Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Úc Xù

10/02/200200:00:00(Xem: 4846)
Thân tặng mọi người Úc gốc Việt
*
Đã nhiều lần tôi có ước muốn viết về nước Úc của bạn. Tôi muốn cho bạn hay những suy nghĩ của tôi về cái nước mà bạn đang trên đường tạm dung. Cái suy nghĩ của một người xa lạ hoàn toàn không có một chút liên hệ gì đến nước Úc. Không có một chút ý niệm gì về nước Úc nhưng không hiểu tại sao mỗi khi nghe tới ba chữ Úc-Đại-Lợi là tôi cảm thấy yên lành và hoang dã. Lòng có nhiều lâng lâng, thích thú cộng chút vị chua chát, nhưng thật đầy thương yêu, qúy mến.
Hôm nay vô tình đọc trang báo Tin Úc Châu trên Việt Báo Online, thấy có mấy lời nhắn nhủ thật thân tình của báo Sàigòn Times về báo Xuân năm 2002, tôi ngỏ ý muốn góp bài tâm sự kể những kỷ niệm xưa cho bạn tôi hay. Bạn tôi ngạc nhiên hỏi:
- Mày biết cóc gì về nước Úc mà viết.
Tôi trả lời:
- Không biết cóc gì, viết được mới hay. Còn biết nhiều quá viết được là chuyện thường tình.
Bạn tôi cười ngâm hai câu thơ của bà Hồ-Xuân-Hương:
"Không chồng mà chửa mới ngoan, Có chồng mà chửa thế gian sự thường"
Thú thật, tôi biết rất ít về nước Úc. Tôi cũng không được đọc nhiều về văn hóa lẫn dân tộc Úc. Tôi cũng chưa từng được nói chuyện với những đồng hương Việt Nam tỵ nạn tại Úc. Không thể hình dung được cuộc sống tỵ nạn bên ấy thế nào. Không được một lần đặt chân tới nước Úc, nhưng tôi lại có nhiều kỷ niệm ...hơi buồn về đất nước này. Tôi đã bị nước Úc từ chối, không nhận cho định cư trên đường tìm tự do tại trại tỵ nạn Paulo Bidong, nước Mã Lai Á.
Tôi không có cái may mắn như bạn. Tôi đã bị Úc xù.
Lần đầu tiên tôi thấy người Úc trong phái đoàn phỏng vấn tại đảo Bidong, trên cầu Jetty. Cầu Jetty do người Việt Nam tỵ nạn Cộng sản xây lên vào khoảng năm 1977 bằng đủ mọi loại cây mọc trên đảo. Cầu dài có lẽ hai trăm thước hơn, và chạy từ bờ đâm thẳng ra biển. Bề rộng của cầu không quá ba thước. Cầu là nơi đón rước người vượt biên và chứng kiến cảnh chia tay đi định cư của người tỵ nạn. Cầu mang nhiều kỷ niệm đau thương lẫn mừng tủi của những con người phải bỏ quê hương vì tự do. Cầu là huyết mạch giao thông duy nhất nối liền giữa đảo với đất liền. Mọi giao thông vào đảo đều phải qua đường biển và tới cầu Jetty.
Phái đoàn Úc thường rất ít người, không cồng kềnh và ồn ào như phái đoàn Mỹ, thường ba người: hai nam và một nữ đến đảo để phỏng vấn nhận người đi định cư. Họ cao, roi roi người, với nước da ăn nắng. Nam thì để râu quai nón. Nữ lại tóc hung, dài quá lưng. Trông thật phong trần và tài tử chứ không đóng hộp cứng ngắc như những ông bà đại diện chính quyền chuyên ngồi cạo giấy và cầm bút suốt ngày. Mặt lại không "nghiêm và buồn" như những người trong phái đoàn tới đảo phỏng vấn của các nước khác, trái lại họ trông thoải mái và lang bạt. Họ dạn dĩ vì tới đơn độc chứ không chịu tháp tùng cùng đoàn phỏng vấn của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc. Họ cũng chả mang nhiều hành lý cồng kềnh. Mỗi người một túi nhỏ quàng ngang vai có lẽ để chứa vừa cả quần áo lẫn giấy tờ. Cả nam lẫn nữ đều mặc quần ngắn và áo sơ mi mỏng. Áo họ bay phất phới vì chỉ cài hai cái cúc là cùng. Riêng người nữ thì lấy hai vạt áo thắt thành nút quấn trước bụng chứ chả thèm cài nút áo. Gió đảo thổi lồng lộng làm phồng chiếc áo sơ mi lộ cả cái áo ngực mầu xanh đậm của người nữ và lông vàng mọc đầy thân thể của hai người nam.
Tôi ngồi trên cầu Jetty ngắm họ với lòng cảm mến và ao ước có được cái phong cách ngang tàng, kín đáo như vậy. Họ đứng gần mũi tầu của Hải quân Mã-lai nhẩy vội qua cầu đi bộ vào đảo khi tầu chưa kịp cặp sát cầu. Hình như họ không có nhiều thời gian lắm mặc dầu các phái đoàn phỏng vấn thường tới đảo ở cả tuần lễ hơn. Những ngày kế, loa phóng thanh trên đảo kêu gọi tên những gia đình nộp đơn xin đi tỵ nạn tại Úc. Tôi cũng nộp đơn và hồi hộp chờ.
Đảo Pulau Bidong thời tôi ở chia làm sáu khu A,B,C,D, E và F. Khu A là khu chính, bao gồm hội trường và văn phòng làm việc. Khu B,C và D bao quanh khu A. Riêng khu E và F nằm hẻo lánh, xa hẳn các khu khác. Khu F còn lại là bãi cập bến buôn bán hàng hóa lậu của dân tỵ nạn. Khi ở trên đảo, gia đình chúng tôi làm chòi gần bãi biển vắng của khu F để làm nghề khiêng xuồng cho đám người buôn lậu. Họ tự đóng xuồng lấy và chèo ra khơi mua các đồ khô như mì gói, bột, sữa, trứng, nước giải khát, thuốc lá, rượu, bia... từ những tầu đánh cá của Mã Lai vào nhừng buổi chiều. Nhiện vụ của băng khiêng xuồng chúng tôi là khiêng xuồng xuống bãi giao lúc chiều tàn và kéo xuồng lên núi giấu vào những đêm khuya.
Băng khiêng xuồng gồm mười thanh niên Việt khỏe mạnh và gan lì. Xuồng phải được kéo lên những mỏm núi cao để giấu và đôi lúc bị lính Mã Lai phục kích đánh đập có thể té xuống núi bỏ mạng như chơi. Tôi có lần bị trượt té xuống sườn núi mình mẩy xây xát khắp người, cũng may chụp được thân cây nên còn giữ được mạng đến giờ. Đứng đầu băng là hai thanh niên lực lưỡng có danh xưng thật dao to búa lớn: Tiết Lễ và Tiết Lên. Họ không có họ hàng thân thuộc với nhau nhưng là người cùng xóm chài vùng Rạch Gía, Vũng Tầu. Nghe tên và nhìn tướng ai ai cũng phải hãi sợ. Có lẽ cả cuộc đời từ nhỏ đến lớn chuyên kéo tầu và kéo lưới đánh cá nên bắp thịt nở nang và rắn chắc như lực sĩ đấm bốc hạng nặng. Mỗi lần Tiết Lên và Tiết Lễ thách nhau vật tay là cả khu bên cạnh cũng phải náo động. Ngày đầu tiên gặp họ xin nhập băng khiêng xuồng, tôi nhớ mãi. Người đâu mà đen như củ súng, tướng tá to lớn ai thấy cũng phải nể nhưng khi mở miệng lại nhỏ nhẹ như liễu yếu đào tơ, hiền khô như ...Vọi. Riêng Tiết Lễ lại còn có tật mắc cỡ. Nếu không may mắn gặp được cô nào tới cua thì tôi chắc chắn cả cuộc đời sẽ phải sống độc thân.
Băng khiêng xuồng lúc mới thành lập bao thầu luôn việc khiêng hàng ra chợ. Sau phải nhường lại cho băng khiêng hàng của những người Bắc kỳ Bùi Chu vì không thể địch lại sự phá gía của họ. Thường thì một bao bột mì khiêng từ bãi ra chợ, người khiêng được trả một đồng Mã Lai. Băng khiêng hàng đầu tiên nhận khiêng hai bao một đồng để giựt hết mối, rồi sau lên ba bao một đồng để độc quyền. Chúng tôi sau khi khiêng xuồng đi giấu thường hay ra bãi ngồi ngắm họ làm việc và trêu chọc cho đỡ tức:
- Muốn khiêng ba bao bột mì ra chợ thì hai vai phải vác hai bao còn một bao kẹp ...háng.
Hình như bản tính thích phá gía là bản tính ...dễ thương nhất của dân Việt mình. Ngoài khiêng xuồng chúng tôi có trồng thêm rau muống để bán kiếm thêm ít đồng. Ba bó rau muống nhỏ, tỉa cột đàng hoàng bán được một đồng. Họ phá giá lên năm bó một đồng ngay. Sau thấy chúng tôi vẫn còn trồng, họ lên sáu bó chỉ năm mươi xu. Chúng tôi phá luống rau, ra chợ mua rau của họ về ăn để khỏi vất vả gánh nước tưới rau. Họ càng vui khi không ai tranh giếng múc nước, giành đất trồng rau. Hai bên đều có lợi, sống cùng khu thật thoải mái mặc dù chả bao giờ gặp nhau chào hỏi. Không hiểu cái tính dễ thương này có theo người Việt tỵ nạn di tản tới Úc chăng" Có dịp qua chơi nước Mỹ, bạn sẽ nghe mọi người thương yêu ở đây thường nhắc nhở đến nó luôn.
Khi xuồng buôn lậu cập bờ những người Việt gốc Hoa xuống bãi mua sỉ ngay tại chỗ để hôm sau mang ra chợ bán lẻ cho người dân tỵ nạn có tiền. Thường thì những việc nguy hiểm như đóng xuồng ra khơi mua hàng lậu hay khiêng xuồng lên núi giấu, người Tầu tránh xa. Họ khôn ngoan hơn, chỉ làm những việc buôn bán trung gian lấy lời hay xin vào ban thực phẩm, thư tín để kiếm ăn. Ban xây cất, vệ sinh hay trật tự trên đảo chỉ toàn người Việt Nam. Vào ban thực phẩm ta có thể chôm được đồ ăn, ban thư tín thì moi thư lấy tiền. Còn nhập ban xây cất hay trật tự chỉ có gậy và côn. Riêng ban vệ sinh còn tệ hơn nữa. Móc được ...phân là cùng. Tôi có một người bạn thân từ nhỏ sống ngay trong vùng Chợ Lớn nên có những cử chỉ, lời nói giống Tầu lai y đúc. Người trong ban thực phẩm tưởng Tầu chính cống nên nhận vào. Sau biết bạn tôi chỉ nói được dăm ba câu Quan Thoại bâng quơ, y bị khai trừ ngay vị tội ...tham nhũng.
Dân tỵ nạn trên đảo Pulau Bidong sống nhờ ba loại đồ hộp: gà, cá và đậu do hội Cao Ủy Tỵ Nạn cung cấp thông qua các nhà thầu Mã Lai. Cao Ủy Tỵ Nạn đã phải bỏ ra nhiều tiền để trả cho các nhà thầu Mã Lai cung cấp thức ăn cho dân tỵ nạn. Họ lươn lẹo cung cấp những đồ hộp thiếu phẩm lượng vì người tỵ nạn là loại người dễ bị ăn hiếp nhất trên thế giới. Tôi còn nhớ mãi những cái lon đồ hộp gà ngày tôi mới đặt chân lên đảo còn có được một miếng thịt và một miếng da. Ngày tôi rời đảo chỉ toàn nước không. Sau này em họ tôi có kể nước cũng bị cắt còn nửa lon thôi. Riêng lon đậu thì hột đậu càng ngày càng cứng. Luộc mãi cũng không thể mềm nên dân tỵ nạn thường thẩy vào các đống lửa làm pháo đốt cho đỡ tức. Lâu lâu có lẽ bị Cao Ủy Tỵ Nạn khiếu nại nhiều quá, nhà thầu thẩy cho ít thịt gà tươi, dân tỵ nạn có được một bữa cơm ngon hơn chút chút. Rồi sau lại trở về kiếp sống khui lon gà, cá, đậu như xưa.

Có lẽ mọi người đều biết chỉ cần chịu đựng một vài ...năm nên ít ai nghĩ tới chuyện thưa kiện. Hơn nữa có thưa kiện cũng chẳng biết thưa ai. Thằng Mã Lai nào cũng đen và xám như nhau. Thưa kiện chúng ghét, láng cháng chúng đóng cửa trại tỵ nạn thì sẽ gây thêm nhiều đau khổ cho những người đi sau. Ai cũng nghĩ vậy nên đành nín thở qua sông. Sống trong trại tỵ nạn tuy đồ ăn thức uống thật thiếu thốn nhưng gạo lại được cấp phát hơi đầy đủ nên vẫn hơn sống trong "thiên đường xã hội chủ nghĩa" xa. Ăn cơm không vẫn ngon hơn ăn cơm độn bo bo.
Buổi chiều trong khi chúng tôi tập họp sửa soạn lên núi khiêng xuồng thì người nữ trong phái đoàn Úc lững thững đi xuống bãi biển nằm hóng gió. Cô ta mặc cái áo tắm một mảnh che kín phần trước ngực nhưng hở nhiều phần sau lưng. Quấn cái khăn lông dầy ngang bụng, cô ta đã phải leo xuống những dốc cao để tới bãi biển khu F, khu của các tay anh chị buôn lậu, của băng khiêng xuồng. Lựa một góc tương đối khá bằng phẳng cô trải cái khăn lông nằm lơ lửng lúc ngắm trời lúc coi chúng tôi làm việc.
Sau khi giao xuồng cho chủ xuồng, chúng tôi ngồi trên bãi nghỉ mệt. Thấy cô ta nằm mình trên bãi biển vắng đầy nguy hiểm, bọn tôi lân la tới làm quen. Trong băng khiêng xuồng, tôi là người có vốn liếng Anh ngữ nhiều hơn hết nên được làm nhiệm vụ thông dịch. Phải mất cả giờ đồng hồ cô ta mới hiểu được lai lịch và công việc của băng chúng tôi. Thêm một giờ đồng hồ nữa mới biết được bãi biển nhiều nguy hiểm, một thân đàn bà không nên dạo chơi một mình, nhất là lại ăn mặc thiếu thốn, hơ hớ xuân tình nằm phơi ...của như cô ta.
Một người thiếu phụ xinh đẹp mặc đồ tắm nằm chống tay nói chuyện với mười thanh niên ngồi bao quanh chỉ mặc quần xà lỏn trên bãi biển vắng. Chuyện thật hy hữu, trông như hoa lạc giữa rừng gươm. Hy hữu hơn nữa khi các thanh niên đều khuyên cô ta nên trở về mặc thêm áo còn cô lại cứ nằng nặc đòi ở tới khuya coi cảnh tấp nập buôn bán khi xuồng buôn lậu vào.
Sáng hôm sau tôi được phái đoàn Úc gọi lên phỏng vấn. Hôm đó tôi thấy nhiều người bị xù. Không hiểu hư thật ra sao mà tôi thấy phần lớn mọi người trong trại tỵ nạn đều kết luận rằng nước Úc trai thừa gái thiếu nên phái đoàn Úc chỉ chọn những gia đình nào nhiều nữ thôi. Nam đi sô-lô sẽ bị xù đẹp. Sống trong trại tỵ nạn có nhiều tin không thể kiểm chứng được. Thí dụ như có tin phái đoàn Đức chỉ nhận con nít dưới tuổi vị thành niên, phái đoàn Pháp chịu người có bằng cấp, phái đoàn Ý thích người theo đạo Thiên Chúa, còn phái đoàn Thụy Sĩ lại ưa gia đình nào có người tàn tật. Theo tôi, những tin tức này phần lớn là do nhiều người bị từ chối nên ức về chế chuyện để khỏa lấp tự ái. Một ông trạc tuổi trên dưới bốn mươi vừa bước ra khỏi phòng phỏng vấn đã nói to như muốn chia xẻ kinh nghiệm thương đau của mình cho những người đang đợi phỏng vấn nghe:
- Mấy thằng Úc thòi lòi này dâm đặc, chỉ muốn nhận gái đẹp không. Nó sợ tôi tới Úc giựt hết gái nên chưa hỏi câu gì tay nó đã quẹt lung tung vào hồ sơ, muốn xù. Trong khi gia đình phỏng vấn trước tôi có ba cô con gái xinh, nó gật đầu nhận ngay. Gia đình ai mà không có nữ, đừng mắc công đợi làm gì. Về đi, không nó xù đẹp.
Tôi nghe nói cũng hơi lo nhưng lại thích đi Úc hơn bao giờ hết. Nước Úc chỉ nhận toàn gái đẹp như vậy nếu tôi tới Úc sẽ được gặp toàn nữ đồng bào đẹp của tôi thôi. Thật tuyệt vời. Lấy vợ đẹp, ở nơi có toàn người đẹp, đẻ con ắt sẽ phải đẹp. Và rồi khi sống chung quanh người đẹp, tôi tự nhiên cũng sẽ đẹp ra. Thử hỏi còn nơi đâu đẹp hơn! Tôi còn muốn phái đoàn Úc xù nhiều nam nữa cho đời tôi thêm ...đẹp.
Mải miên man nghĩ đến những mộng đẹp, phái đoàn Úc thông báo ngưng làm việc để đi ăn trưa lúc nào tôi không hay. Mọi người cũng lục đục ra về. Riêng tôi nhất định ở lại chờ để tìm coi có thêm cơ hội nào được nhận đi định cư. Ông Trời lúc nào cũng đãi ngộ người có lòng. Khi ba người trong phái đoàn Úc bước ra văn phòng, người nữ mà tôi được gặp chiều qua trên bãi biển khu F nhận ra tôi. Cô ta chỉ cho hai người nam và xì xào một hồi. Tôi thật hãnh diện, ngồi lưng thật thẳng, miệng cười tươi rói. Tôi biết tôi đã được bà chị tinh thần thầm gửi gấm.
Khi phái đoàn Úc trở lại làm việc sau buổi cơm trưa, tôi là người đầu tiên được gọi vào phỏng vấn. Hai người nam hình như có nhiều hứng thú với công việc khiêng xuồng của tôi nên chỉ hỏi xoay quanh vấn đề buôn lậu. Tôi trộm nghĩ mình chỉ là phu khuân vác chứ không phải là dân buôn lậu nên chơi xả láng vung tay khua chân trả lời sùi bọt mép. Thỉnh thoảng tôi thấy họ như tìm thấy được điều gì hay hay ở tôi nên hý hoáy viết vào hồ sơ. Cuối cùng tôi được mời về. Tôi thắc mắc có hỏi người thông dịch viên Việt Nam được cử làm chung với phái đoàn về trường hợp của tôi. Anh ta tỉnh bơ trả lời:
- Xù rồi. Chưa tới Úc mà đã có máu găng tơ buôn lậu trong người, hỏi ai không xù "
Thật là oan Thị-Kính. Tôi đâu có biết chút gì về buôn lậu. Tôi chỉ là người đi bán sức lực của mình để kiếm thêm vài đồng sống qua những tháng ngày trên đảo " Buồn Lo Bi Đát " mà thôi. Phái đoàn Úc không hiểu, chụp mũ tôi là dân buôn lậu. Tôi ngước nhìn bà chị tinh thần cầu cứu, cô ta nhìn tôi cười duyên thật đẹp. Tôi rất buồn, nghĩ thầm sao tối qua không khuyên cô ả ở lại bãi biển thâu đêm cho hết cười.
Hai mươi năm trôi qua thật mau. Người đẹp giờ đây cũng đã đến lục tuần. Nỗi buồn của tôi cũng nguôi ngoai nhiều. Tuy nhiên, tôi e ngại chính phủ Úc vẫn còn lưu trữ những hồ sơ phỏng vấn người tỵ nạn năm xưa. Mỗi lần có dịp đi du lịch, chỉ nghe tới nước Úc là tôi tìm đường lẩn trốn. Tôi chỉ sợ khi đặt chân tới phi trường Syney, nhân viên sở di trú bấm máy computer thấy ghi tôi là hậu duệ của tay trùm Mafia Al Capone thì thật là quê. Cứ tưởng tượng ông cảnh sát Úc hỏi tên tuổi tôi xong, nhìn vào màn ảnh của máy hiện lên chữ "Phải cảnh giác. Đương sự có qúa trình găng tơ buôn lậu từ ngày lên đảo tỵ nạn" là tôi ớn tới Úc.
Một lần tôi có tâm sự với bạn tôi về chuyện buôn lậu trên đảo. Tôi có nói sẽ cố làm một điều gì kinh thiên động địa để cho cả dân tộc Úc sẽ ân hận đã xù tôi. Bạn tôi nhòm hình tôi chụp ngày còn trên đảo cười đáp:
- Mày khỏi phải làm điều gì kinh khủng làm chi. Chỉ cần gửi tấm hình này qua Úc cho họ ngắm là cả nước Úc sẽ kinh khiếp mày liền.
Khi trên đảo, ăn uống thiếu thốn mấy ai béo mập được" Áo quần chả có, ăn mặc hở hang, trời lại nắng gắt hỏi ai không đen thui " Tiền chi tiêu phải tằn tiện từng đồng, ai dám bỏ tiền đi cắt tóc, hỏi sao tóc không dài " Do đó ngày trên đảo tôi tóc dài, người lại đen và "gầy như ...Việt cộng". Theo lời bạn tôi.
Phần lớn những người tỵ nạn chọn Úc định cư vì có tin đồn những người đi định cư tại Úc được chính phủ giúp đỡ, cho không ruộng đất cho những ai thích ttrồng trọt và chăn nuôi. Nhiều người nghi ngờ, đoán mò là cho mượn không lấy lời hay cho vay trả dần. Có người quả quyết là cho không vì nước Úc còn quá nhiều đất đai để trống, chỉ cần làm đơn xin rồi tới cắm mốc, căng dây là thuộc sở hữu của mình. Nghe thật sướng như sống trong "thiên đường cộng sản". Cái gì cũng cộng vào tài sản riêng của mình được, nếu mình là đảng viên gốc bự. Băng khiêng xuồng chúng tôi có lần bàn cãi nhiều về vấn đề này. Kẻ nói cho không, người bàn cho mượn. Sau cùng chúng tôi đều đưa đến kết luận là cho không hay cho mượn cũng là cho. Vẫn hơn nhiều các nước khác không cho. Từ đó ai cũng hồ hởi nộp đơn xin đi Úc và ai cũng bị xù đẹp vì tội ...buôn lậu.
Tháng Chín năm ngoái tôi có nhận được một lá thư kêu gọi đóng góp xây tượng đúc chuông từ chùa Quán Thế Âm ở số 61 đường Swan, phố Footscray nước Úc. Tôi có lẽ thường hay đáp lời những thư từ từ các hội từ thiện nên chùa biết đến tên tôi. Ít khi tôi hồi âm những thư ngoài Hoa Kỳ tới. Không hiểu có một cảm giác thiêng liêng kỳ lạ nào đã làm trong đầu tôi lúc nào cũng vang lên tiếng Australia. Tôi gửi chùa một đóng góp khiêm nhượng đứng tên hai cô con gái của tôi. Tôi muốn sau này con gái tôi có dịp ghé thăm nước Úc vô tình tới chùa biết rằng lòng tôi cũng đã từng đến đây. Vợ tôi có nói:
- Nước Úc xù anh. Tại sao anh lại gửi giúp họ.
Tôi trả lời:
- Nước Úc xù anh nhưng anh chả bao giờ xù nước Úc cả.
Hình như có một sợi dây thiêng liêng vô hình đã buộc chặt lòng tôi vào cái đất nước tạm dung của bạn thật nhiều. Tôi một mình đã từng lang bạt khắp hang cùng ngõ hẻm nhiều nơi trên thế giới nhưng vẫn chưa hề đặt chân tới cái đất nước có những con chuột thật to lớn này (Đại thử). Nước Úc đã cho tôi nhiều bẽ bàng nhưng không hiểu tại sao mỗi lần nghĩ về cái đất nước có anh chàng Crocodile Dundee, tôi lại cảm thấy nhiều mến yêu. Tôi không hề có họ hàng thân thuộc nào ở Úc. Tôi cũng chả có bạn bè nào định cư tại đó. Nhưng tôi vẫn cứ hay nghĩ về miền đất này với cả tấm lòng lâng lâng dạt dào. Có lẽ tại nơi đó cũng có hàng trăm ngàn đồng hương của tôi đã tìm được cuộc sống mới đầy tự do. Có lẽ tại nơi đó cũng có một cộng đồng Việt Nam đầy đoàn kết và dân chủ. Có đài Việt Nam. Có báo Sàigòn Times. Và nhất là có bạn.
Nơi đó là quê hương thứ hai của bạn và cũng chính là quê hương thứ ba của tôi. Xin bạn hãy sống hòa mình với nó, xây dựng nó lớn mạnh hơn, thêm nhiều tình thương để chờ ngày chúng ta gặp lại nhau trên quê hương thứ nhất của chúng ta.

Houston, Xuân 2002 Lê Như Đức

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.