Hôm nay,  

Krishnamurti và Bài Ca Về Người Yêu

16/02/202400:00:00(Xem: 2326)
 
Hình 1 hình chính

Jiddu Krishnamurti. Hình chụp lại từ đoạn video đăng tải trên Krishnaurti foundation.

  
Nhà hiền triết người Ấn Độ Jiddu Krishnamurti (1895-1986) qua đời vào ngày 17 tháng 2 năm 1986 tại Ojai Valley, Quận Ventura, Nam California, Hoa Kỳ, nơi ông đã chọn làm quê hương thứ hai từ năm 1922 cho đến khi ông mất, dù ông không ở đó thường trực. Tính đến tháng 2 năm nay, 2024 đã tròn 38 năm kể từ ngày ông lìa bỏ trần gian.

Krishnamurti là một trong những nhà hiền triết có sức ảnh hưởng rất lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 20. Cuốn “The First and Last Freedom” của ông được Giáo sư Phạm Công Thiện dịch sang tiếng Việt từ trước năm 1975 ở Sài Gòn với tựa đề “Tự Do Đầu Tiên và Cuối Cùng” là một trong những cuốn sách tôi rất yêu thích đọc từ thời còn niên thiếu.   

Nhân tìm đọc lại một số bài giảng và bài viết của Krishnamurti, tôi tình cờ gặp được bài thơ “Song of the Beloved” (Bài Ca Về Người Yêu), nhưng không thấy ghi ông đã làm từ bao giờ. Có lẽ bài ca này ông làm vào những lúc về nghỉ ngơi tịnh dưỡng ở Ojai, vì bài đó nói lên lòng yêu thích thâm thiết của ông đối với thiên nhiên, đối với khung cảnh u tịch của núi rừng và biển xanh mênh mông của Thái Bình Dương nhìn từ các dãy núi ở Ojai.

Trong cuốn sách “The First and Last Freedom” (Tự Do Đầu Tiên và Cuối Cùng), Krishnamurti viết rằng, “Khi có tình yêu thì không có tự ngã.”

Đúng thế, khi tình yêu chân thật hiện hữu, con người không còn thấy có ngăn cách, có hầm hố giữa họ với nhau. Điều đó cũng có nghĩa là bức tường tự ngã sẽ bị đổ xuống khi hai người đến với nhau bằng tình yêu chân thực. Nhưng tình cảm của con người là thế giới phức tạp. Nó dường như luôn luôn có hai mặt: yêu và ghét, thương và hận, bạn và thù. Tình cảm đó nằm trong một tâm hồn được hun đúc và nuôi dưỡng từ lâu đời bởi tham, sân và si, như Đạo Phật đã nói. Nói vậy, không có ý muốn nói rằng trên thế gian này không có tình yêu chân thật. Tất nhiên, không những có mà còn có không ít. Đối với Krishnamurti thì ông sống với tình yêu thiên nhiên và vượt lên tình cảm tương đãi. “Bài Ca Về Người Yêu” là một minh chứng. Phải chăng đó là thứ tình yêu cao khiết! Xin dịch lại bài thơ này để cống hiến bạn đọc nhân kỷ niệm 38 năm ngày tạ thế của Kirishnamurti.
 
Bài Ca Về Người Yêu
 
Này! Hãy lắng nghe,
Tôi sẽ hát cho bạn nghe bài ca về Người Yêu của tôi.
 
Nơi triền dốc xanh mượt của những dãy núi u tịch
Tiếp giáp dòng nước xanh lung linh của đại dương rì rào,
Nơi con suối sủi bọt reo hò trong hạnh phúc,
Nơi những hồ nước trong veo phản chiếu bầu trời tĩnh lặng,
Ở đó bạn sẽ gặp Người Yêu của tôi.
 
Trong thung lũng nơi mây giăng thưa thớt
Đang đi tìm ngọn núi để nghỉ ngơi,
Trong làn khói lặng yên bay lên trời,
Trong xóm nhỏ nhìn về hướng mặt trời lặn,
Trong những đám mây mỏng đang tan biến nhanh
Ở đó bạn sẽ gặp Người Yêu của tôi.
 
Giữa những ngọn tùng bách cao vút đang lắc lư,
Giữa những bụi cây run sợ đang bám chặt vào mặt đất,
Giữa những dây leo dài treo lơ lửng,
Ở đó bạn sẽ gặp Người Yêu của tôi.
 
Trong cánh đồng đã cày xới nơi những con chim líu lo đang kiếm ăn,
Trên con đường rợp bóng uốn khúc theo dòng sông đầy nước im lìm,
Hai bên bờ nước tràn ngập,
Giữa những cây bạch dương cao ngất đang đùa chơi với gió,
Trong thân cây chết vì bị sét đánh hồi mùa hè năm ngoái,
Ở đó bạn sẽ gặp Người Yêu của tôi.
 
Trong bầu trời xanh trong lành,
Nơi trời và đất giao thoa
Trong không khí đứng lặng,
Vào buổi sáng đốt trầm hương,
Giữa những bóng râm vào giữa trưa,
Giữa những chiếc bóng đổ dài vào buổi chiều,
Giữa những đám mây rực rỡ và sáng chói lúc mặt trời lặn,
Trên chân trời giáp biển vào cuối ngày,
Ở đó bạn sẽ gặp Người Yêu của tôi.
 
Trong hình bóng của các vì sao,
Trong sự yên tĩnh sâu thẳm của đêm đen,
Trong ánh trăng phản chiếu lên mặt nước lặng yên,
Trong sự im lặng khôn cùng trước rạng đông,
Giữa tiếng thì thầm của cây cối đang thức giấc,
Trong tiếng hót của muôn chim vào buổi sáng,
Giữa sự thức dậy của bóng tối,
Giữa những đỉnh núi xa xa ngập nắng,
Trong khuôn mặt ngái ngủ của địa cầu,
Ở đó bạn sẽ gặp Người Yêu của tôi.
 
Tiếp tục đi, kìa biển cả đang khiêu vũ,
Và lắng nghe giọng nói Người Yêu của tôi.
 
Trong tiếng cười hạnh phúc của trẻ thơ
Bạn có thể nghe Người Ấy.
Tiếng thánh thót của sáo
Là giọng nói của Người Ấy.
Tiếng kêu hoảng hốt của con chim lẻ loi
Khiến trái tim của bạn nhỏ lệ,
Vì bạn nghe giọng nói của Người Ấy.
Tiếng gầm thét của đại dương muôn đời
Đánh thức những ký ức
Đã bị lãng quên
Bởi giọng nói của Người Ấy.
Làn gió hiu hiu làm xao động
Những ngọn cây uể oải
Mang đến cho bạn âm thanh
Của giọng nói của Người Ấy.
 
Sấm sét giữa núi rừng
Làm đầy tâm hồn bạn
Với sức mạnh
Của giọng nói của Người Ấy.
Trong tiếng gầm của một thành phố lớn,
Qua những âm thanh về đêm,
Tiếng kêu đau khổ,
Tiếng reo hò vui sướng,
Qua sự xấu xa của giận dữ,
Có giọng nói Người Yêu của tôi.
 
Trong những hòn đảo xanh tươi xa xôi,
Trên giọt sương mềm mại,
Trên ngọn sóng vỡ tan,
Trên sự lấp lánh của biển,
Trên cánh của con chim đang bay,
Trên chiếc lá non của mùa xuân,
Bạn sẽ nhìn thấy khuôn mặt Người Yêu của tôi.
 
Trong đền thờ linh thiêng,
Trong hội trường khiêu vũ,
Trên khuôn mặt thánh thiện của nhà tu khổ hạnh,
Trong bước đi lảo đảo của gã say rượu,
Với kỹ nữ và gái trinh,
Bạn sẽ gặp Người Yêu của tôi.
 
Trên những cánh đồng hoa,
Trong những thành phố bẩn thỉu và nhơ uế,
Với sự thanh khiết và xấu xa,
Trong đóa hoa ẩn giấu thiên thần,
Có Người Yêu của tôi.
 
Ôi! Biển cả
Đã đi vào trái tim tôi,
Trong một ngày,
Tôi đang sống một trăm mùa hạ.
Này, bạn,
Tôi nhìn thấy khuôn mặt mình trong bạn,
Khuôn mặt Người Yêu của tôi.
 
Đây là bài ca về tình yêu của tôi.
(từ The Immortal Friend)
 
Krishnamurti và cái duyên với Thung Lũng Ojai, Nam California
 
Krishnamurti 02
Cảnh rừng núi ở Thung Lũng Ojai, California. (Photo: https://unsplash.com)
                
Jiddu Krishnamurti sinh ngày 12 tháng 5 năm 1895 tại miền Nam Ấn Độ trong một gia đình trung lưu mà cha mẹ theo đạo Bà La Môn. Trong hơn 65 năm, cho đến khi qua đời ở tuổi chín mươi, ông diễn thuyết khắp thế giới cho số khán giả rất lớn, không phải dựa vào quyền thế mà là một người yêu sự thật, theo Ellen Sklarz trong bài viết “Krishnamurti and the Ojai Valley” được đăng trên trang mạng https://ojaihistory.com. Ông đã đối thoại với nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo, khoa học gia, giáo sư, nhà văn, nhà tâm lý, học sinh, nhân vật nổi tiếng và những người thích thú khác.

Nhiều năm trước, Krishnamurti nói với một người bạn, “Nếu tôi không có nơi nào để đi trên thế giới này, tôi muốn về Ojai. Tôi muốn ngồi dưới gốc cây cam; nó sẽ che nắng cho tôi, và tôi có thể sống bằng trái cây.” Lần đầu tiên ông đến Thung Lũng Ojai là vào năm 1922 với người em Nityananda (còn gọi là Nitya), bị bệnh lao và cần sống ở vùng khí hậu ấm và khô.

Vào tháng 8 và tháng 9 năm 1922 tại Ojai, Krishnamurti đã trải qua sự “thay đổi cuộc đời” mãnh liệt, theo Pupul Jayakar trong tác phẩm “Krishnamurti: A Biography” được xuất bản lần đầu năm 1986. Điều này được mô tả nhiều cách như là một sự tỉnh thức tâm linh, một biến đổi tâm lý, và một sự hồi sinh thể chất. Các biến cố ban đầu đã diễn ra trong 2 giai đoạn khác biệt: đầu tiên là kinh nghiệm tâm linh ba ngày, và 2 tuần sau đó, tình trạng kéo dài hơn mà Krishnamurti và những người xung quanh ông gọi là một tiến trình. Tình trạng này đã tái diễn thường xuyên và với cường độ khác nhau, cho đến khi ông qua đời.

Theo các nhân chứng, sự kiện trên đã bắt đầu vào ngày 17 tháng 8 năm 1922 khi Krishnamurti phàn nàn về sự đau đớn ở gáy của ông. Qua 2 ngày kế tiếp các triệu chứng càng tồi tệ hơn, gia tăng cơn đau và nhạy cảm, biếng ăn, và đôi khi mê sảng. Ông ấy dường như rơi vào bất tỉnh nhưng sau đó đã kể lại rằng ông biết rõ những gì xảy ra chung quanh mình, và trong lúc ở trong trạng thái đó ông đã trải nghiệm “sự hợp nhất thần bí.” Ngày hôm sau các triệu chứng và kinh nghiệm mạnh mẽ hơn, đạt tới đỉnh điểm với cảm giác về “sự bình an vô cùng.” Tiếp theo, rõ ràng có liên quan đến, các sự kiện này là tình trạng được biết như là tiến trình đã bắt đầu ảnh hưởng ông, vào tháng 9 và tháng 10 năm đó, nhưng thường lệ xảy ra hầu hết vào ban đêm. Sau đó tiến trình này diễn ra không liên tục, với các mức độ đau đớn, khó chịu về thể xác, và nhạy cảm khác nhau, đôi khi rơi vào trạng thái giống như trẻ con, và thỉnh thoảng mất ý thức rõ ràng, được giải thích là cơ thể của ông chịu đựng cơn đau hay ông mất tâm thức.

Krishnamurti đã mô tả sự kiện trên trong cuốn sổ tay của ông như sau: “… thức dậy sớm với cảm giác mạnh mẽ về sự khác biệt, về thế giới khác vượt xa tất cả suy nghĩ … có sự nâng cao của nhạy cảm. Nhạy cảm, không chỉ với vẻ đẹp mà còn với tất cả mọi thứ khác. Ngọn cỏ xanh đến ngạc nhiên; rằng một ngọn cỏ chứa toàn bộ quang phổ màu sắc; nó mãnh liệt, rực rỡ và một thứ nhỏ như vậy lại rất dễ bị phá hủy …”

Vấn đề sức khỏe dai dẳng của Nitya thỉnh thoảng tái hiện trong suốt thời gian này. Vào ngày 13 tháng 11 năm 1925, Nitya qua đời tại Ojai vì bị bệnh dịch và lao. Dù sức khỏe tồi tệ của Nitya, cái chết của ông ấy không được dự kiến, và nó chấn động một cách mạnh mẽ niềm tin của Krishnamurti vào Thông Thiên Học và vào các nhà lãnh đạo của Hội Thông Thiên Học. Ông đã nhận được lời khẳng định của họ bất kể tình trạng sức khỏe của Nitya, và đã tin rằng “Nitya là cần thiết cho sứ mệnh cả đời của ông và do đó Nitya không được phép chết,” một niềm tin được chia sẻ bởi Annie Besant và những người chung quanh Krishnamurti. Jayakar viết rằng “niềm tin của ông [Krishnamurti] vào các bậc Thầy và hệ thống đẳng cấp đã trải qua một cuộc cách mạng toàn diện.”  

Vì vậy, vào năm 1929, Krishnamurti đã từ bỏ vai trò đạo sư mà ông đã được kỳ vọng đảm nhiệm, giải tán Hội Thông Thiên Học với số tín đồ rất đông, và trả lại tất cả tiền bạc và tài sản mà đã được cống hiến cho công tác này, theo tài liệu về cuộc đời của Krishnamurti được đăng trên trang mạng www.jkrishnamurti.org.

Thung Lũng Ojai – chữ Ojai bắt nguồn từ tiếng của người Thổ Dân Mỹ ở vùng Ventura có nghĩa là “Mặt Trăng” -- vào các thập niên 1920s, 30s, và 40s hoàn toàn khác với ngày nay. Dân cư thưa thớt hơn nhiều, đường sá thì chưa được tráng nhựa, nhà không khóa cửa, và không bị kẹt xe. Thế Chiến Thứ Hai đã không chạm đến thung lũng này, và sự tĩnh mịch và nét lộng lẫy hoang sơ của nó xoa dịu hầu hết mọi người đến đây. Krishnamurti cũng thích vẻ đẹp nguyên sơ, sự yên lặng, và khí hậu của thung lũng này. Ojai giúp ông thoát khỏi đám đông đổ xô đến nghe ông nói chuyện tại Châu Âu, Ấn Độ, Úc và khắp Hoa Kỳ.

Cuộc sống của Krihnamurti tại thung lũng thì bình lặng. Đội chiếc mũ Mỡ Tây Cơ rộng vành để che nắng lúc đi bộ, ông hòa nhập và ca hát với những người hái trái cam tại vườn East End trong thung lũng. Ông đi bộ xuyên qua những ngọn đồi Topa Topa và Đỉnh Chief. Ông tới Ojai Theater, nếu có phim Disney, phim thú vật, hay nhạc cổ điển Mỹ như “Oklahoma,” “Brigadoon,” hay “Annie Get Your Gun” đang trình chiếu.

Có người nói rằng Krisnamurti đã gián tiếp thiết lập khí hậu tri thức và xã hội của Thung Lũng Ojai. Từ những ngày đầu khi đến đây, ông đã thu hút nhiều người từ khắp nơi trên thế giới đến đây để phỏng vấn ông và tham dự các buổi nói chuyện hàng năm của ông tại Oak Grove ở Meiners Oaks. Trong số những người đó có Aldous Huxley và bác sĩ David Bohm, Jackson Pollack, Christopher Isherwood, và Ann Morrow Lindbergh. Những ngôi sao điện ảnh Hollywood như Charlie Chaplin, Elsa Lanchester, Greta Garbo, và Charles Laughton cũng đến thung lũng này để nghe ông, khi danh tiếng của ông vang xa khắp thế giới.

Krishnamurti gặp mọi người – nổi tiếng hay vô danh, trí thức hay không – lắng nghe và hỏi họ về những vấn đề sâu thẳm của cuộc sống có liên quan đến tất cả mọi người. Những cuộc thảo luận và nói chuyện sâu sắc đó lúc đầu đã được ghi lại như những phúc trình bằng miệng, và nhiều năm sau bằng thu âm và thu hình. Nhưng hầu hết mọi người đều biết những lời dạy này qua sách vở.
 
Trong hai mươi năm cuối đời, Krishnamurti đã có ba hay bốn tháng mỗi năm ở Thung Lũng Ojai để nghỉ ngơi sau lịch trình dài du thuyết. Ở đây hàng ngày ông đi bộ, làm vườn, nghỉ ngơi, thăm bạn bè, và thực hiện vài cuộc phỏng vấn trước các buổi nói chuyện vào tháng Năm hàng năm tại Oak Grove. Ông cũng quan tâm đến các hoạt động của Tổ Chức Krishnamurti Foundation of America (KFA) và Trường Oak Grove School do ông sáng lập tại đây, và thường xuyên gặp gỡ nhân viên và phụ huynh để thảo luận và khám phá các vấn đề trọng tâm của công việc học đường.

Cuối cùng, tình cảm của Krishnamurti đối với Thung Lũng Ojai đã được biểu lộ trong ước muốn của ông tại Madras vào tháng 1 năm 1986, khi sức khỏe của ông xuống dốc. Yêu cầu được trở về Ojai càng nhanh càng tốt, ông đã đến nơi với vẻ mệt mỏi và suy nhược sau chuyến bay dài đi qua Singapore và Tokyo tới Los Angeles. Krishnamurti đã từ trần ở tuổi 90 vào ngày 17 tháng 2 năm 1986 tại Thung Lũng Ojai.

Trong bối cảnh nhân loại đang sống trong thế giới đầy hận thù, bạo lực và chiến tranh hiện nay, câu nói thời danh của Krishnamurti trong “The First and Last Freedom,” rằng, “Chỉ có tình yêu mới có thể giải quyết được tất cả những khó khăn của loài người chúng ta,” đích thật là giải pháp toàn diện và rốt ráo.

Nhưng, e rằng trái tim của con người đã ngày càng bị xơ cứng và chai lì!
 
Huỳnh Kim Quang
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nó đứng như tượng biết cử động suốt ngày đêm. Tôi chưa biết phải làm gì với nó, nhưng tò mò muốn theo dõi. Mang thức ăn và nước uống mới đến mỗi buổi chiều. Tuy bốn chân bị dính cứng trong keo, nhưng mỗi khi tôi đến gần, ngày hôm trước, mắt nó tỏ vẻ giận dữ, cử chỉ hành hung như con vật trong màn múa rối; ngày hôm sau mắt tỏ vẻ nghĩ ngợi, cử động phòng thủ nhiều hơn hăm dọa; ngày thứ ba mắt nhìn thấy buồn bã và cầu khẩn, thoi thóp. Nó chết ngày thứ tư. Thân hình phục xuống trên bốn chân. Đầu gục về phía trước dính vào keo. Mắt nhắm hơn một nửa, hí nhìn không còn cảm giác.
Ngưởì Việt di tản tỵ nạn khi qua đây mới học được tiếng Anh. Cho dù, cuối cùng tốt nghiệp được đại học nhưng có lẽ cũng không thể nào biết tới hết 118 chữ đồng nghĩa với Death trong tự điển Thesaurus được. Ngay người Mỹ bản xứ cũng thế, nói chi đến các chữ khác.
Cuốn sách này, như chính tựa đề, Đường về thủy phủ, đã báo hiệu điều gì đó huyễn hoặc. Vì vậy, bạn đọc nếu chờ đợi một câu chuyện tiểu thuyết thông thường có đầu đuôi, có lô-gic, có sự tình chặt chẽ hợp lý, xin gấp sách lại, hãy tìm đọc một cuốn khác. Là một tác phẩm siêu hư cấu không có chủ ý đáp ứng những quy củ tiểu thuyết thông thường, Đường Về Thủy Phủ của Trịnh Y Thư là một tập hợp của ba câu chuyện, ba toa riêng lẻ của một chuyến tàu, vận hành trên cùng một đường rầy thiên lý, theo chiều dài của một giai đoạn lịch sử chiến tranh tanh nồng, nơi hành khách là những nhân vật bị ném lên tàu, vất vưởng chuyển động trên một trục cố định, dốc toàn bộ sức lực và trí tưởng tượng gắng tìm cho mình một lối thoát, hay theo tác giả, tìm một lối về.
Con người của toán học và kỹ thuật nhưng tâm hồn lại dành cho văn chương. Chính văn chương đã nâng anh dậy thành một nhà văn xứng với cái tên Trần Quí Sách tiền định. Từ năm 1964, anh đã có truyện và thơ trên Bách Khoa, Văn, Văn Học, Đời, Thời Tập, Vấn Đề, Khởi Hành và Ý Thức. Năm 2004, anh về hưu và dành tất cả thời gian cho văn học Việt Nam với Thư Ấn Quán và Thư Quán Bản Thảo. Anh đã biến căn nhà ở Plainfield, New Jersey, thành nhà in gồm toàn máy móc cũ mua rẻ trên e-Bay để “chế tạo” những cuốn sách từ A đến Z.
Có lẽ từ khi xem cuốn phim Casablanca, một cuốn phim khá xưa, tôi có ý thích đi Morocco. Phim kể về một chuyện tình trong bối cảnh đệ nhị thế chiến. Humphrey Bogart và Ingrid Bergman thủ vai chính. Lúc đó, nhiều nơi trên đất Pháp đã bị Đức Quốc Xã chiếm đóng. Rất nhiều người chạy trốn Hitler bằng những con đường gian truân. Đi từ Paris, đến Marseilles, đến Lisbon, thoát qua Morocco. Để từ quốc gia ở bắc Phi lo giấy tờ trốn qua Hoa Kỳ. Hình ảnh Ingrid Bergman trong vai Ilsa cúi xuống nói với người nhạc công: “Sam, play it once, play “As Time Goes By”, đã đọng lại thật lâu trong trí nhớ tôi. Vì những lý do ngẫu nhiên, mà chuyến công tác sang Morocco cứ bị dời mãi. Hoạch định từ đầu năm, mãi đến tháng Sáu mới lên lịch được. Tôi nói với thượng cấp của tôi, sẽ lấy một tuần nghỉ phép sau khi đi làm ở Morocco. Lúc đó con tôi cũng được nghỉ lễ hai tuần, rất tiện. Chúng tôi sẽ về nhà Ba Mạ tôi.
Gửi BS Trần Quí Thoại, như một nén nhang tưởng nhớ người lính, nhà văn, nhà thơ Trần Hoài Thư. Thác là thể phách, còn là tinh anh. (Nguyễn Du) Những tấm hình chụp nhà văn Trần Hoài Thư trên giường bệnh là của BS Trần Quí Thoại, con trai Trần Hoài Thư gửi cho BS Ngô Thế Vinh với ghi chú: “để Bác Vinh viết về những ngày cuối cùng của Ba con.”
Tháng 6/2024 là ngày giỗ nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (nhà báo, nhà thơ, nhà văn) nên nhân dịp nầy tôi viết về cuộc tình của bà với nhà văn Nguyễn Quang. Nữ sĩ MĐHT nổi tiếng từ trong nước đến hải ngoại, và cũng là người phục hồi lại Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại nên tên tuổi bà được mọi người biết đến nhưng “Đằng sau một người đàn bà thành công luôn có bóng dáng người đàn ông” ở trường hợp nầy.
Trước hết, về cơ bản, thơ ca cho phép các cá thể con người nói lên những cảm xúc, suy nghĩ và trải nghiệm sâu sắc nhất của họ. Nó có thể nắm bắt được các sắc thái cảm xúc của con người theo những cách mà các loại hình giao tiếp khác không thể làm được. Vay mượn câu nói của Milan Kundera, “có những điều chỉ tiểu thuyết mới nói được”, tôi có thể nói “có những điều chỉ thơ ca mới nói được.”
Nhà văn Trần Hoài Thư vừa ra đi lúc 6 giờ 35 sáng nay [giờ miền Đông Hoa Kỳ], ngày Thứ Hai 27.05.2024 tại bệnh viện JFK, New Jersey, đúng một tháng sau ngày Chị Ngọc Yến mất [27.04.2024]. Đây là một tin buồn và cũng là một mất mát lớn trong làng Văn học Việt Nam hải ngoại. Sau đây là bài viết của Trần Yên Hòa tưởng nhớ về Ông.
Đọc 9 Khuôn Mặt 9 Phong Khí Văn Chương một lần, nhiều lần, vẫn thấy tràn lấp trong mọi suy tưởng, phê bình, phân tích, là niềm hứng khởi hân hoan của một người viết, vừa là nhà thơ, vừa phê bình văn học, và trên hết là một người đọc tha thiết, mê say, bằng tất cả trái tim và khối óc...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.