Hôm nay,  

Nguyễn Thị Minh Thúy

04/08/202300:00:00(Xem: 4437)
 
TUong nang tien a

Giới yêu hội họa, hẳn nhiên, đều biết tác phẩm Em Thúy của họa sĩ Trần Văn Cẩn. Bức danh họa này hoàn tất vào năm 1943, và “đã được công nhận là Bảo vật quốc gia.” Tuy thế, không mấy ai để ý là có đến hai phụ nữ tên Nguyễn Thị Minh Thúy (và hai đều được dư luận nhắc đến như là nguyên mẫu của tác phẩm nổi tiếng trên) nhưng cuộc đời của họ lại hoàn toàn khác hẳn nhau.

Trong bài “Có Một Người Mẫu Hà Thành,” xuất hiện trên trang Hiệu Minh Blog –  vào hôm 07/12/2010 – nhà báo Kim Dung khẳng định:

Vâng, bà là Minh Thúy – người mẫu năm xưa của bức tranh Em Thúy có một không hai – làm nên tên tuổi của danh họa Trần Văn Cẩn. Hóa ra, họa sĩ Trần Văn Cẩn là bác ruột của bà…
Như mọi thiếu nữ Hà thành gia giáo khác, bà Thúy theo học một trường học nổi tiếng của Hà Nội – Trường PT Trưng Vương. Dường như duyên phận đã đặt bà sau đó, học tiếp sư phạm và trở thành nhà giáo. Bà đã trải qua một cuộc đời dạy học khá êm đềm

Hai năm sau, qua một bài viết khác (“Hạnh Phúc Ngắn Ngủi Của Em Thúy Trong Tranh Trần Văn Cẩn”) đăng trên báo Phụ Nữ Today, hôm 26/09/2012, tác giả Sao Chi lại cho biết về một bà Thúy khác:

Ngồi trước mặt tôi bây giờ không phải là cô Thúy của 50 năm trước trong bức tranh của họa sĩ Trần Văn Cẩn vẽ tặng. Cô Thúy của ngày hôm nay đã tóc bạc da mồi, đôi mắt mờ đục rưng rưng kể lại cho tôi nghe câu chuyện cuộc đời mình hơn 40 năm về trước. Cô Thúy ấy chính là nữ thi sĩ Nguyễn Thị Phương Thúy, ái nữ của nhà phê bình, đồng tác giả cuốn Thi nhân Việt Nam – Hoài Chân…

Những tưởng cuộc đời của người con gái ấy sẽ trôi êm đềm khi làm vợ của vị giáo sư là Viện trưởng viện vật lý Việt Nam bấy giờ. Tuy nhiên, sống với nhau vài năm, hai trái tim ấy không cùng nhịp đập nên cuộc hôn nhân của cặp đôi ấy đã tan vỡ trong sự tiếc nuối của nhiều người.
 
Té ra, có đến hai Phương Thúy lận. Tuy cả hai đều là cành vàng lá ngọc nhưng dường như cái cô “đã trải qua một cuộc đời dạy học khá êm đềm” mới chính là người mậ̃u cho bức danh họa “đã được công nhận là bảo vật quốc gia.” Còn cô “ái nữ của nhà phê bình văn học Hoài Chân” thì chả được cái vinh dự đó đâu, và cuộc sống cũng không “êm đềm” gì mấy.

Tuy thế, tình duyên của bà với nhà thơ Tuân Nguyễn cũng đã để lại cho đời một “bảo vật” vô giá khác – một thiên tình sử. Mối duyên tình đằm thắm, thuần khiết, chân thật, sâu đậm, cao đẹp, và thánh thiện của họ (giữa cái xã hội mà nhân phẩm rẻ hơn thực phẩm) đã khiến cho lắm kẻ phải kinh ngạc và nhiều người ngưỡng mộ.

Nhà thơ Ngô Minh thuật chuyện:

Chị Thuý làm thơ, dạy đàn tam thập lục ở Nhạc Viện Hà Nội. Chồng trước của chị là một tiến sĩ vật lý danh tiếng, nhưng chị đã ly dị để đi theo tiếng gọi của trái tim, lấy anh chàng Tuân Nguyễn vừa được tha tù sau 10 năm, dù bị gia đình phản đối quyết liệt… Lấy nhau rồi mà phải ở nhờ nhà những người em, người bạn. Hơn tháng sau, chị Thuý đem tất cả số tiền dành dụm được, rồi bạn hữu góp thêm, mua một gian buồng 6 mét vuông gần Ga Hàng Cỏ.    
Tôi cũng đã từng biết cảnh sống (gần) tương tự của một đôi nghệ sỹ khác, Lưu Quang Vũ & Xuân Quỳnh, qua những câu thơ của họ:

Nhà chỉ mấy thước vuông, sách vở xếp cạnh nồi
Nếu nằm mơ, em quờ tay là chạm vào thùng gạo…
Khi buồn bã em không thể quay mặt đi nơi khác
Anh không giấu em một nghĩ lo nào được
Ta chỉ có mấy thước vuông để cùng khổ cùng vui.   

Nói là “gần tương tự” thôi vì Minh Thúy không hề có phút giây nào cả buồn bã nên chả cần phải quay mặt đi đâu hết. Tuân Nguyễn cũng thế, cũng không lo âu gì sất. Cả hai lúc nào cũng vui (như Tết) nên “mấy thước vuông” cũng chả khiến họ phải bận lòng. 

TUong nang tien b
Tác giả Sao Chi kể lại:
Mặc dù hai vợ chồng phải đi bắt cóc, đi hót phân người, hót rác… bán lấy tiền trang trải qua ngày nhưng đôi vợ chồng thi sĩ ấy không hề mặc cảm hay than vãn gì cả… Cuộc sống của đôi vợ chồng ấy dù có vất vả nhưng vô cùng hạnh phúc.
Mặc dù trong suốt 10 năm sống chung, ông bà không sinh được một người con nào nhưng không bao giờ ông bà than vãn hay nhắc tới chuyện con cái. Bởi vì với họ được sống, được ăn một mâm, ngủ một giường, được làm thơ tặng nhau đã là hạnh phúc.

‘Cuộc sống của chúng tôi chỉ có những tiếng cười, có thơ. Chúng tôi có thể nói chuyện cả đêm, hết chuyện này đến chuyện khác. Chúng tôi có thể ngẫu hứng xướng thơ đọc cho nhau nghe suốt đêm mà không biết chán,’ thi sĩ Phương Thúy nhớ lại.    
  
Bộ thiệt vậy sao Trời?  

Tôi cũng đa cảm và lãng mạn (tới bến luôn) nên cũng đã có lúc mộng mơ chuyện “xây nhà bên suối” giống y như nhạc sỹ Văn Cao vậy đó:  

Suối mơ bên rừng thu vắng
Dòng nước trôi lững lờ ngoài nắng …    
Từng hẹn mùa xưa cùng xây nhà bên suối
Nghe suối róc rách trôi hoa lừng hương gió ngát
Đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi …    

Thẩn thơ “bên rừng thu vắng,” nhìn “dòng nước trôi lững lờ ngoài nắng” hay  …     “đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi” thì thú vị thật và thi vị lắm. Tuy thế, ở một nơi không đèn điện/không nước nóng/không lò sưởi/ không bếp ga/ không restroom, không wifi (và cũng chả có rượu bia cùng cà phê thuốc lá gì ráo trọi) thì chắc chắn là không có tui đâu – dù được sống ngay cạnh Suối Mơ, và kề cận với một Marilyn Monroe bốc lửa hay một Nghi Lâm thanh tú (hoặc cả hai) cũng … nhất định không.

Tui lãng mạn thiệt (và lãng mạn lắm) nhưng không lãng mạn dữ vậy đâu! Sống mình ên cũng đã khó lắm rồi (tui cãi lộn với chính mình hàng đêm mà) sống chung thì còn khó gấp hai, với bất cứ ai, nhất là một người khác phái!      
  
Nói chi đến chuyện ban ngày quần quật hót rác, hót phân, đổ thùng rồi tối về (một căn phòng 6 mét vuông) còn nằm “đọc thơ cho nhau nghe” thì ai mà chịu đời cho thấu. Vậy mà Minh Thúy với Tuân Nguyễn vẫn sống hạnh phúc bên nhau hết năm này, sang năm khác.   

Bần hàn, lam lũ, cơ cực, chật vật … tới cỡ nào cũng chịu. Hai người chỉ cần “được ăn một mâm, ngủ một giường, được làm thơ tặng nhau” là đủ vui rồi. Tuy niềm vui của họ chỉ đơn sơ và giản dị thế thôi nhưng rồi cũng … mất.

Đấy là buổi sáng định mệnh. Tuân Nguyễn trên đường đi lấy báo về để Phương Thúy bán, để rồi anh sẽ  bình tâm ngồi dịch sách, ấy mà chiếc xe tải đã cướp đi sinh mạng anh. Phương Thúy như thành người điên dại…  

Nhiều ngày, chị lặng lẽ xách làn hoa quả đạp xe về nghĩa địa ngoài Thủ Đức thăm mộ Tuân Nguyễn. Có lần, chị tha thẩn cả ngày quanh mộ chồng, như đối thoại cùng  vong linh người chồng, đối thoại cùng thân phận xấu số của chính mình. Những câu thơ bất thần trở lại, an ủi vỗ về chị. Những câu thơ đầy nỗi cô đơn:   

Không anh đường bỗng dài ra
Khởi đầu là chỗ chúng ta quay nhìn
Càng đi càng thấy khó tin
Rằng nơi sắp tới có mình em thôi!      
… 
Chiều mưa trở lạnh, tôi về trại an dưỡng Phật Tích (Từ Sơn, Bắc Ninh) tìm thăm chị. Được tin chị vào sống nhờ trại an dưỡng, tôi muốn sớm đến thăm. Trên đường đi, tôi cứ băn khoăn tự hỏi, sao số phận đưa đẩy chị đến nước này? Một người phụ nữ, sinh ra trong gia đình trí thức, có thể nói  là “danh gia vọng tộc”, ấy mà cuối đời phải vào sống ở “trại tế bần”, vậy có phải là số phận? (Vũ Từ Trang. “Phương Thúy - Qua Mấy Bận Đò Vẫn Cô Đơn Nơi Bến Vắng”).

Cũng như bao nhiêu người khác, khi đời đã về chiều thì tôi cũng buộc phải tin vào số phận hay định mệnh. Tôi còn tin rằng nay mai nước Việt sẽ có một ngày Lễ Hội Tình Yêu (riêng biệt) cùng với một con tem kỷ niệm, phát hành đúng vào hôm mà Phương Thúy & Tuân Nguyễn quyết định sống chung nhà – dù không gian của họ vỏn vẹn chỉ có 6 mét vuông thôi.

TNT
(*) Chúng tôi cũng có vài trang sổ tay viết riêng về nhà thơ Tuân Nguyễn, xuất bản hơn 10 năm trước, trên diễn đàn này: tuongnangtien.wordpress.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.