Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tư Doanh Vn Trước Thách Đố Asean, Apec

07/10/200300:00:00(Xem: 14842)
Tại Thượng đỉnh ASEAN họp ngày thứ ba ở Bali và Thượng đỉnh APEC triệu tập giữa tháng này ở Bangkok, tự do mậu dịch sẽ là đề tài nóng bỏng cho các nước. Vai trò và những thách đố cho khu vực tư doanh Việt Nam trong việc cạnh tranh này ra sao"
Đài RFA trao đổi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa như sau.
Hỏi: Thủ tướng Phan Văn Khải sẽ cầm đầu phái đoàn qua dự hội nghị cấp cao của Hiệp hội ASEAN tại Bali và sau đó sẽ còn hội nghị cấp cao của 21 nước trong Diễn đàn Kinh tế Á châu Thái bình dương vào các ngày 20 đến 21 tháng này. Thưa ông, chủ điểm chính của các hội nghị này là gì và sẽ ảnh hưởng ra sao tới tình hình kinh tế của Việt Nam"
-- Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á, gồm 10 nước là Việt Nam, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines, Brunei, Lào, Cămbốt, Miến Điện, vẫn có thượng đỉnh hàng năm và sau đó, nguyên thủ của 10 nước sẽ họp thêm với lãnh đạo của ba nước Đông Bắc Á là Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Hàn. Được biết năm nay, thượng đỉnh còn họp thêm với lãnh đạo Ấn Độ. Ngoài đề tài nóng của toàn khu vực là nạn khủng bố, với ấn tượng còn sâu đậm về vụ khủng bố cũng tại Bali, cách đây đúng hai năm, các nước tham dự sẽ đặc biệt quan tâm tới hồ sơ mậu dịch. Mậu dịch tự do cũng sẽ là đề tài nóng cho Thượng đỉnh của 21 nước trong Diễn đàn Kinh tế Á châu Thái bình dương, gọi tắt là APEC. Diễn đàn này quy tụ 21 quốc gia trong vòng cung Thái bình dương bao gồm cả Á châu, Úc châu lẫn các nước Nam-Bắc Mỹ mà ta hay gọi là Tây bán cầu, như Chile, Mexico, Hoa Kỳ và Canada. Sau sự tan vỡ của hội nghị WTO tại Cancun tháng trước, lần này, 21 nước APEC phải cố hàn gắn mâu thuẫn để đẩy mạnh trao đổi về nội dung và thời hạn tự do hóa mậu dịch. Trong bối cảnh đó, Việt Nam ở trước những triển vọng to lớn nhờ mậu dịch tự do, nhưng cũng gặp nhiều thách đố về cạnh tranh, trước hết với thời hạn hợp tác mở rộng giữa ASEAN và Trung Quốc vào mùng một tháng Giêng năm tới, để thúc đẩy sự hình thành khu mậu dịch tự do giữa 11 quốc gia này. Tại Thượng đỉnh ASEAN với Trung Quốc, Thủ tướng Ôn Gia Bảo còn có thể đề nghị với ASEAN nhiều biện pháp quy mô hơn để hội nhập kinh tế toàn khu vực. Đấy là những thách đố trước mắt cho nền kinh tế Việt Nam, nhất là cho các doanh nghiệp tư nhân.
Hỏi: Vì sao ông nhấn mạnh riêng tới các doanh nghiệp của tư nhân"
-- Khu vực quốc doanh là tay chân nhà nước và có những giới hạn hiển nhiên của nó, vì vậy từ cả chục năm nay người ta nói đến chuyện cổ phần hóa, thực chất là để tư nhân hóa khu vực này, mà chưa đi tới đâu. Trong khi đó, đóng góp nhiều nhất cho sinh hoạt kinh tế và trước hết là cho việc tuyển dụng nhân lực, là vai trò tư doanh, thì tư doanh Việt Nam tới nay vẫn chưa thực sự được giải phóng, chưa thể cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp nhà nước nên gặp nhiều thách đố hơn khi phải cạnh tranh với nước ngòai. Cụ thể là từ năm 2004 đến 2006, có khi sớm hơn do đề nghị của Trung Quốc, các nước sẽ tự do hóa trao đổi thương mại, tức là với thuế suất là 0%, khi đó, nông ngư sản Việt Nam có thể tiến vào thị trường Trung Quốc nhưng cũng sẽ phải đối phó với hàng Trung Quốc được tự do xuất khẩu vào Việt Nam. Đọc thống kê ta cứ thấy các Tổng công ty Lương thực của Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu này kia mà có khi không để ý rằng các đơn vị kinh tế ấy chỉ là cái ngọn, cái gốc chính là tư doanh Việt Nam đã lặng lẽ thu mua, đóng gói và vận chuyển hàng đến tận cửa khẩu để bán ra ngòai. Doanh nghiệp nhà nước có thể ngồi mát ăn bát vàng, chứ thực sự lâm trận cạnh tranh là tư doanh, là các hộ nông ngư dân.
Hỏi: Hình như ông không mấy lạc quan về tình hình hoạt động của tư doanh Việt Nam"
-- Không, ngược lại là đằng khác. Tư doanh Việt Nam có rất nhiều triển vọng và có lẽ là triển vọng lớn nhất cho toàn nền kinh tế, nhưng vẫn chưa có được một sân chơi bình đẳng như lối nói thông dụng ngày nay, so với quốc doanh. Trên bề mặt, tư doanh chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ vào tổng sản lượng quốc dân, thực tế thì lớn hơn nhiều, và sở dĩ như vậy là vì tư doanh phải thực hiện nhiều hoạt động sản xuất dưới danh nghĩa khác, thí dụ như qua đại diện của công ty quốc doanh, hoặc vì luật lệ tròng chéo, họ không được tham dự vào các hoạt động đó nên phải tìm đường vòng, hay ủy thác cho người khác lo việc ký kết. Trong cơn sốt về xuất nhập khẩu với đe dọa bị nhập siêu nặng năm nay, phần đóng góp về xuất cảng của tư doanh, dù mới chỉ tính trên mệnh giá, trên bề mặt, vẫn là cao hơn quốc doanh. Việt Nam hãnh diện là có tốc độ tăng trưởng thuộc loại cao nhất Đông Nam Á, nhưng lực đẩy cho đà tăng trưởng đó chính là tư doanh, căn cứ trên những thống kê chính thức, tức là những con số còn thấp hơn thực tế. Thành thử, nhìn trên đại thể thì tư doanh của ta có tiềm năng rất lớn mà chưa thực sự được giải phóng và cần được yểm trợ ngay vì đây là khu vực có khả năng thu dụng nhân công cao nhất và vì đây cũng là khu vực có khả năng biến báo linh động nhất, hơn hẳn quốc doanh vốn được nhà nước bảo vệ trong thực tế do cái gọi là “định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Hỏi: Đề cập đến hoàn cảnh éo le đó, xin ông cho biết một số thí dụ cụ thể.
-- Vì so với các nước khác, Việt Nam mới chỉ cải cách kinh tế gần đây thôi và còn đang trên con đường vừa làm vừa sửa với nỗi lo sợ là quyền hạn nhà nước bị thu hẹp, thành phần kinh tế tư nhân mới chỉ được công nhận quyền tự do kinh doanh từ mươi năm trở lại về thực tế. Do hoàn cảnh đó, đa số doanh nghiệp tư nhân là loại doanh nghiệp tân lập, nhỏ, thiếu những điều kiện cơ bản như vốn, năng lực, nhân sự, kinh nghiệm quản lý và thông tin thị trường, từ nội địa sang tới thị trường quốc tế. Đã vậy, các doanh nghiệp còn gặp nhiều rào cản trong việc thành lập và kinh doanh thí dụ như về đất đai, luật lệ và nhất là tiếp cận các nguồn tài trợ, như đi vay ngân hàng. Từng doanh nghiệp đã như vậy, cả khu vực tư nhân này cũng chưa tạo được thế liên kết hỗ tương. Việc tư doanh tự động lập ra hiệp hội và cơ chế điều tiết hoạt động của mình độc lập với sự can thiệp của nhà nước là điều đã phổ biến ở nhiều nước, nhưng vẫn còn là mới lạ và chưa khả thể ở Việt Nam. Đó là về những yếu tố chủ quan của khu vực tư doanh, về khách quan thì còn nữa.
Hỏi: Ông muốn nói đến môi trường kinh doanh còn nhiều trở ngại"
-- Vâng, một trong những tiêu chuẩn đánh giá trình độ tổ chức của một quốc gia là xem tờ phiếu điền tên khi làm thủ tục nhập cảnh hay hải quan, quan thuế. Nhà nước lạc hậu ưa hỏi rất nhiều chi tiết mà lại cho một ô vuông nhỏ xíu để điền lời khai. Từ đó mình suy ra bao thủ tục nhiêu khê rắc rối, thuế khóa nặng nề khi muốn thành lập doanh nghiệp. Đấy cũng là một tiêu chuẩn đo lường trình độ tổ chức và thực tế của môi trường kinh doanh. Tư nhân Việt Nam muốn lập cơ sở kinh doanh có thể mất ít ra hai tháng chạy giấy tờ với rất nhiều tốn kém và chỉ tìm đủ vốn để giải quyết việc đó cũng đủ hụt hơi, chưa nói chi đến đầu tư và sản xuất là một chặng đường gian nan nữa. Về gia nhập thị trường là vậy, khi kinh doanh sản xuất, tư doanh còn gặp trở ngại lớn là chính sách thiếu phân minh, hay thay đổi, luật lệ thiếu minh bạch, dễ đưa tới suy đoán, tra hỏi và cơ hội tham nhũng, và cơ quan nào của nhà nước cũng muốn bành trướng phạm vi thanh tra hạch hỏi để chứng tỏ sự hữu ích của họ với chính quyền nên tư doanh cứ như phải làm dâu trăm họ. Ta không thể kể hết nỗi vất vả của tư doanh trong môi trường quan liêu và bất trắc này. Nói chung, tư doanh tại Việt Nam chưa được yểm trợ đúng mức mà còn bị ràng buộc quá nhiều vào những cơ chế rườm rà, gây tốn kém và cản trở sự phát triển. Một thí dụ đang được nói tới là có công ty sản xuất nhu liệu điện toán tại Sàigon đã trúng thầu quốc tế để cung cấp dịch vụ thiết kế nhu liệu điện toán cho một ngân hàng nước ngoài nhưng không ký hợp đồng thi công được vì thiếu tiền ký quỹ, sở dĩ như vậy là vì ít vốn mà muốn vay tiền ký quỹ thì phải có hợp đồng. Tìm ra giải pháp điện toán thỏa đáng cho doanh nghiệp nước ngoài còn dễ hơn là giải quyết một vòng luẩn quẩn về luật lệ của nhà nước, và cuối cùng thì phải đem trí tuệ của mình ra làm giàu cho công ty ngoại quốc. Đó là hoàn cảnh làm cho ta có sản phẩm “chế tạo tại Việt Nam”, “made in Vietnam”, mà không có “sản phẩm của Việt Nam”, “product of Vietnam”. Dân ta có biệt tài làm khó lẫn nhau.
Hỏi: Ra khỏi môi trường nội địa và nói đến môi trường kinh doanh quốc tế, tư doanh Việt Nam dĩ nhiên là cũng gặp nhiều trở lực"
-- Hiển nhiên là có vì trong nước, quốc doanh còn muốn duy trì ưu thế độc quyền của mình thì ngoài quốc tế, xứ nào cũng muốn duy trì lợi thế mậu dịch trong lãnh vực có lợi nhất cho họ hay cho thành phần cử tri ủng hộ chính quyền. Nhưng, ngoài trở ngại cấp quốc gia như vậy, và là đề tài thảo luận trong các hội nghị quốc tế sắp tới tại Bali và Bangkok, tư doanh Việt Nam còn gặp khó khăn là thiếu thông tin về thị trường và các đối tác tiềm thế, là điều chính quyền đáng lẽ phải ưu tiên giải quyết cho họ nếu thực sự muốn giải phóng sức bật của tư doanh, và giúp cho xứ sở chóng phát triển trong thế hội nhập toàn cầu.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.