Hôm nay,  

Đạo Quân Vé Số

16/08/202400:00:00(Xem: 2059)

dao quan ve so 1

“Tôi hơi chậm hiểu lại rất chóng quên nên dù đã lê lết qua hơi nhiều trường ốc (trong cũng như ngoài nước) nhưng trình độ học vấn và kiến thức cũng chả̉ tới đâu, vẫn chỉ ở mức làng nhàng. Nói tóm lại là thuộc loại “xoàng”!

Ơ! “Xoàng” thì đã sao nhỉ?

Cũng không đến nỗi trăng/sao gì đâu, nếu tôi biết điều (biết chuyện – biết thân – biết phận) hơn chút xíu. Khổ nỗi, tôi lại cứ tưởng là mình cũng thuộc loại đầu óc trung bình (hoặc chỉ dưới mức đó không xa lắm) nên ghi danh học – tùm lum/tùm la – đủ thứ phân khoa: Triết Lý, Tâm Lý, Xã Hội, Nhân Chủng …

Mâm nào cũng có tui hết ráo!

Dần dà, tôi nhận ra là ngành học cuối có vẻ hợp với cái tạng, và cái tính bao la trời biển (bẩm sinh) nên quyết định sẽ chơi cho tới bến luôn. Quyết định này – tiếc thay – đã không được vị cố vấn giáo dục (academic counselor) củ̉a nhà trường khích lệ:

 “Ấy chớ! Chớ nên đi vào con đường xa xôi, lôi thôi, diệu vợi, hoang vu, âm u, và mịt mù như thế. Với bằng tiến sỹ nhân chủng thì chỉ có hai cách để kiếm sống thôi: đi dậy hoặc đi chạy taxi. Dậy học thì ngay dân bản xứ (da trắng bóc, tóc vàng hoe, mắt xanh lè) cũng khó chen chân, nói chi đến cái ngữ di dân với vốn tiếng Anh ngọng nghịu. Còn chạy taxi ở New York (hay San Francisco) thì cái thứ trông lờ khờ, lừ khừ, lử khử, lù khù, lờ đờ, lù đù, lừ đừ như ông từ vào đền (“y dạng của chú mày”) chắc cũng chỉ được độ ba bẩy/hai mốt ngày là … phải bỏ việc thôi – con ạ!

Tất nhiên, không ai nỡ nói thẳng vào mặt tha nhân những lời lẽ thô bạo và nặng nề đến thế. Tuy thế, tuy chỉ số thông minh trí tuệ (IQ – intelligence quotient) rất thấp nhưng mức độ mẫn tuệ (EQ – emotional intelligence) thì không đến nỗi gì nên tôi cảm nhận được ngay cái tình huống (không được sáng sủa gì lắm) của mình – qua giọng điệu của người đối thoại. Quả là tôi lầm thật, và chắc rằng lầm lắm, chứ chả bỡn đâu!

Nói nào ngay thì tôi cũng chả mặn mà (cái con bà) gì với cái bằng tiến sỹ. May mắn chui tọt ra được xứ người nên cũng có nuôi chút hoài bão là được hấp thụ một mớ kiến thức cơ bản về một ngành học lạ, cùng với ước mơ là sẽ thành lập được phân khoa về nhân chủng học (ở quê nhà) mai hậu.
 
Mai hậu chả biết là bao giờ mà đời người thì ngắn ngủi. Tóc tôi mỗi lúc một bạc dân (rồi bạc ráo) mà đường về thì mãi vẫn chưa có lối. Đã thế, cơm áo không đùa với khách thơ hay khách trú (fresh off the boat) không một xu dính túi, không nghề nghiệp trong tay, bằng cấp và học thức cũng không luôn … nên đành thôi vậy.
 
Giấc mơ nhân chủng học, tới đây, kể như là chấm hết (hay nói rõ hơn là đã chết) nhưng tôi nhất định vẫn chưa chịu mang chôn. Lâu lâu – đi lang thang trên mạng – cứ thấy loáng thoáng đâu đó có đám nào đang xì xào, thăm dò/ tìm kiếm/ xăm xoi/ đào xới/ bới móc/ khai quật (hang hốc, lăng tẩm, mộ bia, mồ mả, xương cốt …) là thế nào tôi cũng dừng chân, ghé mắt xem qua, cho biết .

Có lần, tôi tình cờ xem được đôi ba bài báo có đề cập đến nơi xuất phát của nền văn minh nhân loại:

 
Xin được tóm lược nội dung:

Khi được hỏi “điều gì có thể được xem như là dấu hiệu đầu tiên của sự văn minh”, nhà nhân chủng học Margaret Mead trả lời rằng:“Helping someone else through difficulty is where civilization starts”. (“Văn minh khởi đầu ở nơi mà tha nhân được trợ giúp khi lâm vào nghịch cảnh”).
Theo bà, trong thế giới loài vật khi một con thú bị gẫy chân thì chết là cái chắc. Nó  không còn khả năng sinh tồn, và sẽ bị đồng loại sâu xé tức thì. Do vậy, khi khai quật được một cái xương đùi của kẻ bị thương đã được chữa lành (15 ngàn năm trước) thì đây là dấu chỉ của văn minh, di tích về tính tương trợ của giống người.
Margaret Mead từ trần vào ngày 15 tháng 11 năm 1978. Gần nửa thế kỷ sau, sau khi bà tạ thế, mới có một cuộc tái khai quật tại hang động Shanidar (Trung Đông) vào năm 2018. Thành quả vừa được Netflix trân trọng giới thiệu một cuốn phim tài liệu (“Secrets of Neanderthal”) dài 80 phút – sản phẩm của BBC – vào hôm 2 tháng 5 năm 2024, với nhiều khám phá mới lạ có liên quan đến vấn đề thượng dẫn.


Một trong những phát hiện quan trọng đưa đến kết luận là người Neanderthal đã từng thể hiện sự thương cảm và tinh thần tương thân/tương ái lâu lắm rồi, chớ không phải chỉ mới 15 ngàn năm trước đâu!

Fred Lewsey, thuộc phân khoa nhân chủng của Đại Học Cambridge, cũng có bài tóm lược (“Revealed: face of 75,000-year-old female Neanderthal from cave where species buried their dead”) về cuộc khai quật mới mẻ này. Ông ghi nhận: 

“ … remains from Shanidar Cave still show signs of an empathetic species. For example, one male had a paralysed arm, deafness and head trauma that likely rendered him partially blind, yet had lived a long time, so must have been cared for. (hài cốt từ hang động Shanidar còn có dấu hiệu của những giống loài đồng cảm. Chẳng hạn, có một người nam với cánh tay bị liệt, điếc và bị thương trên đầu rất có thể bị mù nữa mà vẫn sống thọ, hẳn đã được chăm sóc đàng hoàng.)

Tinh thần tương trợ của giống người Neanderthal (được thể hiện từ bốn mươi lăm ngàn năm trước) khiến tôi không khỏi bùi ngùi, khi thoáng nhớ đến những mẩu tin ngăn ngắn – xuất hiện hằng ngày – trên mặt báo ở đất nước mình: 

Những đứa bé thơ (không một mái trường) những người già cả neo đơn (không nơi nương tựa) những kẻ thương tật (không nơi bám víu) những mảnh đời cùng quẫn, (không hề được đoái hoài) …  đã biến VN thành một “cường quốc vé số”, theo như ghi nhận của giới truyền thông:

Tuy là “lực lượng kinh tế nòng cốt” của một “cường quốc” nhưng những đạo quân vô danh này luôn bị trấn lột, bóc lột, ức hiếp, và dầy xéo đủ cách bởi bọn trẻ trâu (nghiện ngập) và đám lãnh đạo (đã không còn nhân tính) ở xứ sở này.

Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh phẫn nộ:

“Cái bọn đặt ra cái nghề kinh doanh mà lợi dụng triệt để lòng thương xót của cộng đồng đối với những người không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động để tăng doanh thu quả rất đáng để khinh bỉ và căm giận. Sáng nay, tui ngồi uống ly cà phê trong 1/2 tiếng đồng hồ để chờ vào cơ quan làm thủ tục giấy tờ ở một thị trấn tại Đồng Nai mà có đến gần 10 người vào mời mua vé số. Người già nua có, trẻ em có, người tàn tật có”.

Từ Việt Nam, thông tín viên Uyên Nguyên (RFA) cho biết:
Mỗi công ty có số lượng nhân viên biên chế chưa tới 50 người, với mức lương khá hời, số còn lại, cũng là nhân viên nhưng không có bất kì một chế độ nào, đó là những người bán vé số. Số lượng này đông gấp nhiều chục lần nhân viên biên chế, nhưng thu nhập và đời sống của họ vô cùng khó khăn. Thậm chí, có nhiều người chết trên đường đi bán vé số vì bụng đói và bệnh tật!

dao quan ve so 3
Những đứa bé thất học, những cụ già không còn sức lao động, những kẻ cơ nhỡ thương tật … ở nước CHXHCNVN (Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc) nếu sống trước đây vài chục ngàn năm – rất có thể – đã được đồng loại cưu mang và nuôi dưỡng tử tế, chứ không đến nỗi phải “chết trên đường đi bán vé số vì bụng đói và bệnh tật” như hiện trạng đâu.

Việt cộng thì cũng là người Việt thôi. Sao cũng là dòng dõi Lạc Hồng hay con Rồng cháu Tiên (gì đó) mà họ lại có thể ăn ở man rợ đến vậy, hả Trời ?

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.