Hôm nay,  

Krishnamurti và Bài Ca Về Người Yêu

2/16/202400:00:00(View: 4362)
 
Hình 1 hình chính

Jiddu Krishnamurti. Hình chụp lại từ đoạn video đăng tải trên Krishnaurti foundation.

  
Nhà hiền triết người Ấn Độ Jiddu Krishnamurti (1895-1986) qua đời vào ngày 17 tháng 2 năm 1986 tại Ojai Valley, Quận Ventura, Nam California, Hoa Kỳ, nơi ông đã chọn làm quê hương thứ hai từ năm 1922 cho đến khi ông mất, dù ông không ở đó thường trực. Tính đến tháng 2 năm nay, 2024 đã tròn 38 năm kể từ ngày ông lìa bỏ trần gian.

Krishnamurti là một trong những nhà hiền triết có sức ảnh hưởng rất lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 20. Cuốn “The First and Last Freedom” của ông được Giáo sư Phạm Công Thiện dịch sang tiếng Việt từ trước năm 1975 ở Sài Gòn với tựa đề “Tự Do Đầu Tiên và Cuối Cùng” là một trong những cuốn sách tôi rất yêu thích đọc từ thời còn niên thiếu.   

Nhân tìm đọc lại một số bài giảng và bài viết của Krishnamurti, tôi tình cờ gặp được bài thơ “Song of the Beloved” (Bài Ca Về Người Yêu), nhưng không thấy ghi ông đã làm từ bao giờ. Có lẽ bài ca này ông làm vào những lúc về nghỉ ngơi tịnh dưỡng ở Ojai, vì bài đó nói lên lòng yêu thích thâm thiết của ông đối với thiên nhiên, đối với khung cảnh u tịch của núi rừng và biển xanh mênh mông của Thái Bình Dương nhìn từ các dãy núi ở Ojai.

Trong cuốn sách “The First and Last Freedom” (Tự Do Đầu Tiên và Cuối Cùng), Krishnamurti viết rằng, “Khi có tình yêu thì không có tự ngã.”

Đúng thế, khi tình yêu chân thật hiện hữu, con người không còn thấy có ngăn cách, có hầm hố giữa họ với nhau. Điều đó cũng có nghĩa là bức tường tự ngã sẽ bị đổ xuống khi hai người đến với nhau bằng tình yêu chân thực. Nhưng tình cảm của con người là thế giới phức tạp. Nó dường như luôn luôn có hai mặt: yêu và ghét, thương và hận, bạn và thù. Tình cảm đó nằm trong một tâm hồn được hun đúc và nuôi dưỡng từ lâu đời bởi tham, sân và si, như Đạo Phật đã nói. Nói vậy, không có ý muốn nói rằng trên thế gian này không có tình yêu chân thật. Tất nhiên, không những có mà còn có không ít. Đối với Krishnamurti thì ông sống với tình yêu thiên nhiên và vượt lên tình cảm tương đãi. “Bài Ca Về Người Yêu” là một minh chứng. Phải chăng đó là thứ tình yêu cao khiết! Xin dịch lại bài thơ này để cống hiến bạn đọc nhân kỷ niệm 38 năm ngày tạ thế của Kirishnamurti.
 
Bài Ca Về Người Yêu
 
Này! Hãy lắng nghe,
Tôi sẽ hát cho bạn nghe bài ca về Người Yêu của tôi.
 
Nơi triền dốc xanh mượt của những dãy núi u tịch
Tiếp giáp dòng nước xanh lung linh của đại dương rì rào,
Nơi con suối sủi bọt reo hò trong hạnh phúc,
Nơi những hồ nước trong veo phản chiếu bầu trời tĩnh lặng,
Ở đó bạn sẽ gặp Người Yêu của tôi.
 
Trong thung lũng nơi mây giăng thưa thớt
Đang đi tìm ngọn núi để nghỉ ngơi,
Trong làn khói lặng yên bay lên trời,
Trong xóm nhỏ nhìn về hướng mặt trời lặn,
Trong những đám mây mỏng đang tan biến nhanh
Ở đó bạn sẽ gặp Người Yêu của tôi.
 
Giữa những ngọn tùng bách cao vút đang lắc lư,
Giữa những bụi cây run sợ đang bám chặt vào mặt đất,
Giữa những dây leo dài treo lơ lửng,
Ở đó bạn sẽ gặp Người Yêu của tôi.
 
Trong cánh đồng đã cày xới nơi những con chim líu lo đang kiếm ăn,
Trên con đường rợp bóng uốn khúc theo dòng sông đầy nước im lìm,
Hai bên bờ nước tràn ngập,
Giữa những cây bạch dương cao ngất đang đùa chơi với gió,
Trong thân cây chết vì bị sét đánh hồi mùa hè năm ngoái,
Ở đó bạn sẽ gặp Người Yêu của tôi.
 
Trong bầu trời xanh trong lành,
Nơi trời và đất giao thoa
Trong không khí đứng lặng,
Vào buổi sáng đốt trầm hương,
Giữa những bóng râm vào giữa trưa,
Giữa những chiếc bóng đổ dài vào buổi chiều,
Giữa những đám mây rực rỡ và sáng chói lúc mặt trời lặn,
Trên chân trời giáp biển vào cuối ngày,
Ở đó bạn sẽ gặp Người Yêu của tôi.
 
Trong hình bóng của các vì sao,
Trong sự yên tĩnh sâu thẳm của đêm đen,
Trong ánh trăng phản chiếu lên mặt nước lặng yên,
Trong sự im lặng khôn cùng trước rạng đông,
Giữa tiếng thì thầm của cây cối đang thức giấc,
Trong tiếng hót của muôn chim vào buổi sáng,
Giữa sự thức dậy của bóng tối,
Giữa những đỉnh núi xa xa ngập nắng,
Trong khuôn mặt ngái ngủ của địa cầu,
Ở đó bạn sẽ gặp Người Yêu của tôi.
 
Tiếp tục đi, kìa biển cả đang khiêu vũ,
Và lắng nghe giọng nói Người Yêu của tôi.
 
Trong tiếng cười hạnh phúc của trẻ thơ
Bạn có thể nghe Người Ấy.
Tiếng thánh thót của sáo
Là giọng nói của Người Ấy.
Tiếng kêu hoảng hốt của con chim lẻ loi
Khiến trái tim của bạn nhỏ lệ,
Vì bạn nghe giọng nói của Người Ấy.
Tiếng gầm thét của đại dương muôn đời
Đánh thức những ký ức
Đã bị lãng quên
Bởi giọng nói của Người Ấy.
Làn gió hiu hiu làm xao động
Những ngọn cây uể oải
Mang đến cho bạn âm thanh
Của giọng nói của Người Ấy.
 
Sấm sét giữa núi rừng
Làm đầy tâm hồn bạn
Với sức mạnh
Của giọng nói của Người Ấy.
Trong tiếng gầm của một thành phố lớn,
Qua những âm thanh về đêm,
Tiếng kêu đau khổ,
Tiếng reo hò vui sướng,
Qua sự xấu xa của giận dữ,
Có giọng nói Người Yêu của tôi.
 
Trong những hòn đảo xanh tươi xa xôi,
Trên giọt sương mềm mại,
Trên ngọn sóng vỡ tan,
Trên sự lấp lánh của biển,
Trên cánh của con chim đang bay,
Trên chiếc lá non của mùa xuân,
Bạn sẽ nhìn thấy khuôn mặt Người Yêu của tôi.
 
Trong đền thờ linh thiêng,
Trong hội trường khiêu vũ,
Trên khuôn mặt thánh thiện của nhà tu khổ hạnh,
Trong bước đi lảo đảo của gã say rượu,
Với kỹ nữ và gái trinh,
Bạn sẽ gặp Người Yêu của tôi.
 
Trên những cánh đồng hoa,
Trong những thành phố bẩn thỉu và nhơ uế,
Với sự thanh khiết và xấu xa,
Trong đóa hoa ẩn giấu thiên thần,
Có Người Yêu của tôi.
 
Ôi! Biển cả
Đã đi vào trái tim tôi,
Trong một ngày,
Tôi đang sống một trăm mùa hạ.
Này, bạn,
Tôi nhìn thấy khuôn mặt mình trong bạn,
Khuôn mặt Người Yêu của tôi.
 
Đây là bài ca về tình yêu của tôi.
(từ The Immortal Friend)
 
Krishnamurti và cái duyên với Thung Lũng Ojai, Nam California
 
Krishnamurti 02
Cảnh rừng núi ở Thung Lũng Ojai, California. (Photo: https://unsplash.com)
                
Jiddu Krishnamurti sinh ngày 12 tháng 5 năm 1895 tại miền Nam Ấn Độ trong một gia đình trung lưu mà cha mẹ theo đạo Bà La Môn. Trong hơn 65 năm, cho đến khi qua đời ở tuổi chín mươi, ông diễn thuyết khắp thế giới cho số khán giả rất lớn, không phải dựa vào quyền thế mà là một người yêu sự thật, theo Ellen Sklarz trong bài viết “Krishnamurti and the Ojai Valley” được đăng trên trang mạng https://ojaihistory.com. Ông đã đối thoại với nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo, khoa học gia, giáo sư, nhà văn, nhà tâm lý, học sinh, nhân vật nổi tiếng và những người thích thú khác.

Nhiều năm trước, Krishnamurti nói với một người bạn, “Nếu tôi không có nơi nào để đi trên thế giới này, tôi muốn về Ojai. Tôi muốn ngồi dưới gốc cây cam; nó sẽ che nắng cho tôi, và tôi có thể sống bằng trái cây.” Lần đầu tiên ông đến Thung Lũng Ojai là vào năm 1922 với người em Nityananda (còn gọi là Nitya), bị bệnh lao và cần sống ở vùng khí hậu ấm và khô.

Vào tháng 8 và tháng 9 năm 1922 tại Ojai, Krishnamurti đã trải qua sự “thay đổi cuộc đời” mãnh liệt, theo Pupul Jayakar trong tác phẩm “Krishnamurti: A Biography” được xuất bản lần đầu năm 1986. Điều này được mô tả nhiều cách như là một sự tỉnh thức tâm linh, một biến đổi tâm lý, và một sự hồi sinh thể chất. Các biến cố ban đầu đã diễn ra trong 2 giai đoạn khác biệt: đầu tiên là kinh nghiệm tâm linh ba ngày, và 2 tuần sau đó, tình trạng kéo dài hơn mà Krishnamurti và những người xung quanh ông gọi là một tiến trình. Tình trạng này đã tái diễn thường xuyên và với cường độ khác nhau, cho đến khi ông qua đời.

Theo các nhân chứng, sự kiện trên đã bắt đầu vào ngày 17 tháng 8 năm 1922 khi Krishnamurti phàn nàn về sự đau đớn ở gáy của ông. Qua 2 ngày kế tiếp các triệu chứng càng tồi tệ hơn, gia tăng cơn đau và nhạy cảm, biếng ăn, và đôi khi mê sảng. Ông ấy dường như rơi vào bất tỉnh nhưng sau đó đã kể lại rằng ông biết rõ những gì xảy ra chung quanh mình, và trong lúc ở trong trạng thái đó ông đã trải nghiệm “sự hợp nhất thần bí.” Ngày hôm sau các triệu chứng và kinh nghiệm mạnh mẽ hơn, đạt tới đỉnh điểm với cảm giác về “sự bình an vô cùng.” Tiếp theo, rõ ràng có liên quan đến, các sự kiện này là tình trạng được biết như là tiến trình đã bắt đầu ảnh hưởng ông, vào tháng 9 và tháng 10 năm đó, nhưng thường lệ xảy ra hầu hết vào ban đêm. Sau đó tiến trình này diễn ra không liên tục, với các mức độ đau đớn, khó chịu về thể xác, và nhạy cảm khác nhau, đôi khi rơi vào trạng thái giống như trẻ con, và thỉnh thoảng mất ý thức rõ ràng, được giải thích là cơ thể của ông chịu đựng cơn đau hay ông mất tâm thức.

Krishnamurti đã mô tả sự kiện trên trong cuốn sổ tay của ông như sau: “… thức dậy sớm với cảm giác mạnh mẽ về sự khác biệt, về thế giới khác vượt xa tất cả suy nghĩ … có sự nâng cao của nhạy cảm. Nhạy cảm, không chỉ với vẻ đẹp mà còn với tất cả mọi thứ khác. Ngọn cỏ xanh đến ngạc nhiên; rằng một ngọn cỏ chứa toàn bộ quang phổ màu sắc; nó mãnh liệt, rực rỡ và một thứ nhỏ như vậy lại rất dễ bị phá hủy …”

Vấn đề sức khỏe dai dẳng của Nitya thỉnh thoảng tái hiện trong suốt thời gian này. Vào ngày 13 tháng 11 năm 1925, Nitya qua đời tại Ojai vì bị bệnh dịch và lao. Dù sức khỏe tồi tệ của Nitya, cái chết của ông ấy không được dự kiến, và nó chấn động một cách mạnh mẽ niềm tin của Krishnamurti vào Thông Thiên Học và vào các nhà lãnh đạo của Hội Thông Thiên Học. Ông đã nhận được lời khẳng định của họ bất kể tình trạng sức khỏe của Nitya, và đã tin rằng “Nitya là cần thiết cho sứ mệnh cả đời của ông và do đó Nitya không được phép chết,” một niềm tin được chia sẻ bởi Annie Besant và những người chung quanh Krishnamurti. Jayakar viết rằng “niềm tin của ông [Krishnamurti] vào các bậc Thầy và hệ thống đẳng cấp đã trải qua một cuộc cách mạng toàn diện.”  

Vì vậy, vào năm 1929, Krishnamurti đã từ bỏ vai trò đạo sư mà ông đã được kỳ vọng đảm nhiệm, giải tán Hội Thông Thiên Học với số tín đồ rất đông, và trả lại tất cả tiền bạc và tài sản mà đã được cống hiến cho công tác này, theo tài liệu về cuộc đời của Krishnamurti được đăng trên trang mạng www.jkrishnamurti.org.

Thung Lũng Ojai – chữ Ojai bắt nguồn từ tiếng của người Thổ Dân Mỹ ở vùng Ventura có nghĩa là “Mặt Trăng” -- vào các thập niên 1920s, 30s, và 40s hoàn toàn khác với ngày nay. Dân cư thưa thớt hơn nhiều, đường sá thì chưa được tráng nhựa, nhà không khóa cửa, và không bị kẹt xe. Thế Chiến Thứ Hai đã không chạm đến thung lũng này, và sự tĩnh mịch và nét lộng lẫy hoang sơ của nó xoa dịu hầu hết mọi người đến đây. Krishnamurti cũng thích vẻ đẹp nguyên sơ, sự yên lặng, và khí hậu của thung lũng này. Ojai giúp ông thoát khỏi đám đông đổ xô đến nghe ông nói chuyện tại Châu Âu, Ấn Độ, Úc và khắp Hoa Kỳ.

Cuộc sống của Krihnamurti tại thung lũng thì bình lặng. Đội chiếc mũ Mỡ Tây Cơ rộng vành để che nắng lúc đi bộ, ông hòa nhập và ca hát với những người hái trái cam tại vườn East End trong thung lũng. Ông đi bộ xuyên qua những ngọn đồi Topa Topa và Đỉnh Chief. Ông tới Ojai Theater, nếu có phim Disney, phim thú vật, hay nhạc cổ điển Mỹ như “Oklahoma,” “Brigadoon,” hay “Annie Get Your Gun” đang trình chiếu.

Có người nói rằng Krisnamurti đã gián tiếp thiết lập khí hậu tri thức và xã hội của Thung Lũng Ojai. Từ những ngày đầu khi đến đây, ông đã thu hút nhiều người từ khắp nơi trên thế giới đến đây để phỏng vấn ông và tham dự các buổi nói chuyện hàng năm của ông tại Oak Grove ở Meiners Oaks. Trong số những người đó có Aldous Huxley và bác sĩ David Bohm, Jackson Pollack, Christopher Isherwood, và Ann Morrow Lindbergh. Những ngôi sao điện ảnh Hollywood như Charlie Chaplin, Elsa Lanchester, Greta Garbo, và Charles Laughton cũng đến thung lũng này để nghe ông, khi danh tiếng của ông vang xa khắp thế giới.

Krishnamurti gặp mọi người – nổi tiếng hay vô danh, trí thức hay không – lắng nghe và hỏi họ về những vấn đề sâu thẳm của cuộc sống có liên quan đến tất cả mọi người. Những cuộc thảo luận và nói chuyện sâu sắc đó lúc đầu đã được ghi lại như những phúc trình bằng miệng, và nhiều năm sau bằng thu âm và thu hình. Nhưng hầu hết mọi người đều biết những lời dạy này qua sách vở.
 
Trong hai mươi năm cuối đời, Krishnamurti đã có ba hay bốn tháng mỗi năm ở Thung Lũng Ojai để nghỉ ngơi sau lịch trình dài du thuyết. Ở đây hàng ngày ông đi bộ, làm vườn, nghỉ ngơi, thăm bạn bè, và thực hiện vài cuộc phỏng vấn trước các buổi nói chuyện vào tháng Năm hàng năm tại Oak Grove. Ông cũng quan tâm đến các hoạt động của Tổ Chức Krishnamurti Foundation of America (KFA) và Trường Oak Grove School do ông sáng lập tại đây, và thường xuyên gặp gỡ nhân viên và phụ huynh để thảo luận và khám phá các vấn đề trọng tâm của công việc học đường.

Cuối cùng, tình cảm của Krishnamurti đối với Thung Lũng Ojai đã được biểu lộ trong ước muốn của ông tại Madras vào tháng 1 năm 1986, khi sức khỏe của ông xuống dốc. Yêu cầu được trở về Ojai càng nhanh càng tốt, ông đã đến nơi với vẻ mệt mỏi và suy nhược sau chuyến bay dài đi qua Singapore và Tokyo tới Los Angeles. Krishnamurti đã từ trần ở tuổi 90 vào ngày 17 tháng 2 năm 1986 tại Thung Lũng Ojai.

Trong bối cảnh nhân loại đang sống trong thế giới đầy hận thù, bạo lực và chiến tranh hiện nay, câu nói thời danh của Krishnamurti trong “The First and Last Freedom,” rằng, “Chỉ có tình yêu mới có thể giải quyết được tất cả những khó khăn của loài người chúng ta,” đích thật là giải pháp toàn diện và rốt ráo.

Nhưng, e rằng trái tim của con người đã ngày càng bị xơ cứng và chai lì!
 
Huỳnh Kim Quang
 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Văn xuôi tốt là cửa sổ trong suốt. Từ ngữ phải vô hình, để người đọc nhìn thẳng vào hiện thực mà văn xuôi tiết lộ. Vẻ đẹp có đó, nhưng nó chỉ làm cho cửa sổ trong sáng hơn, không làm cho người đọc nhìn vào chính tấm kính. Nghi lễ của thánh lễ không phải là đức tin; nó sắp đặt các đam mê. Sự hài hòa của từ ngữ, vẻ đẹp của chúng, sự cân bằng của các cụm từ, sắp đặt các đam mê của người đọc mà anh ta không biết và sắp xếp chúng như thánh lễ, như âm nhạc, như khiêu vũ.
Tam canh ngồi niệm Phật Quan Âm | Trước mắt gương treo vừa đúng tầm | Sáng rực bên này sông Bất Nhị | Tám phương chợt hiểu Phật là Tâm
Bạn nghe một người nói, nhưng không lên tiếng, bạn suy nghĩ nhưng không bộc lộ. Bạn nén sự giận dữ xuống, bạn bôi xóa sự khinh bạc, bạn chờ cho những lời ca tụng giả dối lắng xuống, bạn giữ lại lời khen ngợi đối với một người xứng đáng thêm một ngày nữa, để nó được nung chín trong lòng.
Cầm cuốn sách mới trong tay, tôi lại nhớ có lần ở quán cafe, Trịnh Y Thư băn khoăn, không biết chúng mình in sách vào thời này có phải là chuyện vô ích không, có phải là quá mơ mộng không. Với đa số, nhất là thế hệ trẻ hơn thì có lẽ là cái gật đầu, nhưng đối với chúng tôi, chúng tôi yêu quý cái vô ích, cái mơ mộng ấy. Tôi xin chia sẻ với quý vị cảm xúc rất riêng của tôi về sách. Nếu không có sách làm sao ta có thể cầm được trên tay cái vật thể nhỏ bé này, một thành quả nhìn bắng mắt cầm bằng tay, chứa đựng trong đó những con chữ đồng hành cùng những phút giây cảm hứng. Không có sách làm sao tôi có thể cảm nhận được trọn vẹn cái sức nặng của hạnh phúc hữu hình trên trang giấy với những dòng chữ ký tặng này? Và khi đọc sách, nghe được tiếng sột soạt khi lật trang giấy, ngửi được mùi giấy mới và cả mùi hương của sáng tạo. Một khi không còn ai in sách nữa thì những tủ đựng sách đẹp đẽ sẽ là món đồ cổ chứng nhân một thời kỳ sách huy hoàng. Và nếu không có sách thì làm sao chúng có được nhữn
Một truyện ngắn kinh điển của văn hào André Maurois, qua bản dịch của nhà văn Thân Trọng Sơn.
Không phải ngẫu nhiên mà Viết Về Nước Mỹ được nhà thơ Nguyên Sa gọi là “Lịch Sử Ngàn Người Viết.” Mà nếu tính cho đến ngày hôm nay, con số “ngàn” ấy chắc đã lên tới chục ngàn, trăm ngàn. Viết Về Nước Mỹ năm nay là năm thứ 25.
Trong không gian tĩnh lặng của một buổi sớm mùa thu tại thủ phủ Sacramento. Trời đã se lạnh, gió mùa vừa sang và những cơn mưa cũng đang bắt đầu nặng hạt, con chắp tay hướng về phương trời xa, nơi pháp thân Thầy vẫn tỏa rạng giữa hư vô. Bao nhiêu lời muốn nói, rồi bỗng hóa thành im lặng, vì làm sao dùng được lời phàm để nói hết công đức, trí tuệ và từ bi của một bậc Thạc đức như Thầy, người mà bốn chúng gọi là bậc minh sư, bậc long tượng Phật Giáo Việt Nam – Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ – người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp, dân tộc và nhân loại.
Khi nói tới những dòng thơ không bao giờ chết, nơi đây chúng ta chỉ muốn nói rằng có những dòng chữ sẽ vẫn được lưu giữ trong ký ức một dân tộc, bất kể là những trận mưa bom, đạn, mìn, đại bác không ngừng bắn vào họ. Và ngay cả khi những tập thơ, các trang giấy có bị đốt ra tro, những dòng thơ đó sẽ vẫn được lưu truyền từ đời này sang đời kia của một dân tộc, nếu họ còn sống sót. Chúng ta may mắn sống trong thời đại của điện thoại thông minh và Internet, nên được nhìn thấy những hình ảnh, đoạn phim, được nghe những tiếng kêu đau đớn từ dưới những đống gạch vụ, và được đọc những đoạn thơ ngắn được gửi ra rất vội từ những người sống sót sau các trận thảm sát. Thế giới này đầy những trận mưa tội ác, từ thảm sát Ukraine tới gạch vụn Gaza...
Trong dòng chảy của Văn học hải ngoại, Trịnh Y Thư là một thành phần cá biệt. Văn chương nghệ thuật với ông trước hết phải đồng nghĩa với cái Đẹp và ông đã áp dụng trong văn thơ cũng như dịch phẩm của ông...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.