Hôm nay,  

Song ngữ: Did the Buddha preach the Dharma, or did he not preach the Dharma? / Đức Phật có thuyết pháp hay không thuyết pháp

22/12/202317:31:00(Xem: 11125)
blank

Đức Phật có thuyết pháp hay không thuyết pháp

 

Tâm Diệu

 

Trong các thuật ngữ của đạo Phật, có lẽ không có từ ngữ nào mà người học Phật cần phải hiểu và cần phải phân biệt rõ ràng, nếu như muốn hiểu giáo lý thâm diệu của đạo Phật như hai thuật ngữ "Chân Đế" và "Tục Đế".

 

Thật vậy, Đức Phật, vì muốn độ chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi nên mới nương vào thế giới Tục đế mà nói pháp, nhằm chỉ bày cho chúng sinh thấy được cái bản chất chân thật tự nhiên của Tâm vốn sẵn có, để chúng sinh, tự nỗ lực tu hành giải thoát khỏi khổ đau sinh tử, lìa khỏi thế giới Tục đế, đến thế giới Chân đế.

 

Cũng vì thế mà Ngài Long Thọ Bồ tát nói rằng: "... Các Đức Phật vì chúng sinh, y vào Nhị đế mà nói pháp, thứ nhất là Thế tục đế và thứ hai là Đệ nhất nghĩa đế. Nếu người nào không nhận thức được hai chân lý này, thì đối với Phật pháp sâu xa, không thể hiểu được chân nghĩa. Nếu không nương tựa vào tục đế, thì không thể thấy được chân lý; nếu không thấy được chân lý, thì không thể ngộ được Niết bàn..." [1]

 

Tục đế là một hợp từ: "tục" nghĩa là thế tục, thế gian hay phàm tục, "đế" nghĩa là chân lý. Tục đế có nghĩa là những cái gì mà người thế tục đồng ý với nhau, gọi là chân lý quy ước hay còn gọi là chân lý tương đối, hoặc còn gọi là chân lý thế tục hoặc thực tại tương đối. Nó là tất cả những hiện tượng do duyên khởi tức là pháp sinh diệt trong thế gian nầy.

 

Còn Chân đế, cũng là một hợp từ, có nghĩa là chân lý chân thật không hư vọng, là chân lý tuyệt đối, là chân lý tối thượng, cũng còn gọi là Đệ nhất nghĩa đế, là chân tâm, là giác tánh, là chân như...

 

Chân lý tuyệt đối là gì? Không ai biết được ngoại trừ chính chư Phật và chư Tổ đã giác ngộ. Các Ngài cũng không thể nói cho chúng ta biết được. Toàn bộ giáo điển của chư Phật là pháp phương tiện, Ngài "dùng pháp thế gian, (tức thế tục đế) để giảng nói cho chúng sinh" [2], cốt để chúng sinh ngộ được cái chân lý tuyệt đối như Ngài vì Ngài thấy Tâm Phật và Tâm chúng sinh vốn không khác, vốn tự đầy đủ mênh mông khắp không gian và thời gian.

 

Thật vậy, xuyên qua lời dạy của Phật và chư Tổ, sở dĩ có sự sai khác là vì tâm chúng sinh bị mê mờ ô nhiễm. Cái Tâm bị bao vây bởi tham sân si, bởi vọng tưởng điên đảo, bởi tham nhiễm các pháp có không. Ngài Sogyal Rinpoche, một đại sư Tây tạng, ví Tâm chúng ta bị vây kín trong một cái bình mà "khoảng không trong bình cũng giống như khoảng không bên ngoài. Khi chúng ta giác ngộ, thì cũng như cái bình vỡ tan thành mảnh vụn... Ngay lúc đó và tại chỗ đó, chúng ta trực nhận được rằng chúng chưa từng bao giờ có sự ngăn cách hay sai khác..." [3]

 

Vì tâm sinh diệt của chúng sinh luôn luôn dính mắc vào các pháp "có không" nơi thế giới hiện tượng tức thế giới tục đế, nên Đức Phật thấy thật là khó nói về cái mà Ngài đã chứng ngộ, chẳng hạn như nói về Phật tánh, chân tâm, vốn không hình tướng, không số lượng. Nếu nói chúng sinh có Phật tánh là chấp trước, nói không có Phật tánh là hư vọng, nói Phật tánh cũng có cũng không là nói trái ngược nhau, nói Phật tánh chẳng có chẳng không là hý luận. Nên Phật mới dùng các pháp thế gian phương tiện, "giả lập kệ pháp, giả lập danh tự, vốn chẳng phải Phật, nói với họ là Phật, vốn chẳng phải Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát, nói với họ là Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát, ... Biết họ gánh trăm tạ chẳng nổi, tạm cho họ gánh một lon, một chén, biết họ khó tin giáo liễu nghĩa, tạm nói với họ giáo bất liễu nghĩa, tạm được pháp lành lưu hành còn hơn là pháp ác..." [4].

 

Cũng chính vì chân lý tuyệt đối này rất khó hiểu, khó nhận, khó nói nên đôi khi Ngài phải dùng những thí dụ bằng lời nói, như trong Kinh Pháp Hoa, Phật dùng bảy thí dụ, trong đó có hai thí dụ là cái nhà lửa và câu chuyện đứa con cùng tử mà ai cũng biết. Ngoài ra còn nhiều kinh khác như Bách Dụ Kinh, Tạp Thí Dụ Kinh, Bồ Tát Bổn Sanh Kinh, ... Các thí dụ Ngài nói trong kinh thường dùng phương thức ngụ ngôn, hàm chứa những ý nghĩa thâm thúy, ám thị lý tuyệt đối mà chân lý tuyệt đối này không thể dùng lời trực tiếp mà giảng giải vì lời chỉ là khí cụ diễn đạt cái tư tưởng tương đối, cái có hình, có tướng trong thế giới nhị nguyên.

 

Chư Tổ chứng ngộ cũng vậy, không thể nói cho chúng ta biết được chân lý tuyệt đối là gì, mà quý Ngài chỉ dùng những câu chuyện ngụ ngôn, như câu chuyện con rùa và con cá để làm thí dụ mà thôi. Rằng con rùa từ dưới nước bò lên mặt đất, đi một vòng rồi trở về nước, bơi cạnh con cá, kể chuyện đất liền cho nó nghe. Nhưng con cá, vì chưa bao giờ rời khỏi nước, không thể tưởng tượng nổi lại có một môi trường có thể sống được mà không có nước, không bơi lội. Cho nên con rùa đành chịu mang tiếng là nói chuyện viển vông hoang đường, không có trong thực tế. [5]

 

Cảnh giới tuyệt đối, chân tâm, giác tánh, chân như, mà Phật đã giác ngộ không thể nói cho người chưa chứng ngộ biết được. Vì lẽ đó mà người đời đôi khi cũng phê bình: "Đạo Phật cao siêu quá, không có trong thực tế". Nhưng chính đó mới là cốt tủy của Phật Giáo.

 

Kinh Kim Cang là kinh liễu nghĩa, nói về cốt tủy của đạo Phật, về chân lý tuyệt đối, cho nên không có pháp gì để nói. Những lời Phật dạy trong kinh chỉ giúp chúng sinh phá bỏ những hiểu biết tương đối, phá bỏ những kiến chấp sai lầm cố hữu, những vướng mắc lâu đời vốn là nhân kiên cố của vòng xích luân hồi, đã lôi kéo chúng sinh vào vòng trầm luân muôn vạn kiếp. Ngài phá bỏ không còn một kiến chấp nào và Ngài cũng tuyên bố luôn là Ngài không thuyết pháp:

 

"- Tu Bồ Đề! Ông chớ cho Như Lai có nghĩ rằng: "Ta có nói pháp". Ông chớ nghĩ như vậy. Bởi vì sao?

- Vì nếu người nào nói rằng: Như Lai có nói pháp, tức là chê Phật, không hiểu được lời của ta nói.

- Tu Bồ Đề! Nói pháp, là không có pháp gì nói được, ấy gọi là nói pháp." (6)

 

Có nghĩa là Phật không nói về cái chân lý tuyệt đối, về cái chân tâm, Phật tánh, Chân Như, vì chân lý tuyệt đối vốn chẳng thể dùng ngôn ngữ tương đối thế tục để biểu thị. Ngài chỉ dùng ngôn ngữ thế gian tức chân lý thế tục để chỉ bảo chúng sinh, mà ngôn ngữ thế tục, là pháp tương đối thì không có tự tánh, chỉ do nhân duyên hòa hợp, và do nhân duyên hòa hợp nên không có thật.

 

Đức Phật khi giảng pháp, Ngài luôn luôn nói sự thật. Có khi Ngài nói về sự thật tương đối và có khi Ngài nói về sự thật tuyệt đốị Nếu không hiểu điều đó, chúng ta thấy nhiều điều Ngài nói trái ngược nhau và sẽ làm cho chúng ta bối rối, hiểu mập mờ, hỗn độn (confuse). Thí dụ như trong kinh Đại Bát Niết Bàn đức Phật nói:

 

Chư hành vô thường,

Thị sinh diệt pháp.

Sinh diệt diệt dĩ,

Tịch diệt vi lạc.

 

Tạm dịch là:

 

Các hành vô thường

Là pháp sinh diệt

Sinh diệt hết rồi

Tịch diệt là vui.

 

Hai câu đầu có nghĩa là tất cả các pháp trong thế giới hiện tượng đều vô thường, chúng đều là những pháp sinh diệt. Hai câu sau có nghĩa là khi sinh và diệt không còn sinh diệt nữa thì còn là niềm an lạc. Trong thế giới này, tức thế giới tương đối có sinh và có diệt, còn thế giới kia tức thế giới tuyệt đối thì không sinh không diệt. Nếu chúng ta không hiểu rõ tục đế và chân đế thì cho rằng đức Phật nói trái ngược nhau. Sự thật Ngài luôn luôn nói đúng sự thật. Hai câu đầu là tục đế tức thuộc thế giới hiện tượng tương đối, có sanh và có tử. Hai câu sau thuộc lãnh vực tuyệt đối tức chân đế, không có sinh và không có diệt, là thế giới của pháp tánh hay thế giới của bản thể.

 

Đến đây, chúng ta trở lại bài kệ của Bồ Tát Long Thọ đã nêu trên phần mở đầu. Bồ Tát dạy chúng ta rằng nếu chúng ta không phân biệt được chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối, tức thế tục đế và chân đế, thì chúng ta không thể hiểu được đạo Phật. Do sự không hiểu và không phân biệt rõ này, chúng ta lại nhập nhằng đem lời Đức Phật nói "Không thể nói pháp Tuyệt Đối", mà cho là Đức Phật nói "Không nói pháp Tương Đối" là chúng ta vô tình vướng mắc vào sự hủy báng kinh, chứa đựng những lời tâm huyết của Đức Phật. Ngài đã dùng ngôn ngữ và chân lý thế tục để dạy người thế tục biết cách mà tiến dần trên con đường từ bỏ thế tục, trở về bản thể tuyệt đối. Nếu chúng ta không hiểu được điều đó, mà tưởng rằng Đức Phật không nói pháp, thì chúng ta sẽ mất niềm tin nơi kinh, sẽ mất cơ hội có bản đồ chính xác để tìm đường trở lại bản thể chân tâm tuyệt đối.

 

 ----

 

Ghi Chú

 

 

 

(1).Thích Tâm Thiện, Lịch Sử Tư Tưởng và Triết Học Tánh Không, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh 1999.

 

(2). Kinh Đại Bát Nhã, Cuốn 2, Trang 275

 

(3). Sogyal Rinpoche -Thích Nữ Trí Hải dịch, Tinh Chất Cam Lồ, , TP HCM Việt Nam 1969

 

(4). Bá Trượng Ngữ Lục, Thích Duy Lực, Từ ân Thiền Đường xuất bản, 1999 trang 29-30

 

(5). Narada Maha Thera, Đức Phật và Phật Pháp, Phạm Kim Khánh Việt dịch, Đại Nam xuất bản 1987, trang 458-459

 

(6). Thích Huệ Hưng dịch, Kinh Kim Cang Giảng Lục, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản 1983, trang 82.

 

 

(Trích từ sách Phật Pháp Trong Đời Sống, Nhà xuất bản Hồng Đức 2014)

 

Nguồn:

https://thuvienhoasen.org/p22a21709/15-duc-phat-co-thuyet-phap-hay-khong-thuyet-phap

 

.... o ....

 

Did the Buddha preach the Dharma, or did he not preach the Dharma?

 

Author: Tâm Diệu

Translated by Nguyên Giác

 

 To comprehend the profound teachings of Buddhism, students of Buddhism must understand and clearly distinguish between the two terms "Ultimate Truth" and "Conventional Truth."

  

The Buddha relied on worldly truth to speak Dharma in order to save sentient beings from the cycle of birth and death. His aim was to reveal the true nature of the existing mind to sentient beings, so that they could make their own efforts to practice and liberate themselves from the suffering of birth and death. This would enable them to leave the world of conventional truths and reach the world of ultimate truth.

 

That's why Nagarjuna Bodhisattva said, "For the sake of sentient beings, the Buddhas speak the Dharma based on the Two Truths: the first is the conventional truth, and the second is the ultimate truth. Anyone who is unaware of these two truths cannot understand the profound meaning of the Dharma. If one does not rely on conventional truths, one cannot see the truth; if one cannot see the truth, one cannot realize Nirvana."

 

The conventional truth, also known as secular truth, is a compound word: "secular" refers to worldly, and "truth" denotes truth. Conventional truth refers to the consensus among secular individuals, also known as relative truth or secular reality. All phenomena arise due to conditions, known as dharmas, and they arise and pass away in this world.

 

As for the ultimate truth, it is a compound word signifying genuine truth, not falsehood. It represents the absolute truth, the supreme truth, the truth of highest significance, the true mind, the nature of awareness, or suchness.

 

What is the absolute truth? No one knows, except the enlightened Buddhas and Patriarchs. They also cannot inform us. The entire teachings of the Buddhas are expedient methods. The Buddha utilized worldly dharma, the conventional truth, to teach living beings so that they could comprehend the absolute truth, just as he did, perceiving no distinction between the mind of Buddha and the mind of any worldly being. The same mind is inherently self-sufficient and vast across space and time.

 

Indeed, the teachings of the Buddha and the Patriarchs are often misinterpreted due to the confusion and pollution of the reader's mind. When the mind is consumed by greed, anger, and ignorance, as well as contradictory delusions, and by clinging to attachments of existence or non-existence, that is the moment of turmoil. Sogyal Rinpoche, a renowned Tibetan master, compares our mind to being enclosed in a vase, stating that "the space inside the vase is the same as the space outside. When the practitioner achieves enlightenment, it is akin to seeing a vase shattered into pieces. Right then and there, the practitioner directly perceives that space has never had any separation or difference."

 

Because the minds of sentient beings are constantly arising and passing away, always attached to the existence or non-existence of the phenomenal world (i.e., the worldly truth), the Buddha found it difficult to articulate the Dharma that he realized, such as Buddha nature or the true mind, which has no form or quantity. If we assert that sentient beings possess Buddha nature, we embrace the mistaken concept of existence. If we deny the existence of Buddha nature, we are holding onto an illusion. If we assert that Buddha nature both exists and does not exist, it leads to a contradiction. If we assert that Buddha nature is neither existent nor nonexistent, it becomes nonsensical. That's why Buddha used the concept of worldly dharma, which refers to half-truths in verses, names, and words. Where there was no Buddha, he still claimed that there was a Buddha. Similarly, even in the absence of Bodhi, Nirvana, or liberation, the Buddha still informed the audience that it was Bodhi, Nirvana, or liberation. Understanding that the listeners were unable to carry a load of hundreds of kilograms, the Buddha temporarily allowed them to carry either one vase or one cup. The Buddha understood that his listeners struggled to believe in teachings with ultimate meanings. Therefore, he temporarily shared teachings that did not have ultimate meanings, allowing beneficial worldly teachings to circulate temporarily, rather than allowing harmful beliefs to arise.

 

Because this absolute truth is very difficult to understand, live with, and interpret, the Buddha sometimes had to use similes. As in the Lotus Sutra, Buddha used seven examples, two of which are well-known: the house on fire and the story of the wandering son. There are also numerous other sutras, including the Sutra of One Hundred Similes (Bách Dụ Kinh), the Sutra of Multiple Similes (Tạp Thí Dụ Kinh), the Jataka Tales (Bồ Tát Bổn Sanh Kinh), and more. In numerous sutras, the Buddha employed metaphors with profound meanings to illustrate the absolute truth, which cannot be directly conveyed in words because words can only express worldly ideas that have shape and form in the realm of duality.

 

Similarly, the Enlightened Patriarchs are unable to provide us with the absolute truth; instead, they rely on parables, such as the story of the turtle and the fish, to illustrate their points. The turtle emerged from the water, moved around on land, and then returned to the water. It swam alongside the fish and shared stories about the land. The fish, having never left the water, cannot imagine an environment where it can survive without water and without swimming. Consequently, the turtle had to bear the reputation of speaking about wild nonsense that had no basis in reality.

 

The absolute realm to which the Buddha was enlightened—such as the true mind, nature of awareness, and suchness—cannot be explained to ignorant people. For that reason, people sometimes criticize Buddhism as being too sublime, too abstract, and disconnected from reality. But that is the essence of Buddhism.

 

The Diamond Sutra is one of the most profound sutras, delving into the essence of Buddhism and the absolute truth, asserting that there is truly no dharma to speak of. The Buddha's teachings in this sutra assist sentient beings in overcoming their relative understandings, inherent wrong views, and long-standing entanglements that are significant causes of the cycle of reincarnation. These factors have led sentient beings into an almost eternal cycle of birth and death.

 

The Buddha rejected all attachment to views and stated that he never claimed to preach the Dharma. The Diamond Sutra states: "Subhuti! Do not let the Tathagata think that the Buddha taught the Dharma. Please do not think like that. Why? If anyone claims that the Tathagata spoke the Dharma, it implies that this person is criticizing the Buddha and does not understand my teachings. Subhuti! To speak the Dharma is to say that there is no Dharma to say; that is called speaking the Dharma."

 

Buddha does not discuss the absolute truth, the true mind, Buddha nature, or True Suchness, as these concepts cannot be expressed in the relative language of the world. He only employs mundane language, or the secular truth, to guide sentient beings. However, mundane language, which is conditioned dharma, is inherently empty. It appears through the combination of causes and conditions and therefore cannot indicate the unconditioned truth.

 

When preaching the Dharma, the Buddha always spoke the truth. Sometimes the Buddha discussed conventional truth, and at other times, he discussed absolute truth. If we fail to comprehend this, we may perceive many of the Buddha's teachings as contradictory, leading to misunderstanding or confusion.

 

For example, in the Mahaparinirvana Sutra, the Buddha said,

 

"All formations are impermanent;

they are the phenomena of birth and death.

When birth and death come to an end,

cessation is bliss."

 

The first two lines indicate that all phenomena in the secular world are impermanent; they are all subject to birth and death. The last two lines imply that once birth and death cease to exist, what will remain is blissful peace. This world is a realm of relative birth and death. As for the world on the other shore, the absolute world, there will be no birth and no death. If we do not have a clear understanding of the conventional truth and the ultimate truth, we may mistakenly believe that the Buddha made contradictory statements. In fact, Buddha always spoke the truth. The first two lines express the conventional truth, which pertains to the realm of relative phenomena, where birth and death occur. The last two lines pertain to the absolute realm, which represents the ultimate truth. In this realm, there is no birth or death; it is the world of dharma nature, or the world of inherent essence.

 

At this point, we return to the verse of Bodhisattva Nagarjuna mentioned in the opening of this article. Bodhisattva teaches us that if we cannot distinguish between relative truth and absolute truth, that is, worldly truth and ultimate truth, then we cannot fully comprehend Buddhism. Due to this lack of understanding and lack of distinction, we ambiguously interpret the Buddha's words to mean that the Absolute Dharma cannot be conveyed, and mistakenly believe that the Buddha did not speak about the Relative Dharma. This unintentionally leads to slandering the sutras, which contain the essential words of the Buddha. He employed everyday language and conventional truths to instruct ordinary people on how to gradually advance on the path of renouncing the phenomenal world in order to reconnect with their essential nature. If we fail to comprehend this and believe that the Buddha did not teach the Dharma, we may lose faith in the sutras and miss the chance to possess an accurate guide to rediscover the true nature of the absolute mind.

 

(Excerpted from the book Live The Buddhist Teachings, Hồng Đức Publishing House, 2014)

 

.... o ....




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tô phở nóng, ly trà thơm Giữa cái lạnh dưới 0 độ C của ngày Thứ Sáu 23/1, hàng hàng người dân Minneapolis đã bất chấp cái lạnh khắc nghiệt để xuống đường tuần hành, yêu cầu chấm dứt chiến dịch trấn áp nhập cư của Donald Trump tại thành phố này. Đây là một phần của phong trào phản kháng rộng lớn hơn mang tên "ICE OUT!" mà các nhà tổ chức gọi là một cuộc tổng đình công trong tiểu bang. Đây cũng là cuộc phản kháng tập thể đầu tiên sau vụ đặc vụ liên bang biên phòng (CBP) bắn chết một công dân Mỹ (thứ hai) trên đường phố, y tá Alex Pretti. Người thứ nhất là cô Renee Good.
J541. Nimi Jātaka -- Hãy tu cả bố thí và giới hạnh. Tóm tắt: Đức Phật mỉm cười, và Tôn giả Ānanda hỏi ngài lý do. Đức Phật kể lại câu chuyện về một vị vua, khi nhận thấy một sợi tóc bạc trên đầu, đã quyết định từ bỏ thế tục. Con cháu của ông cũng làm theo, và một trong số họ được đưa đến xem địa ngục và thiên đàng, và được cho biết những việc làm mà con người đã thực hiện để xứng đáng với kiếp luân hồi của mình.
-- Trump Đề Cử Kevin Warsh Lãnh Đạo FED, Thượng Viện Vướng Kẹt Ngân Sách Giờ Chót. -- Durbin Phản Pháo Vance: “Lời Lẽ Thấp Hèn, Không Xứng Danh Phó Tổng Thống”. -- Cựu Xướng Ngôn Viên CNN Don Lemon Bị Bắt Ở Los Angeles. -- Thượng Viện Đòi Bộ Trưởng Nội An Noem Ra Điều Trần Gấp. -- Washington: Hàng Chục Lãnh Đạo Tôn Giáo Bị Bắt Vì Biểu Tình Chống Chính Sách Di Trú. -- Bộ Tư pháp Mỹ công bố thêm tài liệu trong hồ sơ Jeffrey Epstein -- Trump Kiện Sở Thuế Vụ Và Bộ Ngân Khố Đòi 10 Tỉ USD Vì Lộ Hồ Sơ Thuế. -- Texas: Tạm Ngưng Cấp Visa H-1B Cho Các Cơ Quan Tiểu Bang Và Đại Học. -- Minneapolis: Hàng Loạt Công Tố Viên Đòi Từ Chức Vì Bất Bình. -- Chưa Giải Trình Xong Vụ Georgia, Gabbard Lại Xuất Hiện Trong Họp Bầu Cử Toàn Quốc. -- Massachusetts: Dự Luật Ngăn Vệ Binh Quốc Gia Tiểu Bang Khác Tự Ý Vào Địa Phận. -- Cộng Hòa Đòi Bỏ Phiếu Đuổi Nữ DB Florida Vì Nghi Án Rửa Tiền 5 Triệu MK. -- Tòa Bạch Ốc Chê Ca Khúc Mới Của Danh Ca Bruce Springsteen “Tầm Phào”...
Napa Valley Asian American Film Festival (NVAAFF), liên hoan phim thường niên của cộng đồng gốc Á tại thung lũng Napa, sẽ trở lại trong hai ngày 6 và 7 tháng 2 năm 2026 tại Napa Valley College. Liên Hoan Phim năm nay tiếp tục giới thiệu những tiếng nói sinh động của các nhà làm phim Á châu và Mỹ gốc Á trong một không khí hội hè, nơi điện ảnh, ẩm thực và sinh hoạt cộng đồng gặp nhau. Song song đó là nỗ lực tăng cường gắn bó với địa phương, thông qua hợp tác cùng các nhà hàng, nhà làm rượu vang, nghệ nhân, các cơ sở kinh doanh nhỏ độc lập trong vùng, cũng như tập thể giảng viên và sinh viên Napa Valley College.
Là một thành viên của Little Saigon San Diego (LSSD), tôi luôn tin rằng việc giữ gìn không gian văn hóa sạch đẹp chính là cách thể hiện tình yêu thương dành cho các thế hệ đi trước, cho cộng đồng doanh nghiệp và cho thế hệ mai sau. Hôm nay, niềm tin đó đã trở thành một cam kết chính thức. Little Saigon San Diego tự hào được công nhận là Cộng đồng California Sạch. Danh hiệu này không chỉ đơn thuần là một danh xưng. Nó khẳng định điều mà cộng đồng chúng ta từ lâu đã biết: chăm sóc khu phố của mình chính là một hành động gìn giữ và bảo tồn văn hóa. Chúng tôi không chỉ giúp dọn dẹp khu phố, mà chúng tôi còn giúp gìn giữ một ngôi nhà văn hóa.
Tổng thống Donald Trump đang tìm cách mở rộng quyền lực của hành pháp trên một trong những nền tảng tưởng như vững chắc nhất của hệ thống pháp lý Hoa Kỳ: quyền công dân. Trở lại Tòa Bạch Ốc với chương trình siết chặt di dân, ông không chỉ đẩy mạnh trục xuất và hạn chế nhập cư mới, mà còn nhắm thẳng vào những người đã là công dân Mỹ bằng con đường nhập tịch, đặt lại câu hỏi: ai mới thật sự được coi là “người Mỹ”.
14 tháng 1 năm 2026. Ông Trump tin rằng người di dân từ 75 quốc gia này có khả năng sẽ phụ thuộc vào các phúc lợi công cộng như trợ cấp xã hội, nhà ở, tem phiếu thực phẩm và chăm sóc y tế. Tuy nhiên hạn chế mới này đã bỏ qua thực tế rằng tất cả những người di dân đều phải có người bảo trợ tài chính trước khi đến Hoa kỳ. Chính quyền TT Trump đang tạm dừng duyệt xét chiếu khán di dân cho người dân từ 75 quốc gia. Tại Đông Nam Á, một số quốc gia bị ảnh hưởng là Myanmar, Thái Lan, Lào và Campuchia. Hiện tại, danh sách này KHÔNG bao gồm Việt Nam. Do đó, việc duyệt xét tất cả các loại chiếu khán vẫn tiếp tục như bình thường tại Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Tổ chức American Academy of Pediatrics (AAP) vừa công bố hướng dẫn chích ngừa cho trẻ em trong năm 2026, đánh dấu lần rạn nứt lớn đầu tiên với chính phủ liên bang về lịch chích ngừa sau gần 30 năm thống nhất. Theo AAP, trẻ em Hoa Kỳ vẫn cần được chích ngừa để phòng ngừa 18 loại bệnh nguy hiểm, trong đó có Covid-19, cúm mùa, viêm gan A và B, sởi, RSV và một số bệnh truyền nhiễm khác. Hướng dẫn này đi ngược lại quyết định mới của Centers for Disease Control and Prevention (CDC), vốn đã cắt giảm lịch chích ngừa chính thức từ 18 bệnh xuống còn 11 bệnh kể từ đầu tháng Giêng.
Dưới mái chợ Bến Thành giữa trung tâm Sài Gòn, dòng người chen vai mua sắm trong không khí nóng ẩm. Giữa những quầy khăn lụa và móc khóa in biểu tượng cộng sản, Wang Xuan – một du khách Trung Quốc – thong thả dạo bước, tay cầm ly nước dứa ép tươi. Thay vì co ro trong cái lạnh Bắc Kinh, cô chọn Việt Nam cho chuyến đi cuối năm, tự lên kế hoạch qua điện thoại, đặt phòng trên Klook và tìm gợi ý du lịch qua Xiaohongshu.
Nhà leo núi người Mỹ Alex Honnold vừa hoàn tất một trong những thử thách nguy hiểm nhất sự nghiệp: leo lên đỉnh tòa nhà Taipei 101 cao 1.667 feet (hơn 500 mét) tại Đài Bắc mà không dùng bất kỳ sợi dây hay thiết bị bảo hộ nào. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử có người “free solo” toàn bộ công trình mang tính biểu tượng này. Cuộc leo diễn ra ngày 25 tháng 1 năm 2026, sau khi phải hoãn một ngày vì mưa. Từ chân tháp lên tới đỉnh chóp, Honnold mất khoảng 90 phút. Anh leo dọc theo một góc tòa nhà, dùng tay và chân bám vào các gờ kim loại, dầm thép và kết cấu bên ngoài. Trên người chỉ có áo thun đỏ, quần đen, giày leo màu vàng và một túi phấn nhỏ đeo ở thắt lưng để làm khô tay khi cần.
Cá mập Greenland là loài động vật có xương sống sống lâu nhất từng được biết tới. Chúng cư ngụ dưới những vùng biển sâu, lạnh buốt của Bắc Cực và Bắc Đại Tây Dương, có con được ước đoán sống tới gần bốn trăm năm. Vì sống cả đời trong bóng tối và thường mang ký sinh trùng ở mắt, từ lâu người ta cho rằng loài cá này hầu như không còn thị lực. Một nghiên cứu mới công bố ngày 5 tháng 1 trên tạp chí Nature Communications cho thấy nhận định đó không đúng. Các nhà khoa học phát hiện cá mập Greenland vẫn giữ được thị lực khá tốt, nhờ những cơ chế đặc biệt giúp bảo vệ và sửa chữa DNA trong mắt, ngay cả sau nhiều thế kỷ.
- Trump, hai con trai và Trump Organization kiện Sở Thuế IRS và Bộ Tài chính đòi bồi thường 10 tỷ đô la vì rò rỉ hồ sơ thuế năm năm 2019, 2020: Trump không đóng thuế hàng chục năm bằng nhiều cách. - Người làm lộ hồ sơ thuế của Trump đã lãnh án 5 năm tù.
- Machado níu áo Quốc Hội Mỹ xin lật đổ độc tài Venezuela sau khi Trump cầm huy chương Giải Nobel Hòa Bình rồi lặn mất. - CIA nói chính phủ độc tài Venezuela được Trump ủng hộ vẫn không chịu quay lại chống Nga, TQ, Iran. - Mỹ sợ nếu giúp bà Machado về Venezuela thì sẽ bùng phát biểu tình đòi dân chủ lại gây bất ổn đầu tư. - Trump lặp lại với NY Post: lật đổ Maduro không phải để dân chủ hóa, mà vì Mỹ cần dầu.
Chỉ còn hơn một ngày trước hạn chót, Thượng viện Hoa Kỳ hôm thứ Năm đã chặn một gói chi tiêu gồm sáu dự luật, làm gia tăng nguy cơ chính phủ liên bang phải đóng cửa một phần vào cuối tuần này. Tâm điểm bế tắc là khoản 64,4 tỉ mỹ kim dành cho Bộ An ninh Nội địa (D.H.S.), cơ quan đang bị chỉ trích dữ dội vì chiến dịch trấn áp di trú tại Minnesota sau vụ một điều dưỡng người Mỹ, Alex Pretti, bị nhân viên liên bang bắn chết ở Minneapolis cuối tuần qua. Trong cuộc biểu quyết thủ tục với kết quả 45–55, toàn bộ Thượng nghị sĩ Dân chủ cùng một nhóm nhỏ Cộng hòa đã bỏ phiếu ngăn không cho dự luật được đưa ra nghị luận, đúng như lời cảnh cáo từ trước rằng họ sẽ không chấp nhận gói chi tiêu nếu phần ngân sách cho D.H.S. không được tách riêng để thương thuyết. Lãnh tụ Dân chủ tại Thượng viện Chuck Schumer khẳng định phe của ông sẵn sàng chấp thuận năm dự luật còn lại để duy trì sinh hoạt cho phần lớn guồng máy chính phủ, nhưng đòi hỏi phải “phanh lại ICE và chấm dứt bạo lực” trước khi bơm thê
-- Trưởng Biên Giới của Trump Thừa Nhận Cần Sửa Cách Làm Tại Minneapolis. -- FBI lục soát văn phòng bầu cử Georgia, đào lại thuyết gian lận 2020 của Trump. -- Schumer Và Bạch Ốc Đàm Phán Phút Chót Về Nguy Cơ Chính Phủ Mỹ Đóng Cửa. -- Video Mới: Alex Pretti Từng Xô Xát Với Đặc Vụ Liên Bang 11 Ngày Trước Khi Bị Bắn Chết. -- Tòa Kháng Án: cắt quy chế bảo vệ người Venezuela là trái luật. -- TNS Amy Klobuchar ra tranh cử thống đốc Minnesota. -- Trump đòi lập đơn vị "săn" gian lận, đề cử thân tín lãnh đạo. -- Thẩm phán chặn lệnh bắt giữ người tị nạn hợp pháp tại Minnesota. -- Minnesota: ICE đổi bài; tránh đối đầu, chỉ nhắm người có tiền án. -- FED giữ nguyên lãi suất giữa "bão" chính trị bủa vây ghế chủ tịch. -- Nội bộ Dân Chủ khuyến cáo DB: đừng tới Minnesota. -- Bão tuyết Hoa Kỳ: ít nhất 60 người chết. -- Bộ trưởng Ngân Khố bênh vực "Trump Accounts.” -- Tin vui: bảo hiểm bắt đầu chi trả thuốc chích ngừa HIV 6 tháng/lần...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.