Hôm nay,  

Tản mạn về RỒNG qua Ca Dao Việt Nam

09/02/202400:00:00(Xem: 1992)
 
Rồng
 
Rồng là con vật đứng đầu trong bộ Tứ linh: Long, Lân, Quy, Phụng. Và như chúng ta biết, Rồng là con vật không có thật trên thế gian và Rồng do trí tưởng tượng của con người mà có trong chuyện cổ tích. Trong 12 con giáp, Rồng đứng thứ Năm và có thể nói là con vật cao quý nhất vì lúc nào Rồng cũng ở trên… mây.
   
Riêng kho tàng Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam không thiếu những câu nói về Rồng, điển hình:    

Thuyền Rồng chở ván mù u, Người khôn ở với người ngu bực mình.
Trong lãnh vực yêu đương, hãy nghe anh chàng văn hoa ví von: Rồng nằm bể cạn phơi râu, Mấy lời anh nói giấu đầu hở đuôi. Nhưng đôi khi, tình yêu đã làm cho "chàng Rồng" ta gồng mình hỏi thẳng thừng: Rồng giao đầu, Phụng giao đuôi, Nay tui hỏi thiệt: Mình thương tui không mình? Văn chương Việt Nam phong phú nên câu ca dao trả lời cũng rất văn hoa, trữ tình: Nhớ chàng như vợ nhớ chồng

Như chim nhớ tổ, như rồng nhớ mây...
Để diễn tả cảnh vợ ngóng chồng, ca dao Việt diễn tả: Thế gian được vợ hỏng chồng, Có đâu như rồng mà được cả đôi. Diễn tả sự hiếu thảo của con cái đối với Cha Mẹ, người đời diễn tả ước mơ đó như sau: Bao giờ cá chép hoá long, Đền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa. Tình yêu, duyên phận đôi khi rất tình cờ, tình cờ nưng trữ tình như qua câu ca dao: Tình cờ anh gặp mình đây, Như cá gặp nước, như mây gặp rồng. Để rồi nhớ nhung lúc xa nhau cũng rất văn hoa: Thiếp xa chàng như rồng nọ xa mây, Như con chèo bẻo xa cây măng vòi. Tình nghĩa vợ chồng trong Xã hội Viêt Nam như chúng ta biết rất gắn bó bất chấp hiểm nguy (điển hình trong thời chiến của Việt Nam trước 1975) cho nên Ca Dao Việt Nam cũng ví von: Có chồng thì phải theo chồng, Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng theo...

Diễn tả sự chung thủy, tính thủy chung trong tình yêu cũng mượn Rồng để đề cập đến: Trăm năm ghi tạc chữ đồng, Dù ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai. Để ví von người phụ nữ lấy được ông chồng khôn ngoan, ca dao Việt Nam có câu: Phận gái lấy được chồng khôn, Xem bằng cá vượt vũ môn hóa rồng. Và qua câu ca dao sau đây cho ta thấy giá trị cao quý của "Rồng": Một ngày dựa mạn thuyền rồng, Còn hơn chín tháng nằm trong thuyền chài.
   
Không chỉ có Ca Dao mà ngay cả Tục Ngữ Việt Nam cũng đề cập đến RỒNG, điển hình như: Rồng đến nhà tôm. Rồng bay phượng múa. Hay: Cá chép hóa Rồng. Ngọc ẩn long tu.
   
Dưới chế độ phong kiến, Rồng tượng trưng cho Vua (long thể) còn được mệnh danh là Thiên Tử (con trời). Vì vậy, các bộ phận trên thân thể cho đến những đồ dùng hàng ngày của "Thiên Tử" đều được gắn với hình tượng con Rồng: long nhan (mặt vua), long bào (áo của vua có thêu rồng), long xa (xe dành cho vua), long sàng (giường để vua nằm)...
   
Với truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên, Rồng là niềm tự hào về dòng giống, cội nguồn của người Việt Nam. Nếu chúng ta nhìn hình thể đất nước Việt Nam từ Bắc đến Nam với hình cong chữ S, có thể nói là không khác gì con Rồng nằm uốn khúc dọc theo bờ biển và các địa danh (theo internet) như : Long Đổ, (rún Rồng), Long Biên, Thăng Long (tên thủ đô Việt tộc vào thế kỷ thứ 6), Vịnh Hạ-Long (đây là kỳ quan thế giới công nhận), Bình Long, Phước Long, Long Thành, Long Khánh, Long Hải (bải tắm đẹp ở Vũng Tàu), Long Bình, Long An (nếu ai đi trên đường từ Sài Gòn về Miền Tây thì sẽ qua cầu Bến Lức thuộc Tân An ngày xưa (thuộc  Long An), Long Hồ (nằm trong lãnh thổ Vĩnh Long), Long Mỹ (thuộc về Chương Thiện), Thới Long (là một xã thuộc quận Ô Môn, Tỉnh Cần Thơ tức Hậu Giang ngày nay, nơi đây có nhiều cây trái danh tiếng nhứt là cam, bưởi...) Ở Miền Tây có 2 địa danh mang tên Long, trở thành tỉnh lỵ, không những có những cây lành trái ngon ngọt nữa, đó là Vĩnh Long và Long Xuyên. Cầu Long Biên là cây cầu thép đầu tiên bắc qua sông Hồng tại Hà Nội, do Pháp xây dựng (1899-1902) Cầu Long Bình thuộc tỉnh An Giang, cầu Thăng Long bắc ngang qua hai làng Đông Ngạc và Võng La. Cầu Rồng bắc qua sông Hàn (Đà Nẵng)... (sưu tầm và biên soạn lại).

Suốt quá trình Việt Nam bị đô hộ và sau đó phải "giao lưu văn hóa với Trung Hoa", khái niệm Rồng của Trung Hoa mới du nhập vào nước Việt Nam ta. Từ đó, người Việt mới có khái niệm Rồng như là một con vật linh thiêng, trong hệ thống Tứ Linh: Long, Lân, Quy, Phụng và cũng từ đó, trong ngôn ngữ, từ long hay Rồng mới gắn liền với cương vị đế vương, vua chúa, hay những thực thể cao quý. Như một loạt từ sau đây: Long thể: thân thể vua; Long nhan: mặt vua; Long sàng: giường vua; Long ngai: ngai vua; Long cổn, long bào: áo vua; Long châu, long thuyền: thuyền vua...
   
Và hình ảnh tưởng tượng của Rồng cũng đã chi phối cách mô tả ngoại hình các bậc vua chúa của nhà văn: râu rồng, mũi rồng, đi nhẹ như nước, ngồi vững như non v.v... Đó là trong ngôn ngữ và văn chương. Còn trong ngôn ngữ và văn học dân gian, từ Rồng, hình tượng Rồng được dùng mở rộng hơn và không có hệ thống. Nên đề cập về hình tượng Rồng, từ rồng trong ngôn ngữ và văn học dân gian vì thế chỉ có tính chất phiếm luận.
   
Dấu ấn trong tâm thức người Việt Nam cũng được diễn tả qua tục ngữ, thành ngữ, ca dao vì con Rồng là một hình tượng có vị trí đặc biệt trong văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam, từng là biểu tượng linh thiêng liên quan đến truyền thuyết con Rồng cháu Tiên của người Việt. Các vị Vua Việt Nam xăm lên đùi mình hình ảnh rồng để giữ truyền thống của cư dân ven biển. Đến đời Vua Trần Anh Tông (1293-1314) mới chấm dứt tục xăm rồng trên đùi. Rồng tượng trưng cho quyền uy tuyệt đối của các đấng Thiên Tử (bệ rồng, mình rồng). Rồng là hình tượng của mưa thuận gió hòa, là vật linh thiêng đứng vào hàng bậc nhất trong Tứ Linh Long, Lân, Quy, Phụng. Đặc biệt, hình tượng con Rồng Việt Nam tương phản với hình tượng con rồng độc ác, tượng trưng cho cái xấu của các nước phương Tây.
   
Hình tượng Rồng từ thời Hùng Vương đã được hình dung là con vật thân dài, có vẩy như cá sấu, được chạm trên các đồ đồng. Qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, con rồng Việt Nam xuất hiện rõ nét dưới thời Lý. Hình ảnh Rồng bay lên (Thăng Long) tượng trưng cho khí thế vươn lên của dân tộc, được lấy làm tên cho mảnh đất đế đô. Rồng thời Lý tượng trưng cho mơ ước của cư dân trồng lúa nên xuất hiện trong khung cảnh của nước, của mây cuộn. Rồng thời nhà Lý mình dài như rắn, thân trơn nếu là con nhỏ, còn con lớn thì thân có vẩy, lưng có vây. Hình tượng con rồng thời Trần có nhiều biến đổi so với thời Lý. Rồng xuất hiện thêm hai chi tiết là cặp sừng và đôi tay. Đầu rồng uy nghi, đường bệ với chiếc mào lửa ngắn hơn. Thân rồng tròn lẳn, mập mạp, nhỏ dần về phía đuôi, uốn khúc nhẹ, lưng võng hình yên ngựa. Đuôi rồng có nhiều dạng, khi thì đuôi thẳng và nhọn, khi thì xoắn ốc. Các vảy cũng đa dạng. Có vẩy như những nửa hình hoa tròn, nhiều cánh đều đặn, có vẩy chỉ là những nét cong nhẹ nhàng.

Rồng thời nhà Lê thay đổi hẳn. Rồng không nhất thiết là một con vật mình dài, uốn lượn đều đặn mà ở nhiều tư thế khác nhau. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là cái mũi to. Thân rồng lượn hai khúc lớn. Chân có năm móng sắc nhọn quắp lại dữ tợn. Rồng thời Lê tượng trưng cho quyền uy phong kiến. Cũng chính bắt đầu từ thời đại này xuất hiện quan niệm tứ linh tượng trưng cho uy quyền của vương triều rồng đứng đầu trong tứ linh. Ba vật thiêng kia là: Lân (tượng trưng cho sự thái bình và minh chúa), Quy (tượng trưng sự bền vững của xã tắc) và Phụng (tượng trưng cho sự thịnh vượng của triều đại). Rồng thời Trịnh Nguyễn vẫn còn đứng đầu trong bộ tứ linh nhưng đã được nhân cách hóa, đưa vào đời thường như hình rồng mẹ có bầy rồng con quây quần, rồng đuổi bắt mồi, rồng trong cảnh lứa đôi. Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ… Phần lớn mình rồng không dài ngoằng mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn móng.
   
Hiện nay hình tượng con Rồng tuy không còn tính chất thiêng liêng, tối thượng nhưng vẫn được đưa vào trang trí cho các công trình kiến trúc, hội họa, chạm, khắc nghệ thuật… Trong mọi thời điểm nào, con rồng vẫn là một phần trong cuộc sống văn hóa của người Việt.
   
Theo cách tính dân gian của người xưa, trong một Giáp có 12 năm. Khởi đầu bằng năm con Chuột (Tí) và kết thúc bằng năm con Lợn (Hợi). Qua thống kê ở một tài liệu khoa học gần đây về 12 con vật này cho thấy đây là những con vật có tần số xuất hiện khá cao trên tư liệu thành ngữ, tục ngữ, ca dao. Trong số này, chỉ có tên gọi các con vật như: Khỉ, Dê, có vị thế thấp hơn, những con vật còn lại đều có tần suất xuất hiện cao.
   
Trong số 12 con vật được dùng vào hệ 12 Con Giáp thì Rồng ở vị trí thứ 5. Rồng là con vật tuy chưa ai nhìn thấy diện mạo thật của nó thế nào nhưng trong lịch sử và nghệ thuật, trong văn học và đời sống của người Việt, Rồng là con vật xuất hiện nhiều hơn cả, xuất hiện một cách vừa thực vừa hư, vừa gần, vừa xa, vừa giản dị lại vừa linh thiêng. Có thể nói Rồng là một con vật huyền thoại. Hình tượng Rồng là một biểu tượng văn hóa, phương Tây thường đối lập với sức mạnh "chính nghĩa" và cuối cùng bị sức mạnh chính nghĩa đánh bại.
   

Con Rồng ở phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng là hình ảnh đẹp, là biểu tượng của sự cao cả, thiêng liêng và sức sống vĩnh hằng. Hình tượng con Rồng rất quen thuộc trong tâm thức người Việt. Người Việt có tục thờ cúng Lạc Long Quân, có tục xăm mình bằng hình Rồng. Mỗi khi nói đến “Con Rồng Cháu Tiên”, người Việt Nam ta đều cảm thấy hãnh diện, tự hào.
   
Trong suốt chiều dài tháng năm dựng nước và giữ nước, hình tượng Rồng đã gắn chặt với đất nước Việt Nam, con người Việt Nam từ tên sông, tên núi, tên đất, tên người. Nào là Vịnh Hạ Long; thủ đô nước Việt từ năm 1010 đến nay vẫn được gọi là đất Thăng Long (Rồng bay). Con sông lớn nhất phía Nam đang chuyển tải phù sa, cấp nước cho vựa lúa Nam Bộ được gọi là Sông Chín Rồng (Cửu Long Giang); có hàng trăm địa danh gắn với tên Rồng trên khắp đất nước Việt Nam chúng ta. Trong dân gian, Rồng tượng trưng cho thần linh và điềm lành, Rồng đi mây về gió, có thể đem lại sự tốt tươi cho cây cối, muôn vật: Rồng đen lấy nước thì nắng,
Rồng trắng lấy nước thì mưa?
   
Người Việt ngày xưa thường cầu khẩn Long Vương ban cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng bội thu. Hình tượng con Rồng muôn vàn dáng vẻ, màu sắc rực rỡ, không chỉ xuất hiện trong các truyền thuyết, thơ ca, trên các sản phẩm mỹ nghệ, điêu khắc mà Rồng còn được thể hiện trong nhiều phong tục tập quán, lễ hội dân gian… Nhiều người chọn đặt tên con trai là: Long (Rồng) với mong muốn con mình sẽ có sự uy vũ, cương nghị của đấng nam nhi. Thời phong kiến, Rồng trở thành biểu tượng của quyền lực thiên tử. Chỉ có Vua mới được mặc áo thêu rồng. Hình tượng rồng mang vẻ cao quý, tôn nghiêm, tượng trưng cho uy quyền: Long nhan, Long trượng, Long thể… Mặc dù chịu ảnh hưởng của nhà nước phong kiến, Rồng vẫn gần gũi với cuộc sống dân gian. Nhiều khi Rồng được dân gian lấy làm vũ khí đấu tranh chống áp bức cường quyền, để phê phán những thói hư tật xấu nịnh bợ trong xã hội: Vóc rồng thì để hầu vua, Vải thô, lụa xấu thì chừa cho dân.
   
Truyền thuyết Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ đã đi vào ý niệm, tiềm thức đã làm cho người dân Việt tự hào mình là “con Rồng cháu Tiên”. Rồng đi vào trong tâm thức của người Việt từ trò chơi trẻ con: rồng rắn lên mây. Rồng được chạm khắc trên các đình làng, cổng xóm; trong Tranh Tết Đông Hồ, Hàng Trống mỗi dịp Tết đến Xuân về.
   
Trong ngôn ngữ dân gian, Rồng xuất hiện với tần số lớn trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ. Trong hôn nhân vì nhiều lẽ, người con gái tài sắc bị gả ép lấy phải người chồng không ra gì, rồng trong câu ca dao sau được so sánh như một sự nghịch lý trớ trêu kể trên: Rồng vàng tắm nước ao tù, Người khôn ở với người ngu bực mình.
   
Tuy nhiên tư duy về Rồng trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao của người Việt cũng khá phức tạp, không phải lúc nào cũng thống nhất trong các ý kiến về hình tượng đó. Để chỉ người giàu sang đến thăm người nghèo hèn có thành ngữ: “Rồng đến nhà tôm”, còn khi con người thỏa mãn về mong ước cao sang nào đó thì lại nói: “như Rồng gặp mây”. Phê phán những thói ba hoa, dân gian ta cũng mượn Rồng để diễn tả: Trong lưng chẳng có một đồng, Lời nói như rồng chúng chẳng thèm nghe.
   
Từ ngữ trong tiếng Việt, kiểu kết hợp “Rồng-Phượng” cũng như trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao thường được hiểu theo nghĩa tích cực. Giống như người có kiểu chữ viết phóng khoáng, không gò bó thì ứng với thành ngữ: “rồng bay phượng múa”. Các kết hợp “rồng-mây”, “rồng- phượng”, “rồng-vây” trong tiếng Việt đều được hiểu theo nghĩa tích cực, đẹp đẽ, được vận dụng vào trong những bối cảnh thuận lợi, phát triển. Còn các kết hợp “rồng-giun”, “rồng-liu điu” lại theo chiều hướng tiêu cực, hoàn toàn tương phản. Ví dụ nói đến tình cảnh chung đụng vợ chồng mà một người chẳng ra gì làm mình bực bội lại có ý liên tưởng: “Rồng ở với giun”. Các kết hợp “Rồng-Phượng” có khi vẫn được dân gian dùng với ý nghĩa phê phán: “chạm rồng trổ phượng” (ngoài nghĩa đen còn có nghĩa phê phán sự tô điểm rườm rà thái quá).
   
Nói cho cùng hình ảnh Rồng được người Việt Nam ta sử dụng khá đa dạng nhằm diễn đạt các quan điểm, nhận thức, tư tưởng phong phú về đời sống: Ăn như rồng cuốn. Làm như cà cuống lội sông.
   
Dân gian quan niệm, tản mạn về rồng như sau: Cá gáy hóa rồng. Quan niệm này cũng được Ca Dao Việt Nam đề cập đến: Mồng bốn cá đi ăn thề, Mồng tám cá về cá vượt Vũ môn. Vũ môn, tức cửa Vũ gồm có ba tầng. Ở Việt Nam ta cũng có điểm này và đó là nơi mà người xưa tưởng là cá trải qua cuộc thi khảo sát về trình độ và năng lực. Nếu vượt qua ba cấp Vũ môn thì sẽ hóa rồng. Từ khái niệm cụ thể đó, thành ngữ "cá hóa rồng" thường dùng để chỉ việc thi cử thành đạt của sĩ tử ngày xưa. Dân gian đã từng nuôi ước mơ: Biết bao giờ cá gáy hóa rồng,
Đền công ơn thầy mẹ ẵm bồng ngày xưa.
   
Khái niệm này cũng được mở rộng, dùng để ám chỉ cho việc người con gái lấy được người chồng xứng đáng, Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam diễn tả điều này như sau: Phận gái lấy được chồng khôn, Xem bằng cá vượt Vũ môn hóa rồng. Để diễn tả sự chung thủy vợ chồng, Việt Nam ta có câu: Lấy chồng thì phải theo chồng, Chồng đi hang rắn, hang rồng, cũng đi.
   
Người đời nói Rồng nở từ trứng và ở hang nhưng trong dân gian cũng có một quan niệm khác: rồng cũng sinh sản như rắn: Trứng rồng thì nở ra rồng, Hạt thông thì nẩy cây thông rườm rà. Xa hơn nữa, trong ngôn ngữ và văn học dân gian của Việt Nam, Rồng là một yếu tố ví von, so sánh để biểu đạt một số sinh hoạt của con người như ăn, nói, viết, giao tế, thời vận, tình yêu, nhận định về con người và cuộc sống. Ngay cả về chuyện ăn cũng có thành ngữ: "ăn như rồng cuốn". Rồng cuốn tức là rồng hút, chỉ hiện tượng vòi rồng trong tự nhiên, như cách tiên đoán về thời tiết: Rồng đen uống nước thì nắng, Rồng trắng uống nước thì mưa. Về chữ viết, người văn hay chữ tốt thường được ca ngợi như: " Rồng bay Phượng múa ". Và "nói như rồng" là để khen tặng người có tài nói thao thao bất tuyệt. Tuy nhiên trái lại nếu một người mà “Trong lưng chẳng có một đồng, Lời nói như rồng chúng chẳng thèm nghe” thì lời nói trở thanh vô giá trị.
   
Nhưng nên coi chừng, bao giờ cũng cần nói đúng thực chất, phù hợp với kiến thức mà mình nếu không dễ trở thành khập khiễng: "nói những lời như rồng như rắn". Thêm yếu tố rắn ở trên làm chuyển đổi tức khắc giá trị nội dung của câu nói: Học chẳng biết chữ cua, chữ còng, Nói những lời như rồng, như rắn!
   
Riêng trên phương diện giao tế, dân gian Việt Nam dùng thành ngữ "rồng đến nhà tôm" để vừa bày tỏ sự khiêm tốn, nhún nhường của gia chủ, vừa gián tiếp ca ngợi người khách quý. Nhưng có khi, đó cũng là cách mai mỉa: Mấy đời rồng đến nhà tôm, Tôi đến nhà chị không môn thì bầu. Âu cũng là một lối giao tế thực dụng. Và quen thuộc nhất là Rồng chỉ thời vận. Thành đạt Hạnh thông như là "rồng gặp mây".  Thường chỉ người thành đạt khoa cử: Như cá gặp nước, như rồng gặp mây. Nhưng nếu mất yếu tố thời vận thì chỉ là "Rồng nằm ở cạn",
không còn vùng vẫy, múa may gì được, mà chỉ còn trơ hình hài: Rồng nằm bể cạn giơ râu, Mấy lời anh nói giấu đầu hở đuôi. Hay đau khổ hơn là: Rồng vàng tắm nước ao tù, Người khôn ở với đứa ngu bực mình. Dễ thường mấy khi rồng mây được dùng để chỉ lứa đôi, vì những hình tượng khác quyến rũ hơn, như: mận-đào, loan-phượng, yến-oanh, gió-trăng, v.v... nhưng điều đó cũng có: Mấy khi Rồng gặp mây đây, Để Rồng than thở với mây vài lời. Nữa mai Rồng ngược mây xuôi, Biết bao giờ lại nối lời Rồng Mây. Xa hơn nữa, "lời rồng mây" cũng là lời hẹn thề, lời nước non hay là lời hứa thủy chung.
   
Một kiểu nói khác bày tỏ sự ước ao cao sang, biểu hiện một tâm lý hưởng thụ: Một ngày dựa mạn thuyền Rồng, Còn hơn chín tháng nằm trong thuyền chài. Cách nói trên tất nhiên bị phủ định bằng một suy nghĩ chín chắn hơn và xác thật hơn: Chớ tham ngồi mũi thuyền rồng, Tuy rằng tốt đẹp, nhưng chồng người ta.
   
Và quả thật, dân gian chúng ta đã xét đoán đúng giá trị, nhìn đúng thực chất con người, không lệ thuộc những thứ trang sức phù hoa trang hoàng sang trọng: Dù ngồi cửa sổ chạm rồng, Chăn loan gối phượng, không chồng cũng hư. Nhưng sâu sắc và không kém chua chát là lời cảm thán sau đây:     Khen ai khéo dựng bình phong, Bên ngoài long phượng, trong lòng gạch vôi! Hoặc nhằm để mỉa mai, phê phán lối sống thiếu trách nhiệm, đánh lừa người và đánh lừa cả chính mình ca dao Việt Nam chúng ta cũng không bỏ qua nên có câu:      Học chẳng biết chữ cu chữ cò, Nói những chữ như rồng như rắn.
   
Tóm lại, tâm thức về Rồng, hình ảnh con vật vừa hư, vừa thực, vừa cao quý thiêng liêng, vừa gần gũi là cách tiếp cận uyển chuyển, phóng khoáng đầy tự tin của người Việt Nam.
Rồng đã trở thành biểu tượng văn hóa, một biểu tượng thiêng liêng gắn với tâm thức về cội nguồn dân tộc Việt Nam. Trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao, Rồng lại càng thể hiện độc đáo nhiều ý nghĩa, mang biểu tượng của sự cao cả, thiêng liêng và tồn tại mãi mãi...
   
Ca dao và tục ngữ truyền khẩu Việt về Rồng thì còn rất nhiều nhưng người viết chỉ có thể trích dẫn một số ít ca dao trên đây, góp nhặt được trên internet. Nhân dịp Xuân Giáp Thìn 2024, kính chúc đồng hương mọi chuyện đều hạnh thông như "CÁ GẶP NƯỚC, NHƯ RỒNG GẶP MÂY"
 
Ngọc Châu
(Tết Giáp Thìn, 2024)
 
Tài liệu tham khảo: Phỏng tác theo ca dao và thành ngữ góp nhặt trên internet.
Nguồn u.a.: http://www.nuiansongtra.com/index.php?c=article&p=4640

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vào chiều Chủ Nhật cuối Tháng Sáu, khoảng hơn 400 khán giả đã ngồi chật khán phòng của Huntington Beach Central Library Theater để cổ vũ cho các tài năng âm nhạc trẻ gốc Việt trong chương trình nhạc Emê Concert 2, chủ đề “I Wish It So”.
Thỉnh thoảng có một ngày vui. Gặp nhau trong thân tình, được bày lộ nỗi lòng, nâng ly rượu giao hòa. Đó là buổi ra mắt tập thơ của Họa sĩ Khánh Trường. Chiều, của một ngày cuối cùng tháng Sáu, 2024. Trời Nam Cali mát dịu. Tôi và Kim đến rất đúng giờ nhưng phòng họp đã đầy chật bằng hữu. Tấm lòng yêu mến Khánh Trường quả là rõ thực. Tay này đa tài trên khắp nẻo, hội họa, văn chương, báo chí, cả ngang tàng một cõi thời trai trẻ. Bỗng đủ thứ bệnh tật đến rần rần như rủ nhau đi xem hội. Trên hai mươi năm nay ung thư thanh quản, hộc máu, tắt tiếng, đột quỵ, ngồi xe lăn, bại thận, mỗi tuần bị lụi kim, kim bự tổ chảng, vào người thay máu hai lần. Nhìn hai cổ/ cánh tay của Khánh Trường, từng đụn da thịt gồ lên thấp xuống, như cái dãy… Trường sơn thu nhỏ.
Nhà thơ Đỗ Quý Toàn nói về Khánh Trường-nhà thơ đã không quên nhắc lại “Khánh Trường là người làm được rất nhiều thứ, không những ông là họa sĩ, nhà thơ, mà ông viết văn rất hay. Tôi rất thích đọc truyện Khánh Trường. Nhưng điều tôi phục nhất là Khánh Trường của Hợp Lưu. Khánh Trường của nguyên tắc làm theo ý mình, trái ý thiên hạ. Người ta cho là anh ta phản kháng hay nổi loạn, nhưng theo tôi, KT chỉ làm cái gì mình cho là đúng, hay, phải làm. Tôi rất khâm phục.”
Ca khúc “Nỗi buồn hoa phượng” là ca khúc thứ hai của nhạc sĩ Thanh Sơn, sau ca khúc “ Tình học sinh” ra đời năm 1962, song bị... chìm lĩm, chẳng một ai chú ý? Năm 1983, trả lời phỏng vấn của chương trình Paris By Night, nhạc sĩ Thanh Sơn kể về sự ra đời của ca khúc “Nỗi buồn hoa phượng”, sau 20 năm ra đời, đã được hàng triệu người kể cả miền Bắc sau này ưa thích. Đó là vào năm 1953, ông học chung lớp với người bạn nữ tên là “Nguyễn Thị Hoa Phượng”, hè năm ấy, người bạn gái cùng gia đình chuyển về Sài Gòn, ông có hỏi cô bạn: “Nếu nhớ nhau mình sẽ làm sao?”, cô bạn mĩm cười trả lời đại ý là “ Cứ mỗi năm đến hè, nhớ đến nhau, anh cứ nhìn hoa phượng nở cho đỡ nhớ bởi tên em là Hoa Phượng...”, và đó cũng là “đề tài” mà ông ấp ủ để 10 năm sau, khi đó cô bạn gái ngày xưa chắc đã... vu qui rồi?
Không thể chối cãi, trong đầm không gì đẹp bằng sen. Đúng hơn nữa, trong đầm không gì thơm hơn sen. Nhưng vì sao sen lại mọc trong đầm bùn? Vì sao sen không mọc sánh vai cùng Cẩm Chướng, Mẫu Đơn, Hồng Nhung, Anh Đào, Thiên Điểu, Oải Hương, Hướng Dương, vân vân trong những vườn quyền quý cao sang, những nơi chưng bày lộng lẫy? Vì sao sen lại chọn ngâm mình trong nước hôi tanh? Vì sao trong tất cả loại sen, tôi lại quý sen hồng, trong khi đa số yêu sen trắng? Sen và bùn là một lý thuyết chính trị cần thiết cho Việt Nam hiện nay. Hoa sen phải mọc từ bùn, trong bùn. Không thể mọc ở những nơi không có bùn. Vì sao hoa sạch thơm phải mọc và sống từ nơi dơ thúi? Rồi sen phải vượt lên khỏi mặt nước mới nở được hoa đẹp, hoa thơm, nhưng vẫn cần có bùn để tồn tại. Một quá trình hiện thực, một ẩn dụ để tư duy.
Bộ phim Face Off 7: One Wish như đem lại một tín hiệu tốt lành rằng trong một xã hội Việt Nam ngày nay đang có quá nhiều điều nhiễu nhương, những nét đẹp truyền thống của văn hóa Việt Nam vẫn còn có chỗ để tồn tại…
Hồi nhỏ, tôi thường nghe cha tôi đọc hai câu ca dao này: “Còn cha gót đỏ như son, đến khi cha chết gót con đen sì.” Lúc ấy tôi chừng năm bảy tuổi, nên nghe rồi thuộc lòng mà không hiểu hết ý nghĩa, chỉ biết hời hợt là nếu cha chết thì mình sẽ khổ lắm! Nhưng ngay cả khổ ra sao thì cũng chẳng hình dung được. Câu ca dao nói trên cho thấy truyền thống ngày xưa, người cha đóng vai trò then chốt trong gia đình. Ông vừa là trụ cột kinh tế để nuôi gia đình, vừa là tấm gương đức hạnh để cho con cái noi theo. Đặc biệt là với truyền thống phụ hệ con cái mang họ cha, nên việc “nối dõi tông đường” đặt lên vai người con trai, hay người đàn ông. Đó có thể là yếu tố cấu thành quan niệm “trọng nam khinh nữ” ngày xưa tại các nước theo phụ hệ như Việt Nam, Trung Hoa, v.v…
Tháng 3/2022, Bến Bạch Đằng Saigon bị đổi tên thành “Ga Tàu Thủy Bạch Đằng”. Sự kiện này đã dẫn đến những tranh luận trong dân gian chung quanh đề tài: Ngôn ngữ Hà Nội (ngôn ngữ miền Bắc) đang làm mờ dần sắc thái đặc biệt của ngôn ngữ miền Nam Việt Nam...
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Điều tôi muốn nhắn nhủ với các thế hệ nam nữ thanh-niên trẻ là chúng ta phải sống làm sao cho đáng sống kiếp người. Nói theo ngôn ngữ của Lý Đông A, con người phải sống đủ 3 mặt là: Sống - Còn - Nối tiến hóa. Gói gọn là sống Nhân Chủ, dựa vào Nhân Bản, rồi Nhân Chính và Dân Chủ...