Hôm nay,  

Truyện cổ tích xứ thiên đường (Tiếp theo và hết)

18/10/202317:44:00(Xem: 1719)
Truyện

vantoi

Lão Tống bắt bầy chim Cốc làm việc quần quật cả đêm, lão chỉ cho chúng nghỉ khi thật cần thiết. Lão cần thật nhiều cá đem ra chợ trao đổi lấy gạo và đồ dùng về cho gia đình. Từ ngày có bầy chim làm việc thay cho cho lão, gia đình khấm khá hơn xưa, có của ăn của để.
    Sương đêm nặng rơi trên áo tơi làm lão thoáng rùng mình, lão liên tục dậm chân, nhảy nhót trên chiếc bè tre để giữ ấm thân mình. Thỉnh thoảng lão lấy bầu rượu gạo đeo bên hông ra tu một hơi, ngửa cổ khè một tiếng sảng khoái; chỉ tội bầy chim Cốc, muốn được ăn, thi nhau lặn ngụp không nghỉ, đem cá to đổi lấy cá nhỏ chủ ban cho.
    Khi bầy chim mệt, lão ngừng dậm chân, đưa cây sào tre ra để từng con bám vào và đưa chúng lên bè nghỉ ngơi. Lão cắm sào, lấy ống tẩu ra nhồi thuốc hút trong khi bầy chim được dịp đứng rỉa lông và thưởng thức mấy con cá nhỏ, vừa ăn vừa cãi nhau náo động một khúc sông. Chúng được dạy cho thuần thục đến độ mất đi bản năng thiên nhiên của loài chim, khi nghe khẩu lệnh là chúng lao xuống dòng nước. Khi chủ đưa cây sào là chúng trở về. Thói quen đã thành nếp, chúng cảm thấy hạnh phúc, no đủ, và cam chịu, không cần phải đấu tranh để sinh tồn vì mọi việc đã có lão Tống lo toan.
    Ông Lão vuốt ve con chim Cốc đầu đàn mà ông đặt tên là Nhất vì nó là con chim tốt nhất, khỏe nhất, bắt cá hay nhất, và vâng lời nhất, nó là thủ lĩnh của bầy chim. Vừa vuốt ve, lão Tống vừa nói chuyện với nó như người cha nói chuyện với đứa con nhỏ của mình. Từ cổ họng chú chim Cốc phát ra những tiếng rù rù, mắt nó nhắm lại khi được chủ mơn trớn thương yêu.
 
                                                                             ***
 
Nước Đại Ngu nay đổi tên là Đại Cồ Việt. Khi đó vận nước còn đang rối rắm, chính phủ dân bầu vừa được đám quân phiệt xứ Thái Dương trao quyền độc lập, vẫn đang trong thời kỳ chuyển giao quyền hành. Cơ hội ngàn năm một thuở, gã và đàn em trà trộn vào đoàn người đi dự lễ tuyên bố độc lập, chúng nhảy lên khán đài, dùng vũ khí cướp lấy chính quyền và kích động dân chúng giật lấy biểu ngữ “Vietnam to the Vietnamese”. Dân chúng hỏi cái băng rôn có hàng chữ “Việt Nam to thế Việt Nam mề sề” có nghĩa là gì, đám đàn em gã ngơ ngác lắc đầu không biết.
    Ngày xưa, cha gã bị giáng chức quan vì lỡ tay đánh chết người khi đang say xỉn, nay gã trở thành anh hùng dân tộc, một bước nhảy lên làm lãnh tụ nước, oia phong một cõi, một chức vụ còn quyền uy hơn hoàng đế Đại Cồ Việt vừa thoái vị. Gã thầm cám ơn Mao sư huynh đã mật báo cho hay tin cực kỳ quan trọng này. Gã vồ lấy thanh Trấn Quốc Kiếm của cựu hoàng đế, chỉ thẳng lên trời, vuốt vài sợi râu loe ngoe, mắt lim dim ra chiều đắc ý, rồi cười rống lên không dứt giữa tiếng tung hô vạn tuế của đám đàn em.
    Sau bao năm gian khổ, sống chui rúc trong hang hốc, ngày ngủ, đêm lẻn về các làng mạc tuyên truyền chiêu bài đánh Tây, diệt Phát Xít, giành độc lập. Đại huynh từ phương Bắc hối thúc lão phải dùng chiêu “bạo lực kách mệnh” cướp chính quyền càng sớm càng tốt, vì phong trào các nước đế quốc trao trả độc lập cho các nước thuộc địa đang lan rộng. Gã cũng thấy nếu dùng bạo lực để dựng đại nghiệp chính trị thì bất kể động cơ thế nào cũng là bất nhân, nhưng cơ hội chỉ đến một lần.
    Theo sách lược trong bí kíp, gã gài đàn em thân tín trong tất cả tầng lớp dân chúng, kích động dân nghèo cướp của người giàu, phong trào cũng tạo được một vài tiếng vang, nhiều người nghèo chẳng còn gì để mất, họ theo gã càng ngày càng đông. Gã cho đàn em theo rình rập và thủ tiêu hết những người thuộc chính phái khác không cùng chủ trương như mình, gã cho rằng một nước không thể nào có hai vua.
    Gã gởi mật thư lên Mao Vương xin gởi người từ Cơ Mật Viện qua mở lớp huấn luyện và nhồi sọ đàn em theo đúng sách lược của hai nước đàn anh; đàn em gã ngày càng giỏi việc cướp bóc và chém giết. Một số khác bất mãn, có ý định bỏ về thành đều bị đàn em gã thủ tiêu. Gã thành lập đảng và tổ chức cắt máu ăn thề y như trong truyện tàu Anh Hùng Lương Sơn Bạc, bắt buộc đảng viên phải tuyệt đối trung thành với gã và đảng, nếu không sẽ bị buộc tội chém tru di tam tộc. Ai trung thành và theo gã, sẽ được bổng lộc và vinh thân phì gia đến muôn đời.
    Mùa Thu, năm 1945, thế giới bước vào vận hội mới, Đại Thế Chiến thứ II vừa kết thúc, các cường quốc trên thế giới đang bị khánh kiệt về kinh tế, tài nguyên, và thực phẩm. Đại Cồ Việt và hai nước hàng xóm là xứ Nghìn-Voi và xứ Chùa-Tháp, còn gọi là Đông Dương Tam Quốc, cũng được hứa trao trả độc lập từ đại mẫu quốc Phú Lãng Sa.
    Gã bèn thân chinh vượt ngàn hải lý qua xứ Cờ Hoa, nổi tiếng là đệ nhất siêu cường thời bấy giờ, xin được công nhận làm vua nước Nam và xin viện trợ tiền bạc của cải, nhưng Tổng Thống Cờ Hoa lúc bấy giờ nghi ngờ gã là đệ tử của Quốc Tế Đại Đồng phái nên không cho. Gã tức tốc quay về diện kiến Mao sư huynh.
    Bấy giờ, sư huynh của gã tuy đang chật vật dấy binh tranh dành thế lực với một chính phái khác, thấy đây là cơ hội để bắt thằng sư đệ nhiều mưu lắm mẹo này phải thần phục và đặt vòng Kim Cô lên đầu nó; sư huynh gã liền cung cấp thêm vũ khí và phái người ngựa thồ súng đạn và cấp tốc ngày đêm lên đường trực chỉ phương Nam.
    Ngày đó, dân xứ Đại Cồ Việt đa số ít học nên được gã và đàn em vẽ ra một bức tranh thiên đường cõi thế: người yếu thì làm ít mà vẫn hưởng ngang với người mạnh khỏe, tự do muốn làm gì thì làm, muốn đi đâu thì đi, hứa hẹn một thế giới đại đồng. Vì thế gã cho đàn em đẩy mạnh phong trào cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ, cải tạo tư sản, hợp tác hóa tất cả phương tiện sản xuất của dân làm của … mình. Gã và đàn em ngày càng giàu trong khi nhân dân nằm mơ cũng không có được một bữa cơm có thịt.
    Cả nước đều mê mẩn như đang lên đồng. Nhân dân gọi gã là Bá Bá của dân tộc, dù gã mới hơn 50 tuổi; nhưng vẫn có những kẻ xấu mồm, những thế lực phản động rỉ tai nhau gọi gã là “ đa th đại hán ”. Ngay từ lúc còn trong hang, đàn em thường hay dâng lên vô số những cô gái xinh đẹp trong vùng làm công tác hộ lý cho gã, để tâm sự, săn sóc và “nâng khăn sửa khố” cho gã trong những đêm trường lạnh lẽo cô đơn.
    Đàn em và gã say sưa men chiến thắng. Ông thày giáo dạy sử, vừa được gã phong cho quân hàm đại tướng, dù chẳng qua một trường võ bị nào, tên háo danh này muốn tổ chức duyệt quân chiến thắng vào ngày 30 tháng 8, 1945 tại Cao Bằng vì vừa cướp được chính quyền và để phô trương sức mạnh quân giải phóng. Lính dưới trướng chừng 100 tên gầy ốm như que tăm, da vàng bủng beo vì sốt rét rừng, vũ khí lèo tèo vài cây súng dài như gậy thọc đu đủ, đồng phục thì cái dài cái ngắn, cái quá khổ, tác phong quân kỷ lại chưa được huấn luyện chính quy ngày nào.
    Đám mưu sĩ phương Bắc khuyên đừng nên làm ồn ào vì như thế chỉ tổ quân Pháp nó để ý thì chết. Khổ một nỗi là “ngài đại tướng” thấy cần phải tỏ ra mình xứng đáng là một danh tướng cho toàn dân biết tiếng và cũng cho địch sợ chơi, nên cứ phớt lờ lời khuyên mà nói “Bá Bá tao đã duyệt rồi”, hắn cứ cho đoàn quân ốm đói tập bước cho đều để đại tướng ra duyệt hàng quân danh dự.
    Quân Pháp tuy đang yếu sức, cạn tiền, khi hay tin, họ gởi hai máy bay đến… tham gia duyệt quân cho vui, kết quả là phe ta chạy như vịt, bị thương vong hơn nửa; nhân dân tò mò ra coi, cũng bị một phen chạy vắt giò lên cổ. Sau này trong cuốn nhật ký của đám mưu sĩ phía Bắc có ghi: “Trưa hôm đó, tiếng bom nổ rung chuyển mặt đất dù chúng tôi ở xa cách chỗ duyệt quân 20 Km.”
    Rồi thế sự lại xoay vần. Đại mẫu quốc được sự trợ giúp của nước Cờ Hoa giàu có, họ trở lại lần này còn mạnh mẽ hơn, lấy cớ giúp đỡ Đại Cồ Việt trở thành một nước độc lập trong liên hiệp Pháp và tránh xa cái vòi bạch tuột của tên đàn anh phương Bắc. Gã và đồng bọn lại phải chạy lên rừng lần nữa để lánh nạn. Dù tan tác như bầy ong vỡ tổ, gã và đám đàn em gặp lại nhau ở ngay chính cái hang động ngày xưa khi mới về nước. Thày trò an ủi nhau và nằm chờ Mao sư huynh gởi lương thực và đạn dược, mưu đồ một kế sách mới.
 
                                                                             ***
 
Lão Tống nhớ lại những ngày đầu tiên khổ cực nâng niu, chăm chút từng miếng ăn và huấn luyện cho chim quen và hiểu tiếng người. Một ngày nọ, lão đang chèo thuyền trên một khúc sông vắng vẻ, chợt nghe tiếng chim kêu khóc đau thương trong một bụi rậm ven bờ. Lão tắp thuyền vào và thấy hai chú chim con đang run rẩy, kêu gào lả đi vì đói. Nhìn quanh không thấy bóng dáng chim mẹ ở đâu, lão đoán chắc chim mẹ đi kiếm mồi đã bị mắc bẫy; hai chú chim con đói, khóc gào đến gần kiệt sức chờ chim mẹ đi mãi không trở về.
    Sẵn còn ít cháo sót lại trong nồi, lão bón cho chúng ăn từng chút cho đến khi chúng nằm im không kêu khóc nữa. Thằng con trai độc nhất của lão nhìn hai con chim với cặp mắt háo hức vui mừng. Nó luôn miệng năn nỉ lão đem lên thuyền nuôi. Lão bèn bọc chúng lại trong miếng vải và đem chúng lên thuyền đặt vào trong một cái rổ tre. Thằng con trai thích quá, ngày đêm quấn quit bên hai con chim.
    Từ đó, ngày nào cha con lão đều lo lắng chăm sóc hai con chim, hết bắt sâu bọ và nấu cháo cho chúng ăn. Lão còn dạy cho chúng hiểu và làm theo tiếng người. Ngày nào, sau khi giăng câu về, ông lão lại cho chúng ăn những con cá nhỏ, rồi thì thầm với chúng như bạn bè. Mỗi lần lên bờ đi ra chợ, lão và đứa con đều đem chúng theo trên vai, mọi người ở chợ đều thích thú nhìn hai con chim dạn dĩ, ai cũng có thể sờ chúng. Hai con chim quen thuộc với ông nên không bao giờ bay đi đâu, nếu có đi thì hôm sau cũng trở về vì không nơi nào chúng có thể tìm được sự vỗ về yêu thương.
    Trong lúc đi câu đêm, chúng luôn luôn theo gia đình ông. Một đêm nọ, lão thấy chúng lao xuống dòng sông, rượt đuổi theo những con cá và khi trồi lên, trong mỏ của chúng là những con cá thật to. Chúng có đôi chân rẽ quạt và có màng nên chúng lặn rất nhanh, dùng mỏ bắt cá, nhờ có cái mỏ khoằm nên không bao giờ con cá nào có thể thoát ra được. Một ý tưởng lóe lên trong đầu lão.
    Lúc này, lão neo thuyền tại một hang động và bắt đầu huấn luyện cho hai con chim Cốc biết nghe hiệu lệnh, bắt chúng đi săn cá cho lão, chỉ thưởng chúng ăn mấy con cá nhỏ xíu khi chúng tuân theo luật lệ của lão đặt ra, còn làm biếng thì lão bỏ đói bằng cách trói chân chúng lại. Lão đi lùng kiếm thêm các tổ chim Cốc khác và bắt về thêm được nhiều cái trứng khác mà lão biết đã gần đến ngày nở. Lão đem mấy cái trứng về cho gà mái ở nhà tiếp tục ấp chung với trứng gà khác.
    Mỗi ngày, lão đều thăm chừng và khi biết chắc chỉ còn 1, 2 ngày nữa sẽ đến ngày nở, lão nhẹ nhàng lấy trứng ra đem đi ủ vào một chiếc khăn ấm hơ trên lửa. Nếu để cho gà ấp và nở ra, gà mẹ, thấy lạ, có thể sẽ mổ chúng đến chết. Mấy chú chim Cốc chào đời, lão nâng niu, chăm bẵm hết sức ân cần. Thằng con trai đi bắt sâu bọ, cào cào châu chấu cho chúng ăn, tạo cho chúng một cảm giác thân quen với gia đình, cho chúng biết chỉ có ở với lão và gia đình mới an toàn, lao động là vinh quang, còn lang thang là chết đói.
    Lão bện một cái bè bằng tre và đem 6 con chim Cốc theo tập cho chúng săn cá. Sau hai năm, các chú chim đực theo học việc sẽ trở thành những tay săn cá chuyên nghiệp. Vợ lão ở trên thuyền nhà, chỉ lo cơm nước và chăm nuôi vài con chim Cốc mái. Nếu chú nào siêng năng, đạt danh hiệu anh hùng lao động, lão sẽ thưởng cho nhiều cá hơn và đặc biệt là sẽ cho chúng đi lấy vợ, nghĩa là hưởng chút ái ân với mấy con chim cái ở nhà. Đây là đặc ân của lão ban cho mới được.
    Khi nào mấy cô chim Cốc sắp khai hoa nở nhụy, lão cho mấy chú chim nghỉ ở nhà, giúp vợ xây tổ uyên ương, khỏi phải đi làm. Đến khi chim con nở, sau hai tháng, chúng sẽ được tuần tự huấn luyện để trở thành tay săn cá chuyên nghiệp. Cuộc đời chúng cứ như thế mà tiếp nối đời cha đến mãn đời cháu chắt. Cuộc sống, thói quen của chúng không còn theo bản năng thiên nhiên trời cho mà hoàn toàn lệ thuộc vào lão. Lão cho ăn, cho nghỉ, và cho yêu thì mới được yêu.
    Lão bây giờ làm vua một bầy chim Cốc, lão sống sung túc nhờ sức lao động của chúng. Đứa con trai độc nhất của lão giờ cũng có gia đình riêng, cũng có một bầy chim Cốc lão chia cho để làm kế sinh nhai. Theo gương cha, nó cũng sắm chiếc bè cùng với bầy chim đi săn cá trên một khúc sông ở hạ nguồn. Chỉ cần một tiếng huýt sáo, bầy chim lao xuống dòng sông ào ạt vì chúng biết chúng sắp được ăn. Trong buổi họp mỗi 5 năm của gia đình, hai cha con thống nhất đặt tên cho kiểu làm ăn này là làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu.
 
                                                                                    ***
 
Năm 1949, Mao sư huynh xưng vương ở xứ Hoa Hạ, lên ngôi thiên tử, gồm thâu thiên hạ về một mối, đổi tên nước là Đại Trung. Một cuộc đổi đời long trời lở đất, gần 1 tỷ người rên xiết nhưng tiếng kêu oan không thấu được trời xanh. Mười vạn bá tánh, lớp bị đày lên vùng lam sơn chướng khí, lớp bị tra khảo, bị bỏ tù, lớp còn lại bị đấu tố đến chết. Dân tình đói quá chết đầy đường, có người phải ăn thịt cả con mình. Hắc khí giăng mờ khắp non sông, đau thương ngất trời.
    Gã và đàn em vội vã lên đường qua bên đó học tập cách thức để trở về nước thực hành. Mao Vương phái khâm sai đại thần theo về, đem súng ống, lương thực qua cho và tận tay giao cho gã tấm kim bài đặc lệnh, tiền trảm hậu tấu, nghĩa là tuyệt đối tuân theo mà thi hành, ai không nghe cứ chém, tấu trình sau.
    Gã nhớ như in, sau buổi thiết triều, Mao sư huynh cho mời gã đến hồ bơi ở biệt điện Trung Nam Hải để mật đàm. Ở đó, gã chứng kiến một bầy mỹ nữ bao quanh sư huynh, cô thì đấm lưng, cô rót rượu, cô đưa mồi đến tận miệng hoàng đế. Nghe nói sư huynh của gã có khoảng vài ngàn phi tần là ít, thay nhau vào cung để hầu hạ long nhan. Tất cả đội ngự lâm quân được lệnh ra ngoài đứng gác. Giấc mơ Lưu-Nguyễn mà thày gã dạy ngày nào, bây giờ hiển hiện ngay trước mắt. Gã chợt để hồn lâng lâng trôi theo cơn mộng vàng cho đến khi Mao sư huynh đưa ly lên cụng nghe côm cốp, gã mới giật mình trở về thực tại.
    Hoàng đế thân mật vỗ vai gã rồi kề tai nói nhỏ, chỉ thấy gã gật đầu lia lịa, thỉnh thoảng quay qua chỗ khác kín đáo hít thật sâu một hơi. Gã chịu không nổi cái hơi thở hôi hám của sư huynh mình. Gã nghe đồn hoàng đế cả đời không bao giờ đánh răng, ăn xong, chỉ xúc miệng bằng nước trà, rồi nhổ toẹt xuống nền nhà, người hầu phải chạy lại lau dọn ngay lập tức.
    Vậy mới hay, bây giờ là vua, giàu nứt đố đổ vách, hoàng đế Đại Trung tuy có giàu mà vẫn không sang, vẫn không có cốt cách của hàng vương giả. Cái sang phải nằm trong cốt cách, lối ứng xử, trí tuệ, dáng đi, và ngôn ngữ hằng ngày mà điều này phải được tôi luyện và lớn dần từ bao đời trước mới có. Gã lại tự nhủ, về nước ta phải mướn thày về dạy ta cách sống của bậc đế vương mấy hồi.
    Năm 1954, sau 9 năm gian khổ chiến tranh, dân tình điêu linh một cách không cần thiết để chống thực dân, Xứ Cờ Hoa ngưng không ủng hộ Pháp. Mưu sĩ phương Bắc dạy cho ngài đại tướng chiến thuật biển người, còn gọi là thuật “nhất tướng công thành vạn cốt khô”, thế nào cũng thắng. Khi được phỏng vấn làm thế nào đại tướng có thể thắng một đội quân thiện chiến ở Châu Âu với vũ khí tân tiến hơn nhiều. Ông đại tướng trả lời không do dự:
    – Người Pháp không thể nào thắng chúng tôi vì cứ 10 mạng chúng tôi đổi lấy 1 mạng của họ, chúng tôi vẫn cứ đánh cho đến người cuối cùng, mà người thì chúng tôi không thiếu.   
    Tàn cuộc chiến, hơn 1 vạn quân Pháp phải đầu hàng quân của ông đại tướng. Với khuôn mặt chưa hết kinh hoàng, họ nói không biết ở đâu mà lính địch cứ xông lên “đông như quân Nguyên”, hết lớp  này ngã xuống, lớp khác lại tiến lên, quân Pháp không còn đủ đạn để bắn. Kiểm điểm lại, trong hơn 5 vạn quân của ông đại tướng, có hơn 2 vạn chết tại mặt trận, 1 vạn rưỡi bị thương, nhưng nhìn về “đại cục”, phe ta vẫn cứ toàn thắng. Pháp phải rút quân về nước. Thật đáng đời bọn Xích Quỷ, ở nhà không muốn cứ đòi đem ánh sáng văn minh đi soi rọi cho dân ta.
    Sau lễ tuyên ngôn độc lập lần thứ hai, gã và đàn em lại sắm lễ vật lên đường triều cống Mao Vương. Lần này, sư huynh gã ra lênh cho Tể Tướng soạn thảo văn kiện và yêu cầu gã ký tên vào công nhận Đại Cồ Việt là thuộc phiên của nước Đại Trung, nêu cao tình hữu nghị anh em, sông liền sông, núi liền núi. Mọi việc lớn nhỏ đều phải “tư vấn” với thiên triều trước khi muốn hành động.
    Đại yến linh đình được Mao Vương đích thân chiêu đãi, rượu ngon gái đẹp không thiếu thứ gì; lại còn được quan Tể Tướng thiên triều gả cho cô em họ để tình gia đình thêm thắm thiết. Gã sung sướng đến phát rồ. Đích thân Mao vương trao tặng gã một tấm liễn bằng gỗ nạm chữ 16 vàng chói lọi, đem về làm “thập lục tự phương châm” dùng để xác định tư tưởng, chỉ đạo phát triển quan hệ hai nước; Mao Vương thân mật vỗ vai dặn dò gã phải đời đời ghi tạc trong dạ: sơn thủy tương liên, lý tưởng tương thông, văn hóa tương đồng, vận mệnh tương quan.
    Khi về đến Bắc Bộ Phủ, gã và đồng đảng đem áp dụng chính sách của thiên triều không sai một dấu chấm phẩy, đồng thời cũng nuôi mộng thâu tóm giang sơn ba miền về một mối. Một nước không thể có hai vua. Đi đâu gã cũng bịt tai, che mặt, che cả râu không cho dân thấy, để yên lòng mà hưởng vinh quang, phú quý. Đám đàn em muốn làm vui lòng xếp, bắt dân chúng phải giăng rất nhiều biểu ngữ ca tụng công đức khắp nơi “Đại Cồ Việt chủ tịch sống mãi trong lòng chúng ta”.
    Rủi thay, mùa Xuân năm con Khỉ, gã bị thiệt hại nặng do tính nước cờ sai, gây cơn binh đao khói lửa, lính của gã thây phơi đầy đồng, xác nổi đầy sông; gã lên cơn đau tim và hồn du địa phủ. Đám đàn em thân tín bèn mượn danh của gã, ra lệnh cho xây một cái thạch lăng khổng lồ để xác ướp của gã bên trong, bắt dân chúng đến nhang đèn cúng bái. Vô hình chung điều này khiến gã  bị lọt sổ luân hồi.
    Khi Diêm Vương mở sổ xuất-nhập kho, gọi gã xuống trình diện và hỏi:
    – Nghe nói mi là vua nước Đại Cồ Việt, thuở sinh tiền, mi tự hào là trên thông thiên văn, dưới đạt địa lý. Giải thích cho ta chuyện này. Ta muốn cho mi đi đầu thai, nhưng khi ta bấm nút “Duyệt” thì cái máy nó cứ đứng im một chỗ, không chịu chạy? Mi có biết tại sao không?
    – Thưa ngài, làm sao tại hạ biết rõ nguyên do. Khi thở hơi cuối cùng, tại hạ nghe loáng thoáng bọn đàn em muốn ướp xác bỏ trong lăng để tại hạ sẽ được sống mãi trong lòng nhân dân.
    – Đúng là tụi bay muốn làm khó dễ công việc của ta đây mà. Vậy ta truyền cho mi phải hiện hồn về nói tụi đàn em phá hủy lăng tẩm đền đài, xây một cái nhà thương, và đem chôn cái thân xác bụi đất của mi. Xong việc trở về đây, ta sẽ cứu xét cho đi đầu thai đặng mà siêu thoát cho sớm. Còn không, mi cứ ở lại đây học việc với bọn đàn em Ngưu Đầu, Mã Diện của ta. Ta ban cho mi một đặc ân mà mi hằng ao ước khi còn trên dương thế là được đi đoàn tụ với sư tổ và sư phụ mi; tất cả bọn họ và các sư huynh đệ của mi đang ở trong cái “Hỏa Phòng” để chung hưởng đời đời kiếp kiếp.
    – Thưa ngài, tại hạ đã về báo mộng, mà chúng nó vẫn không nghe.
    – Không nghe thì mi không có cửa mà đi đầu thai, vô phương vãng sanh nơi miền cực… nhọc.
    Nói xong, Diêm Vương buông tiếng thở dài não nuột, quay qua bọn đàn em than thở:
    – Âu đó cũng là bi kịch thân phận lãnh tụ được bọn đàn em cho đi tàu bay giấy, đề cao là vĩ nhân, danh nhân văn hóa thế giới vậy!
    Từ đó, tiếng khóc than ngất trời, oán khí bốc lên che phủ cả bầu trời nước Việt. Mặt trời ít xuất hiện, mây mờ giăng mắc khắp non sông, vạn vật u buồn triền miên. Người người bỏ nước ra đi, chết chóc đau thương, gia đình ly tán. Người ở lại sống mòn trên mảnh đất bị nguyền rủa với cả mấy thế hệ tương lai sẽ còn chìm đắm trong hàng trăm năm tăm tối.
 

– Nguyễn Văn Tới

(10/2023)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sáng Chủ Nhật tôi thức dậy muộn ngoài ý muốn. Gần 10 giờ sáng rồi. Nhưng bất cứ gía nào tôi cũng sẽ đi shopping hôm nay…
Anh Trần Đình Đài là con trai thứ trong một gia đình trung lưu ở quận 3, Saigon xưa. Mẹ anh cũng là hậu duệ của hoàng gia triều Nguyễn. Cha anh là một trí thức vì vậy cả đàn con, bảy đứa ba mẹ đều cho ăn học đến nơi đến chốn...
Bảo rằng mới, ừ thì là mới nhưng thật sự thì tháng năm đã từ vô thủy đến giờ. Tháng năm là tháng năm nào? Năm nào cũng có tháng năm, nếu bảo mọi tháng đều là tháng năm thì cũng chẳng sai. Năm, tháng, ngày, giờ… là cái khái niệm con người chế ra, tạm gọi là thế, tạm dùng để đo, đếm cái gọi là thời gian. Bản thân thời gian cũng là một khái niệm như những khái niệm dùng để đo lường nó...
Quán cà phê nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng, hướng về phía Đa Kao...
Sáng chúa nhật, vừa làm điểm tâm sáng, pha café, nàng nói với chồng...
Mẹ đã về cõi vĩnh hằng. Tưởng nhớ mẹ, nhà thơ Trần Thanh Quang gửi tiếng lòng vào một trong những bài thơ dành cho mẹ đầy xúc động. Bài thơ có tựa chỉ một tiếng Mẹ nhưng gói gắm cả bầu trời tâm sự của người con. Anh đã chọn thể thơ lục bát truyền thống để chuyển tải thi ý, nghe giai điệu vọng về như tiếng ru của mẹ thuở nào!...
Một ơn phước lớn lắm, mẹ lẩm bẩm. Mỗi sáng, cứ coi như là “thức dậy” sau một đêm không hề chợp mắt, mẹ tự hỏi tối hôm nay mình sẽ ngủ được không, hay vẫn cứ chong mắt để không làm gì...
Căn nhà cũ. Chắc cũng gần năm chục tuổi. Sát bìa một khu rừng, trong một thị trấn lưa thưa bóng người. Chủ nhà đăng bảng bán biết bao lâu nhưng chẳng ai mua. Lúc ấy tôi đang có việc làm, lại thích cái tĩnh lặng huyền bí của khu rừng phía sau nhà nên đồng ý mua ngay. Thị trấn ấy vô cùng nhỏ bé. Một con đường chính viền hàng cây phong với vài ba ngã tư đèn xanh đèn đỏ. Từ đó mọc lan ra những con đường nhỏ, quanh co vào những khu xóm thưa người. Vì vậy khu rừng sau nhà là nơi tôi lui tới thường xuyên. Một tấm bảng với hai chữ “Dead End” gắn trên cây cột gỗ chôn ở bìa rừng. Một lối mòn vắt trên cỏ dại, bò quanh co giữa những tàng cây cao và bụi rậm với dây leo chằng chịt. Tôi thường mò mẫm một mình trên lối mòn ấy cho đến khi đám dây leo vắt ngang, chặn mất lối đi và cỏ dại xóa hết lối mòn. Dọc lối mòn quanh co ấy, thỉnh thoảng có một tảng đá nằm trơ trọi giữa cỏ cây rậm rạp, như thể ai đó đặt sẵn chỗ nghỉ chân cho những kẻ rong chơi. Và rải rác đó đây một loài hoa lạ. Loài hoa có bốn cán
Đời người không bình lặng mà luôn dậy sóng, lắm khi mưa lũ bão bùng, một khi nó đi qua thì ta mới thấy, mới thưởng thức được nét đẹp của hồ thu, của lá vàng bay lượn khắp nơi.
Trần Trọng Tâm sinh trưởng tại thành phố Quy Nhơn. Anh tốt nghiệp Đại Học sư phạm lý năm 1980 (anh là bạn học của anh rể tôi). Anh được bổ nhiệm vào dạy học ở Bình Chánh. Anh dạy tốt, kiến thức vững, nghệ thuật truyền đạt dễ hiểu. Phụ huynh học sinh rất quý anh! Ngoài giờ dạy anh thường ra uống cà phê ở quán bác Xuyến gần trường...
Sáu chị em chúng tôi vẫn chưa tưởng tượng được mình đã xa Ba Mạ, anh Lam và Kanh Kem, xa thật xa. Quê hương xa lắc, xa lơ bên kia bờ đại dương. Chừ mới thấm, thế nào là cây xa cội, nước xa nguồn. Anh chị Hải Điền và cu Nam đón chúng tôi ở phi trường Düsseldorf. Mừng mừng, tủi tủi...
Thằng Tường uống một ngụm bia, bọt bia trắng viền trên miệng nó thành một viền tròn. Nó đã bắt đầu ngà ngà say. Để chiếc ly xuống bàn chuếnh choáng, nó vung tay nói...