tại, nhưng có ý nghĩa rất lớn theo tầm nhìn xa. đó là có những bước lâu dài cần nên hướng dẫn tốt cho các trẻ em.

điểm 5: Tri Thức

Nên nhớ, tâm niệm duy nhất của chúng ta là làm sao cho dân tộc Việt Nam có được tự do, dân chủ và nhân quyền. Muốn có được điều đó, trước hết chúng ta phải một lòng tin tưởng nhau để cùng tiến về phía trước. Phía trước có trăm đường nghìn lối. Do đó, những sự thất bại là liều thuốc quý tôi luyện cho ta sáng suốt nhận rõ con đường nào mình phải đi tới. Khi nhận rõ đường đi, ta nên cố gắng để tránh vấp ngã một lần nữa. Ngã một lần đã đủ cho ta mãi mãi ghi nhớ bài học đó.

Trong cuộc tranh đấu hiện tại đòi hỏi ý chí quyết tâm, nhận thức sáng suốt, thành thật, và cần nhất là tâm hồn phải bình tỉnh, cởi mở, vị tha… Tuyệt đối tránh những công kích, gây chia rẽ, chụp mũ cho người khác. Vì khi ta công kích, chụp mũ người, thì người cũng công kích, chụp mũ ta. Như vậy sẽ mãi mãi không bao giờ dứt. Trong khi đó, chúng ta cương quyết chỉ có đối đầu với một tập đoàn cộng sản độc quyền, bất công và tham nhũng mà thôi. Nếu như chúng ta xao lảng, chỉ biết công kích, chụp mũ nhau, thì chắc chắn không mong gì cứu vãn được đại cuộc. Tập đoàn này ngày nay có thể giương cung ra tới hải ngoại, thì chắc chắn cán cân của chúng giờ đây đã lớn mạnh đủ để chúng ta phải suy nghĩ tới.

Ngày 28-6-2002, Thủ tướng cộng sản Phan Văn Khải đã ra chỉ thị cho các cơ quan hữu quan khẩn trương thi hành các giải pháp thúc đẩy công tác thông tin tăng cường cung cấp các sản phẩm văn hóa và cử các đoàn nghệ thuật ra nước ngoài. đáng chú ý là kênh truyền hình VTV4 đã phủ sóng đến tất cả khu vực có người Việt Nam sinh sống.

Ngày 30-10-2002 Phó Thủ tướng cộng sản Vũ Khoan đã ký Quyết định số 990/Qđ-TTg của Thủ tướng Phan Văn Khải về việc thành lập Quỹ hỗ trợ, vận động Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao (gọi tắt là Quỹ hỗ trợ cộng đồng). Quỹ được thành lập trên cơ sở ngân sách nhà nước cấp. Quỹ sẽ tiếp nhận thêm các nguồn tài trợ, viện trợ và đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, cũng như các nguồn khác.

Ngày 10-10-2001 là 10 năm thành lập Chương trình Tokten Việt Nam (Transfer of knowledge through expatriate nationals), và đến 10-10-2002 là đúng 1 năm thành lập Website. Chương trình này là “Chuyển giao tri thức thông qua kiều dân”, do chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc sáng lập ra. Chương trình Tokten đã thực hiện ở 25 quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, nên được gọi là Chương trình Tokten Việt Nam.

Chương trình Tokten Việt Nam này vô cùng lợi hại, là nhà nước cộng sản muốn huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực trí thức của người Việt Nam ở hải ngoại, “đảo ngược dòng chảy chất xám”. Chương trình Tokten nhắm vào những trí thức người Việt Nam ở hải ngoại, sẵn sàng đóng góp kiến thức, kinh nghiệm vào sự phát triển của đất nước. Những chuyên gia Tokten am hiểu hơn chuyên gia nước ngoài về ngôn ngữ, văn hóa, đất nước và con người. Do đó những chuyên gia này có thể đưa ra những giải pháp phù hợp trong việc giải quyết những vấn đề khó khăn mà đất nước đang cần sự giúp đỡ.

Những năm vừa qua, cũng như hiện nay nhà nước cộng sản Việt Nam đang cho giăng ra hải ngoại với ý đồ chiêu dụ những người Việt Nam, và kêu gọi họ đem tiền của về nước. Chúng còn đưa ra những công trình, kế hoạch lớn, hấp dẫn để quyến rũ những nhà đầu tư người Việt Nam. Và trong hiện tại khả dĩ có đủ lực trong tay, chúng lại đưa ra lời kêu gọi đóng góp của những nhà trí thức đủ mọi ngành nghề về phục vụ cho đất nước.

Phục vụ cho tổ quốc là bổn phận của người dân. Nhưng người dân Việt Nam đã phải ra đi tỵ nạn khắp bốn phương trời là do đâu" Tại vì tập đoàn cộng sản độc quyền chuyên chính lãnh đạo đất nước. đảng cộng sản lại đàn áp nhân quyền, xã hội vô cùng đồi trụy, và tham nhũng đã thành một thứ bất trị trong guồng máy nhà nước. Do đó trong hiện tại đấu tranh để giành lại sự công bằng và quyền bình đẳng là nhiệm vụ của mọi người dân Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước.

Người Việt Nam khi quyết tâm tranh đấu, phải kiên quyết xác định ý chí vững vàng rằng đất nước Việt Nam là của toàn thể mọi người dân Việt Nam, và đảng cộng sản chỉ là một phần tử trong đó mà thôi. Vì thế khi tranh đấu dù trong tối hay ngoài sáng, người Việt Nam cũng giữ vững lập trường, và mục tiêu rõ ràng. Cách tốt nhất là các tổ chức, đảng phái và hội đoàn nên Hợp đoàn với nhau. Trong cuộc tranh đấu sẽ có rất nhiều phương thức, trong tối hay ngoài sáng, vì thế nếu không khéo thì sẽ đâm ra nghi ngờ, chụp mũ lẫn nhau như đã từng xảy ra trước đây và hiện tại. Muốn trong tương lai không thể xảy ra điều đó nữa, thì trước hết phải đồng thuận với nhau về một nguyên tắc chung. Không đồng thuận, không hợp đoàn với nhau sẽ không thể làm được điều gì có kết quả tốt.

Do đó một lần nữa xin thành khẩn nhắc lại, việc Hợp đoàn các tổ chức trong hiện tại là điều chính yếu và quan trọng nhất. Có hợp đoàn của người Việt Nam, chúng ta có thể phân chia các công tác cho nhau. Kể cả các công tác trong tối, địch vận.

Công tác của những người trí thức ở hải ngoại hết sức cần thiết trong lúc này. đó là cần nên về Việt Nam để làm việc cho chương trình Tokten, đề nghị những kế hoạch mà các nhân viên trí thức của cộng sản Việt Nam không thể làm và thực hiện được, mà phải nhờ đến ta. Biện pháp này là lấn dần vào mọi lãnh vực khoa học, kỹ thuật, xã hội, nhân văn, y tế, v.v… là biện pháp hàng đầu của ta.

đó là việc làm của những người Tri Thức trong hiện tại: biết việc nào nên làm, và biết việc nào không. Việc làm này ngoài sáng là chính danh, hợp pháp đối với nhà nước cộng sản Việt Nam. Nhưng trong bóng tối, một mặt là từ từ gặm nhấm những công trình của họ, mặt khác sẽ có những tình cảm thân thiết tác động vào các thành phần trí thức cộng sản, và có thể đưa những người của ta vào thay thế. Có thể thay thế được hay không, cũng còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng yếu tố chính yếu là các người trí thức Việt Nam có nhiệt tâm làm các công tác trên hay không "

đây là công tác thượng tầng về mọi ngành khoa học, giáo dục mà cộng sản Việt Nam đã mời gọi những người trí thức hãy tham gia. Những người trí thức Việt Nam ở hải ngoại, nhất là những người trẻ, trong quá khứ không có vi phạm điều gì cùng cộng sản Việt Nam, có chịu về Việt Nam hay không, chúng ta cần phải nêu cao ý nghĩa của việc làm này, và khuyến khích họ về nước. Nên nhớ những công tác này không phải ai cũng có thể làm được. Mà phải là những người trí thức có lòng yêu quí đất nước và dân tộc Việt Nam thật sự, muốn gỡ thoát xã hội ra khỏi tình trạng cộng sản độc quyền hiện tại, và thay vào đó xã hội Việt Nam tự do, dân chủ và nhân quyền hơn. Muốn như vậy tất cả mọi người con dân Việt đều phải quyết tâm không ngừng tiến lên. Có như vậy thì những người trí thức ở hải ngoại hãy mạnh dạn hơn để làm tròn sứ mạng được giao.

Làm những việc cần nên làm, làm vì sự sống còn của quảng đại quần chúng Việt Nam, tất cả đều trông đợi vào người trí thức hôm nay và ngày mai. Có như vậy người trí thức Việt Nam mới xứng đáng là nhà tri thức trong lòng mọi người.

Thập niên đầu thế kỷ 21, người Việt Nam từ ngoài nước lẫn trong nước phải cương quyết đòi hỏi, yêu cầu, nguyện vọng… cùng nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Chúng ta quyết dấy lên một phong trào rộng lớn cùng khắp để hỗ trợ cho những việc làm này.

+

Vài Nét Về Tác Phẩm ‘Đi Tìm Nhân Vật’ Của Tạ Duy Anh

Tủ Sách Tiếng Quê Hương do nhà văn Uyên Thao và một số văn hữu chủ trương ở hải ngoại vừa chọn tác phẩm Đi Tìm Nhân Vật của Tạ Duy Anh, một nhà văn ở trong nước, để giới thiệu cùng độc giả hải ngoại. Theo dự tính thì tác phẩm này sẽ in xong vào trung tuần tháng 4 năm 2003 và sẽ có mặt trong các tiệm sách vào dịp 30 tháng Tư năm nay. Dưới đây là bài viết của Tủ Sách Tiếng Quê Hương để giới thiệu tác phẩm Đi Tìm Nhân Vật, một tác phẩm mang một tầm vóc lớn về mọi khía cạnh, kể cả khía cạnh chính trị, nghệ thuật... và đã bị nhà cầm quyền cộng sản Việt nam tịch thu toàn bộ trong lần in thứ nhất tại Hànội vào hạ bán niên 2002. Trân trọng mời độc giả theo dõi.
Tạ Duy Anh là bút hiệu của một tác giả chỉ mới được người đọc hải ngoại biết tới qua một tập truyện ngắn và một tập truyện dài ấn hành tại Việt Nam.( [1]) Nhưng tập truyện dài mang tên ĐI TÌM NHÂN VẬT lại sớm mang số phận hẩm hiu: bị tịch thu ngay khi in xong tại Hà Nội vào cuối mùa thu năm 2002.
ĐI TÌM NHÂN VẬT là một tác phẩm hư cấu với những sự việc diễn biến trong một thời gian và ở một không gian hoàn toàn không xác định. Tác phẩm mở đầu bằng ý đồ của một nhân vật muốn thu góp từ các nhân chứng những sự việc liên quan tới một vụ án mạng vừa xẩy ra.
Hành vi cụ thể với giới hạn rõ ràng đó, dưới ngòi bút Tạ Duy Anh, đã mở ra một vùng trời mênh mông, đưa người đọc tiếp cận với hàng loạt vấn đề sinh tử của con người, kể cả vấn đề gai góc nhất là ý nghĩa của sự sống. Cuộc truy tầm thủ phạm đâm chết một thằng bé đánh giầy vô danh vất vưởng bên hè phố trở thành cuộc truy tầm thủ phạm bóp chết cuộc sống của cả một dân tộc - thậm chí là truy tầm thủ phạm bóp chết cuộc sống của con người trong cái thời đại vẫn được biểu dương là thời đại của ánh sáng trí tuệ hiện nay.
Tạ Duy Anh không gợi nhắc qua lý lẽ mà bằng những sự việc, cảnh ngộ, tai ương, tâm trạng... gắn liền với từng con người lọc lựa từ cuộc sống bi thảm đượm đầy chua cay và cũng không thiếu tính hài hước của xã hội Việt Nam suốt thế kỷ qua. Tác giả dẫn người đọc bước vào một cuộc sống ngột ngạt, nhầy nhụa và nhố nhăng, trong đó con người luôn bị buộc phải đứng trước lựa chọn duy nhất: Bán linh hồn để giữ thể xác hoặc ngược lại.
Bản năng ham sống đã đẩy con người tới thế sẵn sàng chối bỏ chính linh hồn mình và từ đó mọi nhơ nhuốc, mọi sa đoạ đã trở thành những hình ảnh huy hoàng được tô vẽ bằng các màu sắc rực rỡ nhất do thuộc tính dối trá, gian ác và đê tiện vẫn tiềm ẩn nơi mỗi con người. Quá trình vong thân vì sợ hãi, vì ngu dốt đã biến con người từ nạn nhân của tha nhân và thời thế thành nạn nhân của chính mình.


Bởi vì "lừa dối trở thành phương tiện đạt mục đích và được sự cổ vũ của dốt nát" để cuối cùng tạo ra một khối liên minh - lừa dối và dốt nát - với uy thế của một thiết chế quyền lực chi phối con người theo cái hướng bưng bít sự thực và lập tức đưa lên giàn hoả thiêu mọi kẻ hoài nghi thứ chân lý mà liên minh này đã ban phát. Kết quả tất yếu của thực tế này là một cuộc sống, trong đó "cái thiện bị nhân danh và trở thành thảm hại trước cái ác".
Khi cuộc sống đó tiếp tục theo năm tháng đủ để tạo nên những thói quen, hình thành một nếp sống thì con người không chỉ còn là diễn viên trong màn kịch che giấu chân tướng mà đã hóa thân thành một bày lũ cuồng tín những cái thiện bị nhân danh để tự trở nên một loại Satan lần đầu có mặt bằng xương bằng thịt rõ ràng - vì từ thuở nào Satan vẫn chỉ đơn thuần là một ý niệm.
Thế giới tiểu thuyết Tạ Duy Anh không chỉ có sự sa đoạ dục tình dưới bộ áo giả dối của Tartuffe, không chỉ có những quật quã cá nhân dưới đáy vực đạo lý suy đồi của Raskolnikov hay Karamazov, không chỉ có thái độ khước từ bướng bỉnh phảng phất nét hồn nhiên của nhân vật thần thoại Protee mà chính là những vết hằn nhức nhối ghi lại tình trạng đổ vỡ toàn diện vô phương cứu vãn của cuộc sống. Đó là cái thế giới mà trong đó con người phải tuân hành tuyệt đối những đòi hỏi đoạn tuyệt với chính mình, phải thực sự biến thành một loại bột sẵn sàng chịu nhào nặn cho phù hợp với một khuôn mẫu do các cơ chế quyền lực đúc sẵn. Đó là cái thế giới không tồn tại tình ruột thịt, không chấp nhận cảm nghĩ hay ước vọng riêng tư và tình yêu không còn đất sống dưới sự khống chế của hận thù, chém giết - vì dường như không lúc nào người ta không thể tụ họp để cùng đem một kẻ nào đó ra "ăn sống nuốt tươi".
Lần theo nhân vật của Tạ Duy Anh, người đọc khó tránh tâm trạng hoảng loạn do cái không khí âm u đe dọa luôn bao trùm các ngả đường tối tăm mù mịt. Cảm giác bơ vơ cô độc hoà trộn với những khắc khoải vì các nỗi niềm riêng, rồi sự băn khoăn ngờ vực dâng lên như thác lũ với hàng loạt câu hỏi hoàn toàn bế tắc về từng bước đi, từng cử chỉ, từng lời nói của chính bản thân để cuối cùng là cảnh huống chìm nghẹt trong tâm trạng ghê tởm và phẫn nộ.
Ngòi bút Tạ Duy Anh luôn chĩa ra trăm ngàn mũi nhọn thọc sâu vào tận đáy tim người đọc nỗi đau cùng tột. Từng dòng từng chữ như đồng loạt hét lên tiếng hét thất thanh của con người đang bị chôn sống, bị băm vằm.
- Em không đi đâu ra khỏi đây à"
- Anh bảo em nên đi đâu (nàng cười bẽ bàng) khi mà chỉ có một lối hợp với em, ấy là xuống địa ngục.
- Chỗ người bà con nào đó chẳng hạn"
- Em chỉ có một người bà con, ấy là quỷ Satan.
Đó là lời đối đáp giữa một đôi trai gái đang thầm yêu nhau. Và sau đây là đoạn đối đáp giữa hai anh em song sinh khi người anh sợ người em tìm gặp sẽ khiến bại lộ việc phủ lấp lý lịch của mình:
- Phải biết sợ mới thành người được chú ạ. Có cả ngàn thứ đáng sợ: Tai mắt ở đời (tôi nói da diết) toàn loại tai mắt rắn độc cả đấy" Kinh khủng lắm chú ơi! Rồi còn mật vụ, cảnh sát, guồng máy quyền lực luôn luôn đói khát. Nó có thể nghiền nát tôi và chú thành một thứ bùn rồi nếu cần nặn lại thành chó, thành chuột, thành bọ chét, thành giun dế... Chú có ở cạnh con quái vật ấy đâu mà biết nó đáng sợ như thế nào. Chúng ta chỉ là bánh xe, là đinh ốc thôi, bất cứ lúc nào cũng có thể ra sọt rác hoặc vào lò nung để đúc lưỡi cày, đúc nòng súng. Nhưng đấy là chân lý đang ngự trị, liệu tôi và chú có thể thay đổi được gì" Chú có hiểu điều tôi nói không"
- Tôi có được học hành gì đâu mà hiểu (ông ta tỏ ra cay đắng) toàn bộ kiến thức của tôi chỉ đủ cho tôi gí buồi vào những thứ bác vừa kể.
- Chú cứ gí buồi đi, vào giữa mặt tôi đây này. Nhưng xin chú, (tôi quỳ xuống) xin chú, vì tình con người mà buông tha cho tôi.
Cuộc đối đáp giữa hai kẻ lang thang gặp nhau trên đường phố cũng vẽ ra một khía cạnh không kém bi hài:
- Thôi, em chuyện tếu cho vui chứ biết tin vào cái gì bây giờ (gã lấm lét nhìn tôi). Bây giờ chuyện thật là bịa còn chuyện bịa thì là thật. Em cũng chịu không biết chuyện nào mình bịa, chuyện nào có thật. Đại loại bịa mãi thành thật. Còn thật mà kể mãi thì thành bịa.
- Nhưng phải có cái gì không bịa chứ"
- Ông anh cho em thấy ngay thứ ấy đi.
- Chẳng hạn cái mặt tao, cái mặt mày"
- Mặt ông anh thì còn phải xét, chứ mặt em thì bịa một trăm phần trăm. Làm gì còn của thật. Vả lại, chỉ đáng tin vào cái gì bịa ra thôi.
Trên đoạn đường phố ấy còn cất lên lời lẽ của một bà già bán xôi:
- Mời chú xơi quà!
- Cám ơn bà, tôi không đói.
Bà già rít nước dãi trở vào, nói:
- Quái lạ" Ai cũng bảo không đói. Không ai đói mà ở đâu đâu cũng nghe chuyện cướp giật, ăn cắp, giết người...
Các lời lẽ đó không do người viết tạo ra từ một nỗ lực cường điệu hóa mà chính là lời lẽ thường ngày từ thực tế xã hội Việt Nam ở thời điểm hiện nay với những hoạt cảnh không thiếu gì nơi diễn ra những trò ô uế lại vô cùng sang trọng. Cũng như không thành vấn đề khi một kẻ bán khí đốt là một thi sĩ đích thực, trong khi một thi sĩ tầm cỡ, mà vì thế anh ta có quyền đun gas, lại chỉ là một chú thợ cắt gọt.
Từ cuộc sống đó, kẻ còn loé lên một đốm sáng lương tâm đã ghi lại trong nhật ký của mình những dòng chữ sau:
"Tôi không biết mình viết lại những dòng này cho ai và để làm gì" Chỉ biết rằng đó là cách duy nhất giúp tôi đoạn tuyệt với phương pháp từng thất bại nhiều lần: Tìm một cái chết. Tôi không nghĩ mình đã gột rửa được lương tâm mình. Nhưng ít ra tôi cảm thấy mình đã có cái để chống lại sự kính trọng mà người đời mù quáng dành cho tôi. Bởi vì sự kính trọng ấy, chính là hình phạt khủng khiếp nhất giáng lên đời tôi. Chính nó đã tước của tôi khả năng cuối cùng nói ra sự thật. Tôi biết có nhiều người như tôi, không được quyền nói ra sự thật của đời mình. Bởi vì xóa bỏ trong ký ức người khác một thần tượng, còn báng bổ hơn cả việc lừa dối họ. Họ cần sự lừa dối như kẻ đi giữa sa mạc cần ảo ảnh về một con suối. Do đó, lịch sử thường không bao giờ đúng như bản thân lịch sử..."
Còn đây là cuộc đối đáp giữa hai người cầm bút:
- Tôi sợ phải đối mặt với sự thật. Giả dụ nếu cụ, ông, bố tôi từng giết người và việc các vị bị giết chỉ là báo ứng của số phận, thì sao" Tôi sẽ chạy trốn vào đâu" Lịch sử nhiều khi nham hiểm lắm!
- Hẳn là thế!
Ông Bân gật gù:
- Tôi cũng nghĩ như anh là không nên hiểu quá kỹ về lịch sử. Nó là chiếc bình quý nhưng đừng có thò tay vào bởi rất có thể một con rắn nào đó sẽ đớp cho anh một phát. Vả lại, bản thân nó chỉ thiêng liêng khi tù mù...

Lạc hướng, mất niềm tin, vô tư cách là những nét xuống cấp nhẹ nhất của con người trong thế giới tiểu thuyết Tạ Duy Anh - vì kẻ thắng ở đây chỉ là ác quỷ và sự lừa dối.
Những năm qua, người đọc đã hơn một lần đối diện với bức chân dung Việt Nam được ghi nhận từ nhiều góc độ. Với Dương Thu Hương là thảm cảnh đày đoạ do một cuộc chiến thúc đẩy bởi sự lường gạt. Với Vũ Thư Hiên là sự dãy dụa giữa những thủ đoạn độc ác và xảo trá của một cơ chế thống trị tham tàn. Với Bùi Ngọc Tấn là gông cùm của tù ngục vốn đã trở thành thứ quen thuộc với những con người bình thường. Với Văn Quang là sự tan rã đương nhiên của đạo lý dưới sức tàn phá của nghèo đói, bất công ...
Tạ Duy Anh góp thêm vào đó một bức chân dung nữa, nhưng từ góc nhìn hoàn toàn cách biệt. Khác với tất cả các tác giả đã kể luôn đặt cảnh ngộ vào vị thế trọng tâm của tác phẩm, Tạ Duy Anh không dựng lại những cảnh ngộ vây hãm, thúc ép, chi phối con người để mổ xẻ, phân tích hay phê phán. ĐI TÌM NHÂN VẬT đã đồng hoá cảnh ngộ với con người, coi cảnh ngộ cũng chỉ là kết quả tất yếu khởi từ một động cơ để dọi ánh sáng về phía nguyên uỷ hình thành động cơ đó. Những day dứt, những đau xót, những hãi hùng vì các cảnh ngộ chiến tranh, ngục tù, áp chế... gần như chỉ là những nét mờ nhạt trước nỗi băn khoăn về nguồn cỗi của một xã hội ghê tởm tột cùng - cái xã hội gồm chứa những cảnh ngộ đó cùng với sự vong thân nhơ nhuốc chưa từng có của con người. Giữa vòng xoay chóng mặt của các tuyến sự việc, giữa mối đan kết chằng chịt tình cờ của các nhân vật, luôn chỉ nổi bật một nghi vấn của những ai còn một chút tỉnh táo: Tôi có còn là tôi không và thực sự thì tôi là ai"
Hơn hai mươi thế kỷ qua, con người đã có dịp bâng khuâng với giấc mơ hoá bướm khi phải xác định về bản thân. Nhưng lúc này không phải là giấc mơ của Trang Tử mà là một nghi vấn hừng hực sức nóng của lửa thiêu.
Tuy nhiên, sự nổi bật của nghi vấn gần như không cần lời giải đáp mà chỉ có tác dụng thúc đẩy tập trung vào cái nguồn cỗi đã dẫn đến - cũng như cái hướng nỗ lực để vượt qua - cuộc sống khiến con người bị vò xé, bị vây hãm bởi chính nghi vấn đó.
Hầu hết các nhân vật còn một chút tỉnh táo của Tạ Duy Anh đều lâm cảnh không còn chọn lựa nào khác ngoài sự tự kết liễu, vì đây là việc duy nhất còn có ý nghĩa mà họ có thể làm - tiến sĩ N. suốt đời chỉ làm được một việc có ý nghĩa: ấy là tự sát!
Cũng có thể nói thế với mọi nhân vật khác như cô gái gọi cao cấp Thảo Miên, như nhà văn Trần Bân, như gã thợ săn đã hạ sát người gác rừng vv… Chính nhân vật Trần Bân đã từng tâm sự cùng người bạn trẻ:
- Tôi sắp có quà cho cậu. Tôi tin đó sẽ là món quà có ý nghĩa với cậu bởi vì đó chính là cái chết của tôi. Tôi sẽ tặng cậu cái chết của tôi như một tặng vật ghi dấu tình bạn của chúng ta.
Vì còn nỗi nhơ nhuốc nào lớn hơn sự tiếp tục cầm bút khi nhà văn đã thấy rõ đang sống ở cái xứ luôn đòi hỏi mọi việc viết lách đừng biến thành nghệ thuật và đã nhìn thấy tác phẩm của mình chỉ là rác rưởi - Cậu thì có bộ sưu tập kinh tởm còn tôi là những trang giấy chùi đít không đáng!
Nhưng tự sát là hành vi ý nghĩa nhất mà con người có thể làm thì tự sát vẫn thể hiện sự tuân phục cái kỷ luật mà cơ chế quyền lực đã áp đặt. Tự sát chỉ giúp con người chấm dứt kiếp ngựa trâu chứ không mở được lối phục sinh, khi cuộc sống nhầy nhụa kia tiếp tục tồn tại. Bởi nói cách nào thì tấn tuồng phiêu lưu mang con người ra thể nghiệm dưới ánh sáng của thứ lịch sử bịa đặt nhuốm đầy nọc độc của loài rắn sẽ chỉ đẩy con người tới vị thế kẻ thù không đội trời chung với cuộc sống tương lai mà thôi. Tấn tuồng đó chưa chấm dứt thì cuộc sống tương lai chưa thể gọi là cuộc sống của con người - vì con người vẫn tiếp tục bị thúc đẩy phải tiêu diệt nó. Cho nên tiến sĩ N. đã quả quyết rằng việc tự đi tìm cái chết không thể giúp ông gột rửa nổi cái lương tâm ô uế mà chỉ là hành vi chạy trốn cái hình phạt phải đối diện với nỗi vò xé khi nhận ra chính mình đã cúi đầu tuân thủ các lệnh truyền để tự làm ô uế lương tâm mình. Ông có một phút giây giành lại tự do, nhưng con người trong bản thân ông không tìm được lối phục sinh vì vẫn thực sự bị tiêu diệt theo cái hướng mà cơ chế đã nhắm.
Quá trình đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, cuối cùng, đã hiện hình là quá trình đi tìm hướng phục sinh cho cuộc sống. Và người đọc có thể bắt gặp cái ánh sáng mà Tạ Duy Anh muốn thắp lên: Ánh sáng Tự Do - thứ ánh sáng lung linh kỳ ảo chưa từng có đã soi tỏ cho thấy mọi thang bảng giá trị đều lộn ngược, theo đó kẻ đi cuối thì nay lên đầu. Những gì bị xua đuổi thì nay được đón nhận. Những gì là thiêng liêng thì chỉ giống như một trò hề. Ngài X, ngài Y, ngài F... bị nhốt ở nơi dành cho cầm thú...Và thay cho những chiếc bệ đặt xác người phải là những ô chứa xác các loại tư tưởng được gom về đây dưới dạng xác chết.
Thứ ánh sáng trên đã hoàn toàn tắt ngúm khi khối liên minh lừa dối và dốt nát lên ngôi để cái thiện chỉ còn là cái thiện bị nhân danh và con người hoá thân thành quỷ dữ. Muốn thắp lại thứ ánh sáng đó, tất nhiên không thể kéo dài cảnh khép mình giữa vòng vây sợ hãi để tiếp tục cúi đầu trước cái khối liên minh lừa dối và dốt nát kia:
- Chu Quý này, cậu đã xem bộ phim Bạch Tuộc chưa" Mình muốn cậu lưu ý đến một câu trong đó, đại thể: "Lịch sử là những gì người ta tin, hơn là những gì diễn ra".
Tôi không trả lời ông, chỉ nhắc lại:
- Bộ phim ấy còn có tên là "Một mình chống lại Mafia". Tôi thích cái tên đó hơn.
Tạ Duy Anh không đưa ra lời giải đáp nào cho hàng loạt nghi vấn trên đường đi tìm của mình, nhưng người đọc có thể nhìn thấy khá sáng tỏ cái điều mà tác giả muốn nói lên: Chính sự hèn nhát và ngu dốt của con người đã khiến cho quỷ dữ trở thành kẻ thắng trong cuộc sống - cụ thể hơn là những động cơ tệ hại kia đã hình thành cái cuộc sống vong thân hiện nay của cả dân tộc Việt Nam. Vấn đề chủ yếu được đặt ra không phải là trò lẩn tránh của thứ đầu óc khôn lỏi vị kỷ, cũng không phải là sự chạy trốn - kể cả chạy trốn vào cõi chết.
Chính trong cái hướng này mà nhân vật của ĐI TÌM NHÂN VẬT đã nhận được những dòng chữ có thể coi như bức thông điệp cuối cùng của sự sống: "Lý trí tỉnh táo và chắc chắn là sáng suốt của tôi muốn tôi khuyên ông nên tránh xa cô gái mà ông vẫn đem lòng tơ tưởng. Một ngàn lần cô ta không xứng với ông! ".
Điểm bất xứng cao nhất của cô gái chính là hành vi nổi lửa hoả thiêu cái thân xác nhầy nhụa của mình. Hiển nhiên đây là một hành vi can đảm tuyệt vời nhưng cũng chỉ là một hành vi hèn nhát, vì không vượt khỏi ý đồ chạy trốn.
Vì thế, ý nghĩ đến với nhân vật lúc đó là sự nhớ lại những dòng nhật ký của cha mình trước khi từ giã thế gian và chợt nghe vẳng xuống từ trời lời nhắc nhở:
- Can đảm lên con, đừng sợ!
Phải chăng Tạ Duy Anh muốn nhắc đến truyền thống dân tộc từng thể hiện qua nhiều giai đoạn lịch sử hào hùng của cha ông"
Và, có thể coi ĐI TÌM NHÂN VẬT là một thông điệp gửi cho mọi người dân Việt với tiếng gào bi thiết: Hãy đương đầu, thay vì hèn nhát cúi đầu bởi sợ hãi và ngu si để chỉ biết tiếp tục than van hay chạy trốn trước quỷ dữ.

*
Người đọc và cả người viết tại Việt Nam khoảng mười năm trở lại đây chắc chắn khá quen thuộc với những tác giả hiện đại Trung Hoa như Cao Hành Kiện, Giả Bì Ao, Mạc Ngôn …
Nhưng trên thực tế, những Dương Thu Hương, Bùi Ngọc Tấn … đã tỏ ra hoàn toàn tự chủ khi sáng tác, dù đề tài thường có những nét tương hợp và tên tuổi của những tác giả trên luôn như một vừng sáng chói loà.
Với ĐI TÌM NHÂN VẬT, Tạ Duy Anh cũng tự chứng tỏ sự vững vàng của một ngòi bút tự tin và đầy bản lĩnh. Trong từng khoảnh khắc, người đọc có thể gặp ở Tạ Duy Anh một nét mỉa mai cay độc của Vũ Trọng Phụng, một sự ví von bay bướm của Hoàng Hải Thuỷ, một cảnh ngộ u uất nào đó từng có với Bùi Ngọc Tấn, với Dương Thu Hương hay những nhà văn Trung Hoa đang nổi tiếng như cồn, nhưng đây chỉ là gặp gỡ tự nhiên khi mà xã hội Trung Hoa và xã hội Việt Nam vẫn chỉ là một kịch bản với nhiều biến cố tương đồng và giọng văn phóng sự châm biếm trong nhiều trường hợp vẫn là cách thế diễn tả tuyệt vời nhất.
ĐI TÌM NHÂN VẬT xứng đáng với một vị thế đáng kể bên cạnh các tác phẩm giá trị hiện nay của văn học Việt Nam. Đây là lý do thứ nhất khiến Tủ Sách Tiếng Quê Hương quyết định ấn hành tác phẩm này. Ý thức trách nhiệm xã hội không cho phép chúng ta để những công trình tim óc đáng trân trọng của người cầm bút chìm lấp vào lãng quên do hành vi vùi dập của một tập thể bạo quyền.
Kế tiếp, chúng tôi cũng không thể sơ sót với bạn đọc khi đã tự chọn công việc tìm kiếm để giới thiệu những tác phẩm đáp ứng đúng nhu cầu đọc sách của mọi người.
Tiếp nữa, quan trọng hơn, chúng tôi nghĩ rằng ĐI TÌM NHÂN VẬT là bức chân dung không thể thiếu đối với các thế hệ mai sau khi muốn nhìn lại cuộc sống đích thực của đất nước chúng ta ở giai đoạn hiện nay.
Cuối cùng và cấp bách hơn hết là bổn phận chuyển giao lời kêu gào bi thiết của bức thông điệp giữa những người còn mang nặng mong ước đổi đời cho quê hương.
Xin mời các bạn bước vào thế giới tiểu thuyết của Tạ Duy Anh.
Tủ sách TIẾNG QUÊ HƯƠNG
GHI CHÚ:
[1] Cho tới nay, hiểu biết của chúng tôi về Tạ Duy Anh chỉ giới hạn ở mức biết Tạ Duy Anh là tác giả tập truyện ngắn LÃO KHỔ và tập truyện dài ĐI TÌM NHÂN VẬT do nhà Văn Hoá Dân Tộc ấn hành tại Hà Nội trong quý 3 năm 2002. Chúng tôi sẽ xin giới thiệu cùng độc giả về con người và hoạt động văn nghệ của tác giả Tạ Duy Anh sau khi thu góp được đầy đủ các dữ liệu cần thiết.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.