Hôm nay,  

Giới Thiệu Nhà Văn Áo Quốc: Joseph Roth

27/12/200300:00:00(Xem: 5565)
Giới Thiệu Nhà Văn Áo Quốc: Joseph Roth

Nghề của tui không phải là để làm hài lòng ông Giời.
Bố ai biết tại sao Thằng Chả lại chọn cái nghề đó cho tui.
My profession was not to pleasing God,
but His inscrutable will had selected it for me.
Joseph Roth
Lời thú tội của một tên sát nhân
[The Cofession of a murderer]
"Tôi viết nó thẳng một lèo," Roth viết thư cho bạn mình, là Stefan Zweig, sau khi hoàn tất cuốn sách vào năm 1936. Trường hợp Joseph Roth là cái ngược đời vốn chỉ dành cho những bậc đại trí, đại nhân, thí dụ như Kafka. Vốn được coi là một trong những nhà văn quan trọng nhất của thế kỷ, nhưng lại được rất ít người đọc. Có vẻ như gần đây, nhân loại bắt đầu sửa sai, về những lỗi lầm trọng đại như trên. Nadine Gordimer, nhà văn Nam Phi, Nobel văn chương trên tờ Điểm Sách Nữu Ước, coi toàn bộ tác phẩm của ông, một “tragédie humaine”, Bi Kịch của Con Người, được viết bằng kỹ thuật giả tưởng hiện đại. Ngoài ông ra, không nhà văn hiện đại nào, ngay cả Thomas Mann, tới gần được cái toàn thể, một mục tiêu bất khả của chúng ta – our impossible aim - theo nhà phê bình Mác xít G. Lukacs.
Roth, cho tới khi ông mất vào năm 1939, là một trong số những nhà văn Đức lỗi lạc nhất, lưu vong. Thành thạo môn võ công Song Thủ Hổ Bác, tác phẩm của ông vừa là giả tưởng vừa là báo chí. với những nối kết thật khó mò, giữa lưu vong và thân phận của riêng từng con người [điều mà chúng ta gọi là "căn cước", identity], giữa đời tư và đời công, Lời Thú Tội Của Một Sát Nhân, nằm trong dòng Conrad [với cuốn Tên Mật Vụ, The Secret Agent], Dos [với Tội Ác và Hình Phạt]... là một dẫn nhập tuyệt hảo vào cái thế giới của những Ông Cố Vấn, Ván Bài Lật Ngửa, Thời Gian Của Người, Người Mỹ Trầm Lặng...
Joseph Roth, tên khai sinh là Moses Joseph Roth, sinh ngày 2 tháng Chín, 1894, trong một gia đình Do Thái, tại Brody, Galicia, vùng cực đông của đế quốc Habsburg lúc đó. Mất ngày 27 tháng Năm 1939 tại Paris. Ông chẳng bao giờ nhìn thấy bố, biến mất trước khi ông ra đời, và sau đó mất vì bịnh điên. Được mẹ và gia đình bên ngoại nuôi nấng. Học Brody, đại học Lemberg, Lvov hay Lviv sau chuyển qua Vienna vào năm 1914. Phục vụ một, hoặc hai năm trong quân đội Áo Hung tại mặt trận miền đông, như là phóng viên hay censor [kiểm duyệt viên]. Sau đó, ông viết, “Kinh nghiệm mạnh nhất của tôi là về Chiến Tranh và sự huỷ diệt quê cha [fatherland], thứ độc nhất mà tôi có được, đó là đế chế Áo Hung.”
Vào năm 1918, ông trở lại Vienna, bắt đầu viết cho những tờ báo khuynh tả với cái tên là Roth Đỏ, ‘der rote Roth’, Roth, một tay xã hội chủ nghĩa với trái tim chảy máu, ‘the bleeding heart Socialist”. 1920 ông dời tới Berlin, và vào năm 1923 ông cộng tác với báo Frankfurter Zeitung. Những năm tiếp theo, ông đi du lịch suốt Âu Châu, và từ những nơi đó, viết bài về cho báo trên: miền nam nước Pháp, Liên Xô, Albania, Đức, Ba Lan, và Ý. Ông là một trong những phóng viên số một, và được trả tiền hậu hĩ nhất - một thứ tiền nhuận bút như trong mơ, the dream rate - vào thời đó: một Đức mác/một dòng!
Một số bài sau được in trong The Panopticum on Sunday (1928), và trong Wandering Jews [Do Thái Lang Thang, 1927]: một cái nhìn khô khan về vị trí của những cộng đồng Do Thái tại Đông và Trung Âu.
Roth, trong thời gian là phóng viên tại Vienna, là một trong những văn đầu tiên ngửi ra những thảm hoạ sắp tới, sẽ do Hitler gây ra. Ông cũng là người đầu tiên chống lại những người Cộng Sản, nhận ra bản chất ma quỉ của sự cai trị của Stalin [recognizing the evil nature of Stalin’s rule].
Khi Nazi lên nắm quyền vào năm 1933, Roth sống tại Paris, nhưng còn ở Amsterdam, Ostende, miền nam nước Pháp, viết cho những tờ báo lưu vong.
Như Walter Benjam - người đồng thời, đã từng viết cho tờ Frankfurt, đã từng đi Liên Xô và vỡ mộng - nhận xét về Roth, rằng Roth đã tới Liên Bang Xô Viết như là một tay Cộng Sản tin tưởng ở chủ nghĩa này, nhưng khi rời nơi đây, như một tay Royalist: Quan điểm chính trị royalist, bảo hoàng, thực ta chỉ là cái mặt nạ che giấu niềm bi quan chán chường của Roth. Bài viết cuối cùng của ông có nhan đề là “Goethe’s Oak [Cây Sồi của Goethe tại] at Buchenwald”. Buchenwald sau đó, là một trong những trại tù và lò thiêu người của Nazi.
Những năm cuối đời của ông thật là vất vả. Rời khách sạn này tới khách sạn khác, uống như hũ chìm, khốn khổ vì tiền bạc và tương lai thì thật là mù mịt. Ông hoàn toàn suy sụp khi nghe tin nhà soạn kịch Erns Toller treo cổ tự tử tại Nữu Ước. Trong những giấy tờ để lại của ông, có một thiệp mời của Pen Club [cơ quan này đã đưa Thomas Mann và nhiều người viết khác tới Mỹ].
Thật khó mà tưởng tượng nổi, một nhà văn Roth, trên một chiếc thuyền trực chỉ Thế Giới Mới, và sau đó, tiếp tục sống, và viết ở đó, và tuyên bố: không đi đâu nữa!
Thế giới của ông là một thế giới cũ, và ông sống, đến nát bấy, không chỉ một, mà cả hai, cái thế giới đó, và chính ông.
Trong lời dẫn khi dịch Tập Truyện Ngắn của Roth, Michael Hofmann viết:
Hình như có hai loại tiểu thuyết gia. Một, hãy nghĩ tới Kafka, hay Lawrence, hay Hemingway, hay Scott Fitzgerald, hay Thomas Mann, hay Jean Rhys, hay Paul Bowles, là những người có chút chú ý đặc biệt về cái gọi là truyện ngắn, [short fiction], ban cho nó một tí quan tâm, lại cũng đặc biệt, về kỹ thuật, và sau cùng, "bèn" viết chúng. Và những người khác - Dickens, Flaubert, Turgenev, Woolf, ngay cả Joyce - là những người cũng viết truyện ngắn, nhưng thường 'viết là viết', thoải mái, vô tư mà viết, giống như một thứ phó sản phẩm, hay là một phần của cái gọi là chuyện nghề của họ, 'đã đem nghiệp ấy vào thân, thì đành cũng thử xoay vần với cái gọi là truyện ngắn [với Nguyễn Du, cái gọi là lục bát], xem sao!
Với nhóm trên, người đọc, khi đọc những truyện ngắn của họ, là tìm cái mẫn cảm, cái có giá trị, của cái gọi là văn chương. Với nhóm dưới, đọc họ thấy kỳ kỳ [peculiar], cứ như là bị ép phải đọc! Không phải là họ viết dở, không có chi là đặc biệt ở trong đó, nhưng có lẽ, là do cảm giác này: những truyện ngắn của họ viết ra đó không hẳn là những truyện ngắn, không phải thứ tuyệt tác, theo đúng như cách mà người ta thường định nghĩa truyện ngắn là phải như vậy, nhưng thuộc vào cái khối đồ sộ là toàn bộ tác phẩm của họ, toàn thể cuộc đời của họ.
Joseph Roth thuộc nhóm này.
Sau đây, là bài viết của J.M. Coetzee, điểm Tập Truyện Ngắn của Joseph Roth, The Collected Stories, [dịch từ tiếng Đức với lời giới thiệu của dịch giả Michael Hofmann], trên tờ Điểm Sách Nữu Ước, NYRB, số đề ngày 28 tháng Hai, 2002. Dịch giả đã từng được giải thưởng the PEN/Book-of-the-Month Club Prize, cho bản dịch Câu Chuyện của Đêm thứ 1 ngàn lẻ 2 [The Tale of the 1,002nd Night], của Joseph Roth.
Từ 1848 tới 1916, vào lúc biên cương rộng rãi nhất, thần dân của Franz Joseph, Đại đế Áo và Hoàng đế Hung, có cỡ chừng trên năm chục triệu. Chưa đầy ¼ trong số đó, với họ, tiếng Đức là ngôn ngữ thứ nhất. Ở mẫu quốc, tức Áo quốc, đám thứ dân đều là một tên Slav, theo một kiểu nào đó, nghĩa là hoặc dân Czech, Slovak, Pole, Ukrainian, Serb, Croat, Slovene. Bất cứ một cộng đồng sắc dân trên đều hoài bão sẽ trở thành một quốc gia, với quyền hạn, sắc thái văn hóa, phong tục của riêng nó, bao gồm luôn, một thứ tiếng nói quốc gia, một thứ văn học quốc gia, của giống nòi nhà mình.
Lỗi lầm của đế quốc, là đã coi nhẹ những hoài bão như thế, khi cho rằng, một cuộc sống hiền hòa, đa văn hóa, giầu có, ngày thêm tươi sáng sẽ nhận chìm những tiếc nuối quá khứ, truyền thống, những hão huyền về một quốc gia riêng biệt, đẩy lùi chủ trương tách biệt [separatism], hoặc tình cảm bài Đức. Và khi chiến tranh bùng nổ vào năm 1914, được hỗ trợ thêm bởi những hành động khủng bố sắc tộc, đế quốc Áo Hung đã trở nên quá yếu, không làm sao chống lại nổi quân đội Nga, Serbia, và Ý, tại những biên cương của nó, và cuối cùng vỡ ra từng mảnh.
“Áo Hung không còn nữa”, Sigmund Freud viết cho chính mình, vào Ngày Đình Chiến, năm 1918: “Tôi không muốn sống ở bất cứ một nơi nào khác… Tôi sẽ sống trong què cụt như vậy, và tưởng tượng mình vẫn còn đầy đủ tứ chi.” Ông nói không chỉ cho chính ông mà còn cho rất nhiều người Do Thái của văn hóa Áo-Đức. Sự chia năm sẻ bẩy cựu đế quốc, và cùng với nó, sự vẽ lại bản đồ Đông Âu tạo nên những quê hương mới dựa trên sắc dân, chủng tộc làm bật ra một sự kiện thê thảm: Người Do Thái không làm sao chỉ ra, chỗ này, chỗ kia, vốn xưa kia là nhà của tổ tiên họ. Họ không có nhà riêng trong một Đông Ấu mới mẻ đó. Trước đó, họ vẫn coi cái đế quốc Áo Hung, như là nhà của họ, hay nói rõ hơn, cái nhà nước đế quốc siêu quốc gia cũ đó hợp với họ. Sự tái sắp xếp thời hậu chiến là một tai ương với người Do Thái. Và những năm đầu tiên của nhà nước Áo mới mẻ, ốm yếu bịnh hoạn, với sự thiếu hụt thực phẩm, nạn lạm phát là mất tiêu bao chắt chiu dành dụm của tầng lớp trung lưu, bạo lực trên đường phố giữa những lực lượng địa phương, phe nhóm… chỉ làm tăng thêm nỗi khốn khó của họ. Một số đã nhìn về Palestine như là một nhà nước [a national home]; những người khác quay qua cầu cứu chủ nghĩa siêu quốc gia cộng sản.


Hoài nhớ quá khứ đã mất, và nỗi nhức nhối về một tương lai không nhà, là ở ngay tâm của mọi tác phẩm viết vào lúc đương độ [mature work], của tiểu thuyết gia Áo, Joseph Roth. “Kỷ niệm không làm sao, không thể nào quên được của tôi, là chiến tranh và sự chấm dứt quê cha, ‘quê hương độc nhất’ mà tôi đã từng có: vương quốc Áo Hung”, ông viết vào năm 1932. “Tôi yêu quê cha đó”, ông tiếp tục viết về nó, trong lời mở tác phẩm The Radetzky March. “Nó cho phép tôi là một kẻ ái quốc, và là một công dân trong số tất cả những con người Áo, và cũng là người Đức. Tôi yêu những đức tính và những phẩm hạnh của cái quê cha đó, và giờ đây, khi nó đã chết, và đã rời bỏ, tôi yêu luôn cả những cái dởm dáng, những cái yếu đuối của nó.” The Radetzky March đúng là một bài thơ lớn, một ai điếu cho một xứ sở có tên là Hadsburg Australia, được viết ở một miền ven biên của xứ sở vương giả này; một cuốn tiểu thuyết lớn lao của một kẻ chỉ có một tí dấu chân của mình, ở trong cái cộng đồng văn chương Đức.
Moses Joseph Roth sinh năm 1894 tại Brody, một thành phố thuộc loại vừa vừa, cách biên giới Nga xô vài dặm, thuộc vùng Galicia nghèo khổ đa số là người Ukrainians, Poles, và Do Thái. Vào thập niên 1980, hai phần ba trong số này là Do Thái.
Trong những vùng nói tiếng Đức thuộc đế quốc Áo Hung, dân Do Thái không được coi trọng. Là một chàng trai đến từ phía Đông, tìm đường tiến thân tại Vienna, Roth giấu nhẹm nguồn gốc của mình, bịa ra một nơi sinh, Schwabendorf, một thành phố Đức, và thành phố giả tưởng này đã có tên trên những giấy tờ tuỳ thân của ông. Ông bịa ra một ông thân sinh, lúc thì là chủ xưởng, lúc sĩ quan, khi viên chức cao cấp của nhà nước, khi họa sĩ, nhà trưởng giả Ba Lan. Sự thực, Nachum Rothm, cha ông, là nhân viên hãng buôn ngũ cốc của người Đức tại Brody. Ông con Moses không hề biết ông bố Nachum: vào năm 1893, ngay ít lâu sau hôn nhân, trên một chuyến đi bằng xe lửa tới Hamburg, ông bố phát chứng thiên đầu thống [a brainstorm of some kind], và được đưa tới nhà bịnh, chẳng bao giờ hồi phục để trở lại Brody.
Moses được nuôi nấng bởi bên mẹ, một gia đình khá giả Do Thái đã hội nhập. Học trường cộng đồng Do Thái, nơi tiếng Đức là chính, sau tại gymnasium [phòng tập thể dục] nói tiếng Đức tại Brody. Nửa số bạn học của Roth ở đây là Do Thái. Với những chàng thanh niên Do Thái tới từ phía Đông, học vấn Đức sẽ mở cho họ cánh cửa vào thương mại, vào văn hóa thống trị.
Vào năm 1941, Roth ghi danh Đại học Vienna, vào lúc này có cộng đồng Do Thái đông đảo nhất tại Trung Âu, chừng 200 ngàn mạng, sống trong một ghetto tự tâm tự nguyện của họ, thì cứ nói như vậy cho tiện. “Chua lắm đấy, là số phận một tên Ostjude” - một người Do Thái đến từ phía Đông – Roth nhận xét, và nói thêm, “Nhưng chua hơn nhiều, là số phận một tên Ostjuden ở bên ngoài cộng đồng Do Thái, ở Vienna.” Đó là số phận trên đe, dưới búa, một cổ hai tròng, không những bị người Đức ghét mà còn bị người Do Thái ở phía Tây tẩy chay.
Roth học cừ, nhất là môn văn chương Đức, mặc dù, gần như suốt buổi học, anh nhìn đám thầy dậy của mình, và nhận ra rằng, họ thuộc loại bảo sao nghe vậy, và mô phạm. Sự khinh khi này xuất hiện trong những bản viết đầu tay của ông, qua đó, ông cho rằng cái kiểu học vấn như vậy của nhà nước chỉ tạo ra những con người nhút nhát, không dám có những phát kiến, thiếu hứng khởi. Ông làm part time, là phụ giáo cho đám con một nữ bá tước, và học ngay được thói dởm dáng của lớp người quyền quí, nghĩa là cũng biết “liếm” [kissing] tay mấy cô nường, tay cầm cây can vung vẩy, và đeo kiếng một mắt! Và chàng bắt đầu in thơ!
Học vấn của chàng, vốn nhắm một nghề khoa bảng, kể như tiêu do chiến tranh xẩy ra. Vượt lên khỏi những cảm tính hiếu hoà, chàng lao vào nghề lính, vào năm 1916, và bỏ luôn cái tên Moses. Trong quân đội của nhà vua, sự căng thẳng về mầu da thật căng, và thế là chàng bị tống ra khỏi những đơn vị nói tiếng Đức. Roth trải qua những năm 1917-1918 trong những đơn vị nói tiếng Ba Lan, tại vùng Galicia. Kinh nghiệm đoạn đời này là đề tài cho một số tác phẩm sau đó, đặc biệt, ông đã từng là một sĩ quan và là tù binh chiến tranh tại Nga Xô. Những năm sau đó, ông vẫn tiếp tục sử dụng những tiếng lóng của đám sĩ quan quân đội.
Sau chiến tranh, Roth bắt đầu viết cho những nhật báo, và dần dà nổi tiếng trong số những cư dân của Vienna, trước chiến tranh là thủ đô của một đế quốc lớn lao, sau, chỉ còn là một thành phố nghèo khổ với hai triệu thị dân của một xứ sở bẩy triệu người. Hy vọng khấm khá hơn, Roth và bà vợ mới, Friederike, dời tới Berlin. Ở đây ông viết cho một số nhật báo có khuynh hướng cởi mở [liberal], nhưng còn viết cho báo thiên tả Vorwarts, ký bút hiệu là Der rote Joseph, Joseph Đỏ [Joseph the Red]. Cuốn tiểu thuyết fơi-dơ-tông thứ nhất của ông ra đời, gọi là fơi-dơ-tông, là bởi vì viết từng kỳ cho nhật báo, có tính nhật báo, và còn do ông bẻ chúng ra thành những phần ngắn. Cuốn Mạng Nhện [tên tiếng Anh The Spider’s Web, 1923] chủ yếu đề cập tới đe dọa về mặt đạo đức và tinh thần trước “cao trào” của chủ nghĩa phát xít cánh hữu. Cuốn sách xuất hiện ba ngày trước cú đảo chánh đầu tiên của Hitler.
Vào năm 1925, Roth được tờ Frankfurter Zeitung cử làm phóng viên tại Paris. Đây là một tờ báo dẫn đầu có khuynh hướng cởi mở, và tờ báo biến ông thành một trong những ký giả đuợc trả tiền bảnh nhất tại Đức vào lúc bấy giờ. Ông tới Berlin, với ý nghĩ, mình sẽ là một nhà văn Đức, nhưng ở Paris, ông khám phá ra rằng ở trong tim của mình, là “một ông Tây đến từ phía Đông” [a Frenchman from the East]. Ông sa vào mê hồn trận của cái mà ông gọi là “dáng liễu mượt mà của Đầm” [the silkiness of French Women], nhứt là những bà đầm vùng Provence.
Ngay từ khi còn trẻ, Roth đã tạo cho ông một thứ tiếng Đức trong sáng, uyển chuyển. Ở Tây, sử dụng Stendhal, Flaubert - nhất là Flaubert của cuốn Một Trái Tim Đơn Giản, Un Coeur Simple – như là những khuôn mẫu, ông hoàn thiện cho mình một văn phong già dặn, lão luyện, và có thể tự hào về tuyệt tác của ông, The Radetzky March, như Flaubert đã từng tự hào,“Bà Bovary, đó là tôi” [Madame Bovary, c’est moi]. Chẳng ngưng ở đó, ông còn ve vuốt giấc mơ, rằng tại sao mình không chọn khung trời Tây, để mà sống đẹp quãng đời tiếp theo, và, tiện thể, viết văn bằng tiếng Tây"
Tuy nhiên, chỉ một năm sau, tờ báo thay người tại văn phòng Paris. Bất mãn, ông bèn làm một chuyến đi Nga. Ông “cẩn trọng” văn phòng chính của tờ báo, rằng, “tính tôi vậy, vốn vẫn thường hài hước, châm biếm về những định chế, những thói đạo đức và phong tục của thế giới trưởng giả, nhưng đừng nên dựa vào đó mà xem nhẹ những bài viết của tôi về nuớc Nga và “những hậu quả đáng ngờ” của Cuộc Cách Mạng Nga. Quả đúng như vậy, loạt bài viết của ông là một thành công lớn; những bài viết từ Albania, Poland, và Ý tiếp theo.
Ông tiếp tục viết giả tưởng [tiểu thuyết, truyện ngắn], cảm thấy đau khi tự tách mình ra khỏi đám ký giả. “Tôi không viết cái thứ bình luận dí dỏm. Tôi ký họa những nét của thời đại… Tôi là một nhà báo [journalist], không phải thông tín viên [reporter], tôi là nhà văn, không phải cái thứ người tạo mẫu cho loạt bài chỉ đạo.”
Vào năm 1930, ông in cuốn tiểu thuyết thứ chin, Job: The Story of a Simple Man. Cuốn Sách trở thành một thành công lớn tầm mức quốc tế, mặc dù – hay là nhờ ở cái kết thúc thần tiên, tràn trề tình cảm, qua đó, người cha già nua [the aging Mendel Singer], bị số phận đẩy mãi xuống đáy sâu của sự nghèo khổ trong những khu nhà ổ chuột ở thành phố New York, cuối cùng lại được cứu vớt bởi thằng con ngu đần mà ông ta bỏ rơi ở Cựu Thế Giới [the Old World]. Roth thú nhận ông không thể nào viết nổi một cái kết thúc hạnh phúc tràn trề như vậy nếu không có sự trợ giúp của… ma men [của chai riệu!]. Hollywood biến Job thành phim mang tựa đề Đàn Ông Tội Lỗi [Sins of Man: Những Tội Lỗi của Người Đàn Ông], trong đó, cái gọi là Do Thái tính đã được thanh tẩy [purged]. Tiếp theo Job, hai năm sau đó, là cuốn đầy tham vọng của Roth, The Radetzky March. Khi còn sống, Roth cho xuất bản thêm sáu cuốn nữa, cộng một số truyện ngắn.
The Radetzky March, Hành Khúc Radetzky, tiểu thuyết vĩ đại nhất, và cũng là tác phẩm độc nhất Roth viết mà không bị thôi thúc, là câu chuyện liên tiếp ba đời của dòng họ Trotta, cả ba đời đều hầu nhà vua: đời thứ nhất, là anh lính quèn cố kiếm được tí phẩm giá nhờ một hành động anh hùng; đời thứ nhì, viên chức hành chánh cao cấp, cấp quận huyện; thứ ba, sĩ quan cao cấp mà cuộc đời biến thành vô tích sự, khi sự bí ẩn vương quyền Habsburg buông ông ra [nghĩa là hết còn chú ý tới ông], và rồi cứ thế tàn lụi, không con cái nối dõi, ở trong cuộc chiến.
Lớp lang hoạn lộ, con đường công danh ba đời dòng họ Trotta phản ánh con đường của đế quốc. Lý tưởng phục vụ hết mình cho vương quyền ở đời Trotta thứ nhì không truyền tới đời thứ ba, không phải vì đế quốc đi trật đường rầy, không đạt được mục tiêu mà nó đề ra, nhưng mà là, có một cái gì đó thay đổi, trong không gian, và chính sự thay đổi này làm cho chủ nghĩa lý tưởng “vua biểu chết là… chết” không còn thích hợp nữa. [Chính sự thay đổi ở trong không khí này là khởi điểm cho cuộc phân rã Cựu Đế quốc Áo, ở trong tác phẩm Người Không Phẩm Chất (bản tiếng Anh, The Man Without Qualities) của Robert Musil]. Anh chàng Trotta trẻ, sinh vào thập niên 1890 có thể đại diện cho Roth và Musil [“Der Leutnant Trotta, der bin ich”: “Ma-đàm Bovary, là tôi”!]. Nhưng chính cha của anh, cuối đời không chỉ nuốt những thất bại của con, nhưng – nhờ nuốt nhục nhã – mà khám phá ra một điều là, những niềm tin mà cả đời ông ta dâng hiến, theo đuổi… đã trở nên lỗi thời [độc giả người Việt như gặp một ông tướng về hưu ở đây: Người ta chẳng đã, hơn một lần, được nghe những ông vi-xi của thời hậu-đại thắng mùa xuân than thở, tại sao cái đám cha ông của chúng mình… ngu đến như thế!].
[còn tiếp]
Jennifer Tran
www.tanvien.net

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sky River Casino vô cùng vui mừng hào hứng tổ chức chương trình Ăn Tết Nguyên Đán với những giải thưởng thật lớn cho các hội viên Sky River Rewards. Chúng tôi cũng xin kính chúc tất cả Quý Vị được nhiều may mắn và một Năm Giáp Thìn thịnh vượng! Trong dịp đón mừng Năm Mới Âm Lịch năm nay, 'Đội Múa Rồng và Lân Bạch Hạc Leung's White Crane Dragon and Lion Dance Association' đã thực hiện một buổi biểu diễn Múa Lân hào hứng tuyệt vời ở Sky River Casino vào lúc 11:00 AM ngày 11 Tháng Hai. Mọi người tin tưởng rằng những ai tới xem múa lân sẽ được hưởng hạnh vận.
Theo một nghiên cứu mới, có hơn một nửa số hồ lớn trên thế giới đã bị thu hẹp kể từ đầu những năm 1990, chủ yếu là do biến đổi khí hậu, làm gia tăng mối lo ngại về nước cho nông nghiệp, thủy điện và nhu cầu của con người, theo trang Reuters đưa tin vào 8 tháng 5 năm 2023.
(Tin VOA) - Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) vào ngày 13/9 ra thông cáo lên án Việt Nam tiếp tục lạm dụng hệ thống tư pháp để áp đặt những án tù nặng nề với mục tiêu loại trừ mọi tiếng nói chỉ trích của giới ký giả. Trường hợp nhà báo tự do mới nhất bị kết án là ông Lê Anh Hùng với bản án năm năm tù. RSF bày tỏ nỗi kinh sợ về bản án đưa ra trong một phiên tòa thầm lặng xét xử ông Lê Anh Hùng hồi ngày 30 tháng 8 vừa qua. Ông này bị kết án với cáo buộc ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước’ theo Điều 331 Bộ Luật Hình sự Việt Nam
Từ đầu tuần đến nay, cuộc tấn công thần tốc của Ukraine ở phía đông bắc đã khiến quân Nga phải rút lui trong hỗn loạn và mở rộng chiến trường thêm hàng trăm dặm, lấy lại một phần lãnh thổ khu vực đông bắc Kharkiv, quân đội Ukraine giờ đây đã có được vị thế để thực hiện tấn công vào Donbas, lãnh phổ phía đông gồm các vùng công nghiệp mà tổng thống Nga Putin coi là trọng tâm trong cuộc chiến của mình.
Tuần qua, Nước Mỹ chính thức đưa giới tính thứ ba vào thẻ thông hành. Công dân Hoa Kỳ giờ đây có thể chọn đánh dấu giới tính trên sổ thông hành là M (nam), F (nữ) hay X (giới tính khác).
Sau hành động phản đối quả cảm của cô trên truyền hình Nga, nữ phóng viên (nhà báo) Marina Ovsyannikova đã kêu gọi đồng hương của cô hãy đứng lên chống lại cuộc xâm lược Ukraine. Ovsyannikova cho biết trong một cuộc phỏng vấn với "kênh truyền hình Mỹ ABC" hôm Chủ nhật: “Đây là những thời điểm rất đen tối và rất khó khăn và bất kỳ ai có lập trường công dân và muốn lập trường đó được lắng nghe cần phải nói lên tiếng nói của họ”.
Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam cử hành Ngày Quốc tế Nhân Quyền Lần Thứ 73 và Lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam lần thứ 20.
Sau hơn 30 năm Liên bang Xô Viết sụp đổ, nhân dân Nga và khối các nước Đông Âu đã được hưởng những chế độ dân chủ, tự do. Ngược lại, bằng chính sách cai trị độc tài và độc đảng, Đảng CSVN đã dùng bạo lực và súng đạn của Quân đội và Công an để bao vây dân chủ và đàn áp tự do ở Việt Nam. Trích dẫn chính những phát biểu của giới lãnh đạo Việt Nam, tác giả Phạm Trần đưa ra những nhận định rất bi quan về tương lai đất nước, mà hiểm họa lớn nhất có lẽ là càng ngày càng nằm gọn trong tay Trung quốc. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Tác giả Bảo Giang ghi nhận: “Giai đoạn trước di cư. Nơi nào có dăm ba cái Cờ Đỏ phất phơ là y như có sự chết rình rập." Tại sao vậy? Để có câu trả lời, mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của nhà văn Tưởng Năng Tiến.
Người cộng sản là những “kịch sĩ” rất “tài”, nhưng những “tài năng kịch nghệ” đó lại vô phúc nhận những “vai kịch” vụng về từ những “đạo diễn chính trị” yếu kém. – Nguyễn Ngọc Già (RFA).. Mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của phó thường dân/ nhà văn Tưởng Năng Tiến để nhìn thấy thêm chân diện của người cộng sản.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.