Hôm nay,  

Định Giá Doanh Nghiệp

19/10/200600:00:00(Xem: 9778)

Định Giá Doanh Nghiệp

... khi định giá doanh nghiệp Nhà nước, đảng viên cán bộ thường ngụy tạo hồ sơ sang tên, hoá giá và tẩu tán tài sản trước khi doanh nghiệp được kiểm kê để cổ phần hoá...

Với chủ đề Cải cách Doanh nghiệp kỳ trước, DĐKT đã đề cập tới yêu cầu cải cách doanh nghiệp Nhà nước của Việt Nam và nói tới từng bước của tiến trình “giải tư” các khoản công sản trong các doanh nghiệp ấy. Tuần này, chúng tôi xin được nói đến việc định giá doanh nghiệp qua phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa với người thực hiện tạp chí chuyên đề này là Việt Long.

- Việt Long: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Trong kỳ trước chúng ta đã đề cập tới yêu cầu cải cách doanh nghiệp Nhà nước của Việt Nam. Qua kỳ này, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ đề cập tới hai câu hỏi ông nêu lên tuần trước. Đó là bán cho ai và với giá là bao nhiêu"…

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Và trả lời cho hai câu hỏi ấy, tôi nghĩ rằng chúng ta phải nêu lên một vấn đề tiên quyết là bán để làm gì. Nghĩa là vì sao phải giải tư để tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước"

- Việt Long: Thưa vâng, như vậy thì ta phải đi lại từ đầu. Vì sao Nhà nước cần rút vốn đầu tư vào doanh nghiệp Nhà nước nghĩa là “giải tư”, và tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước"

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Lý do đầu tiên và cơ bản nhất là trong nền kinh tế thị trường thì tư doanh, tức là doanh nghiệp của tư nhân, có khả năng quản trị hữu hiệu hơn vì phải cạnh tranh với nhau nên sản xuất và phân phối hàng hoá hay dịch vụ với phẩm chất khá hơn và giá rẻ hơn. Nhờ đó, giới tiêu thụ được phục vụ tốt đẹp hơn và còn dư tiền để tiêu xài vào việc khác.

Việc giải tư còn một lý do chính đáng nữa là sẽ khiến Nhà nước bớt can thiệp vào thị trường để bảo vệ các doanh nghiệp của nhà nước, nhờ đó, chính sách kinh tế cũng tự do thông thoáng hơn. Và sau cùng, nhờ việc giải tư, Nhà nước có thể thu hồi lại tài sản đầu tư trong các doanh nghiệp Nhà nước để dùng vào những mục tiêu khác mà tư doanh không thể đáp ứng nổi.

Nếu nhớ lại lý do giải tư ấy, ta thấy ra một yêu cầu tất yếu của cải cách doanh nghiệp là nên bán lại tài sản đầu tư ấy cho tư nhân, để tư nhân thực sự làm chủ và quản lý các doanh nghiệp đó theo phương cách hữu hiệu hơn.

- Việt Long: Nhưng ở Việt Nam thì việc bán lại doanh nghiệp Nhà nước cho tư nhân có cần phải theo một chính sách gì đặc biệt không"

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Việt Nam cần minh định phạm trù “tư nhân” này cho rõ ràng hơn. Tư nhân có thể là người bản xứ hay người ngoại quốc mà cũng có thể là công nhân viên trong xí nghiệp quốc doanh hay những người ở ngoài.

Vấn đề bán cổ phần của doanh nghiệp cho chính nhân viên của doanh nghiệp sở dĩ đặt ra một phần vì lý do công chính hay đạo đức, một phần lớn hơn thế là vì lý do kinh doanh. Những người đã đóng góp công sức cho doanh nghiệp có quyền được hưởng một phần kết quả của công lao đó, nếu đấy là những doanh nghiệp thành công và có lời. Lý do kia là khi được làm chủ một phần của doanh nghiệp, họ sẽ không còn phản ứng xin gọi là “cha chung không ai khóc” mà thiết tha quan tâm đến kết quả kinh doanh lời lỗ và đấy cũng là một điều có lợi.

- Việt Long: Nếu bán cổ phần của các doanh nghiệp này cho chính công nhân viên đang phục vụ trong đó thì ở Việt Nam liệu có thể bị lạm dụng và trở lại tình trạng tự bán lại cho mình không"

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Việc lạm dụng thì chắc chắn là có. Ta từng nhìn thấy kinh nghiệm đó trong cuộc cải cách doanh nghiệp, tức là tư nhân hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Liên Bang Nga ngày xưa. Nhưng luật lệ cần đặt ra là cho các công nhân viên được quyền mua một tỷ lệ nào đó của tài sản chung, trong một số điều kiện nhất định để tránh sự lạm dụng, mua qua bán lại hoặc tập trung tài sản vào trong tay một số giới chức có quyền trong doanh nghiệp.

Sở dĩ chỉ nên bán ra một tỷ lệ của doanh nghiệp cho công nhân viên được ưu tiên mua lại vì thứ nhất họ không có đủ tiền mua tất cả và thứ hai, quan trọng hơn, quyền làm chủ cũng là quyền quản trị. Tư nhân mà làm chủ phải có khả năng quản trị để cải tiến hiệu năng kinh tế của các doanh nghiệp này.

Nhiều quốc gia đã tiến hành việc tư nhân hoá bằng cách cho nhân viên được mua lại một phần tài sản của công ty, thậm chí phát không cho các nhân viên một số “phiếu tài sản”, tương đương với các cổ phần, và với những điều kiện rõ rệt về thời hạn và ngạch số để khỏi có sự lũng đoạn hay lạm dụng.

Phần lớn tài sản còn lại mới bán ra ngoài để thu tiền về cho ngân sách và đồng thời để thu hút tài năng quản trị của tư doanh. Trong phạm vi đó, việc bán tài sản này cho tư doanh nước ngoài cũng là điều nên làm, nếu nhờ đó mà ta có thêm chuyển giao công nghệ, du nhập thêm kiến năng về quản trị.

- Việt Long: Bây giờ, ta mới qua câu hỏi kế tiếp là bán với giá bao nhiêu, có phải không"

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa vâng, và đây là một khâu chuyên môn phức tạp nhất, dù chưa hẳn là quan trọng nhất trong cả tiến trình giải tư. Mục đích yêu cầu của tiến trình này là thứ nhất, thu lại tiền cho ngân sách và thứ hai, cải thiện khả năng quản lý của doanh nghiệp. Cho nên, khi bán thì Nhà nước muốn bán với giá cao nhất, nhưng phải bán được và người mua cũng phải thấy là mình có lợi khi mua, với cái giá phải chăng, và từ đấy kinh doanh có hiệu quả hơn.

- Việt Long: Và việc định ra điều ông gọi là “giá phải chăng” ấy mới là một vấn đề chuyên môn"

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa vâng, và đấy là một vấn đề, một bộ môn kỹ thuật được gọi là “định giá doanh nghiệp”.

- Việt Long: Xin ông trình bày khái quát về bộ môn đó, có được không"

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Khi muốn cổ phần hoá để tư nhân hóa thì sổ sách của doanh nghiệp đã phải được chấn chỉnh minh bạch và doanh nghiệp phải là cơ sở kinh doanh có tiềm năng thì người ta mới muốn mua. Lối định giá một cơ sở đang tan rã là điều cũng có, nhưng là định giá để bán như món hàng phế thải, nôm na là bán cho hàng đồng nát, thì ta không nói tới ở đây. Chúng ta nói đến việc định giá một doanh nghiệp có khả năng tồn tại và sinh lời trong tương lai.

Người ta cần tính ra giá trị của doanh nghiệp như một cơ sở kinh doanh đang sinh hoạt và có triển vọng trong tương lai và cần tính ra giá trị ấy “một cách phải chăng”, theo lối tính toán của thị trường.

- Việt Long: Và “cái giá phải chăng” đó chính là cả một vấn đề lớn"

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Có khi người ta gọi đó là “thực giá”, giá đích thực, có khi gọi đó là “giá thị trường”, tức là có thể so sánh với giá cả tương tự trên thị trường. Mà việc định giá ấy không là một khoa học chính xác, nó là một nghệ thuật vì đòi hỏi khả năng ước lượng giá trị về cả phẩm lẫn lượng, cả những yếu tố không đo đếm được.

- Việt Long: Một cách cụ thể thì người ta có những phương pháp định giá nào"

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Một cách cụ thể, ta có thể đi từ bước thấp nhất lên bước cao hơn, từ hiện tại đến tương lai.

Bước thấp nhất là kiểm lại sổ sách kế toán để biết doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản và còn mắc nợ bao nhiêu. Phần sai biệt giữa tài sản đang có và được khấu trừ các khoản nợ nần thì có thể cho biết tích sản thuần của doanh nghiệp là bao nhiêu. Lối định giá như vậy thiên về kế toán và quá khứ, là cách cho ta con số nhỏ nhất, trị giá thấp nhất, gọi là trị giá về kế toán.

Ngay trong cách tính rất thủ cựu ấy, ta còn phải kể thêm, tức là cộng thêm hay trừ bớt, các khoản nợ. Lý do là vì phải cộng thêm vào tài sản của doanh nghiệp các khoản nợ sẽ thu và trừ đi các khoản nợ sẽ phải trả.

Vấn đề này không lý thuyết đâu vì khi định giá các ngân hàng thương mại của Nhà nước, ta phải tính ra hoặc đoán ra là khoản tài sản mệnh danh là tiền nợ của các doanh nghiệp Nhà nước sẽ thực sự được thu lại là bao nhiêu. Đa số là nợ khó đòi và sẽ mất nhưng lại được triển hạn để khỏi thuộc loại nợ trễ hạn, loại nợ xấu sẽ mất luôn. Đây là chưa nói đến nhiều loại tài sản hữu hình mà khó định giá, như bất động sản hay đất đai, và sau đó là loại tài sản vô hình còn khó định giá hơn nữa.

- Việt Long: Câu chuyện nghe bắt đầu phức tạp hơn. Xin ông đơn cử cho vài thí dụ về hai loại tài sản vô hình và hữu hình đó để thính giả có thể hình dung ra vấn đề.

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Về loại tài sản hữu hình, như máy móc thiết bị thì mình còn ước tính được nhờ phép chiết cựu hay khấu hao căn cứ trên cái tuổi của máy móc và trị giá của loại thiết bị có khả năng thay thế đang được bán trên thị trường. Nhưng với các phòng ốc hay quyền sử dụng đất thì ta tính ra giá nào, giá mua hay giá chuyển nhượng của Nhà nước năm xưa hay giá thị trường của hiện tại"

Nhân đây, cũng phải nói ngay đến một vấn đề rất phổ biến khi định giá doanh nghiệp của Nhà nước là đảng viên cán bộ thường ngụy tạo hồ sơ để sang tên, hoá giá và tẩu tán tài sản trước khi doanh nghiệp được kiểm kê để cổ phần hoá.

Về loại tài sản vô hình, ta có thương hiệu, uy tín hay uy thế của doanh nghiệp, nhưng giá trị của loại yếu tố ấy nhiều khi được thổi phồng nhờ ưu thế được bảo vệ vì chính sách. Một thí dụ là Nhà nước bảo vệ kỹ nghệ rượu bia hay thuốc hút cho doanh nghiệp Nhà nước có được tư thế gần độc quyền. Do đó, giá trị của thương hiệu có thể cao hơn thực giá khi chế độ độc quyền ấy chấm dứt vì Việt Nam phải hội nhập vào kinh tế thế giới và gặp sự cạnh tranh của tư doanh nội địa hay nước ngoài.

- Việt Long: Đó mới là cách định giá ông nói là từ bước thấp. Đến bước cao hơn thì còn những phương pháp gì khác nữa"

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Bước thấp là tính ra tích sản thuần, tức là tài sản doanh nghiệp thực sự làm chủ, sau khi khấu trừ các khoản nợ sẽ phải trả. Muốn định giá cho chính xác thì phải có sổ sách đáng tin, thiết lập theo quy tắc kế toán được mọi người mọi nước chấp nhận. Kế đó mới kể đến giá trị của các loại tài sản vô hình, không đo đếm bằng kế toán được, mà cũng phải giải trừ ưu thế đã có trong quá khứ nhờ chính sách bảo vệ của nhà nước.

Bây giờ, trên cơ sở của những tài sản gọi là cơ bản đó, người ta phải tính ra triển vọng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai. Giới chuyên môn không nói đến các khoản lời chính thức được khai cho sở thuế vì chúng thường được định giá thấp hơn thực tế để tránh thuế và vì chúng cũng không ghi nhận được gánh nợ sẽ phải trả là các khoản vay mượn.

Người ta dùng một phạm trù khác là “nguồn hiện kim” (hay lưu kim, cash flow), là số tiền mặt sẽ được thu vào hay phải chi ra trong cả tài khoá. Cơ sở để tính toán lời lỗ trong tương lai là nguồn hiện kim ấy và phải gia trọng với yếu tố thời gian. Lý do là khoản tiền thu vào năm nay có giá trị cao hơn cùng khoản tiền ấy mà sẽ thu vào năm tới, hoặc trong năm năm nữa.

Về chuyên môn thì người ta tính ra nguồn hiện kim tích lũy trong 5-10 năm tới, nhưng được chiết khấu, tức là được giảm trừ yếu tố lạm phát của thời gian, để tìm ra “thực giá” hay “hiện giá” của nguồn lưu kim ấy, tính vào lúc này. Lối tính toán phức tạp đó thực ra đã thành quy luật và người ta có nhiều mô thức toán học được viết sẵn. Ăn thua, đúng hay sai, chính xác hay không, là căn cứ trên các giả thuyết mình đề ra và dự đoán cho tương lai.

- Việt Long: Các chuyên viên kinh tế trong nước hiện đã quen với những phương pháp đó chưa"

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Việt Nam đã được quốc tế viện trợ mấy chục triệu trong mấy năm qua để học hỏi kỹ thuật cổ phần hoá và trong đó có cả kỹ thuật định giá công ty. Ngoài ra, thế giới có rất nhiều doanh nghiệp tư vấn có khả năng chuyên môn rất cao về định giá công ty. Thành thử bài toán phức tạp ấy vẫn có giải đáp.

Vấn đề là phải có sổ sách minh bạch và ngăn được hiện tượng phổ biến tại nhiều nước, là đảng viên cán bộ trong doanh nghiệp Nhà nước lại cưỡng chống việc tư nhân hoá. Thế rồi nếu chống không nổi thì làm thịt doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá. Rốt cuộc Nhà nước chỉ bán được cái xác khô mà tay chân Nhà nước thì giàu to.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.