Hôm nay,  

Nguyễn Bắc Sơn Một Nẻo Đời Khác

28/07/202300:00:00(Xem: 4909)
 
Nguyễn Bắc Sơn
Nguyễn Bắc Sơn
 
Đôi dòng tiểu sử:

Nguyễn Bắc Sơn, tên khai sinh Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1944 tại Phan Thiết, Bình Thuận.

Theo lời những người gần gũi với Sơn, anh bị khủng hoảng tinh thần rất sớm, Năm 15 tuổi, đã đến nghĩa địa, cắt gân tay nằm chờ chết. Có người tìm thấy, cứu cậu bé thoát chết. Sau này nhảy lầu tự tử “nhiều lần”, nhưng không chết.

Thân phụ Nguyễn Bắc Sơn là cán bộ miền Nam ra Bắc tập kết năm 1954, sau 30/4/1975 về đoàn tụ gia đình, cấp bậc Đại tá Quân đội nhân dân. Nguyễn Bắc Sơn là lính Việt Nam Cộng Hoà, nhập ngũ năm 1962. Trong quân ngũ, có thời gian làm thông ngôn cho cố vấn Mỹ.

Vắng mặt trên trái đất tháng 8 năm 2015, tại quê nhà.
 
1
Kể lạ, ở “nước non mình”, bút hiệu của các nhà sáng tác qua nhiều lãnh vực văn chương, thi ca, âm nhạc, hội họa, nghiên cứu phê bình, truyền hình, báo chí, diễn viên, có bút hiệu/danh, là Sơn [không kể Sơn ở đầu như Sơn Nam, Sơn Tùng, Sơn Vương…] là đông vô số kể. Thiếu Sơn, Triều Sơn, Trúc Sơn, Phạm văn Sơn, Trịnh Công Sơn, Mai Sơn, Phong Sơn, Vân Sơn, Trần văn Sơn, Linh Sơn, Trần Áng Sơn, Từ Sơn, Vinh Sơn, Tiến Sơn, Cao Sơn, Ngô văn Sơn, Lê Thái Sơn, Nguyễn Lê La Sơn, Lê Tây Sơn. Chu Sơn, Tùng Sơn, Hoài Sơn, Đào Bá Sơn…Trong đó hai ông Sơn thi sĩ là….đáng yêu nhất. Nguyễn Đức Sơn và Nguyễn Bắc Sơn. Đáng yêu, vì hai ông này đều có tài, đều có cái lạ trong thơ, lẫn ngất ngư, ngất ngưỡng, ngất ngây trong đời sống. 

Nguyễn Đức Sơn, thuở kia ở đồng bằng phố thị - Bình Dương, Sàigòn. Sau tháng Tư 1975 ông đưa vợ con lên lập Phương Bối am, vùng rừng núi Lâm Đồng, nên có Biệt hiệu Sơn Núi. Sống đời hoang dã, cách biệt với thế gian.

Nguyễn Bắc Sơn ở Phan Thiết, hiền hòa, lãng du, Nhưng lúc 15 tuổi Sơn đã biết cắt gân tay, nhảy lầu tự diệt. 

Lưỡng Sơn này mần thơ rất dễ dàng như lỗ mũi hít vào thở ra, dung dị như thiếu nữ làng quê đi chân đất, hoa rừng tự nhiên, nắng và gió không hề kiểu cách.

Sơn Núi, Kỳ sĩ Phương Bối am, lồng lộng một nỗi đời:
Một mai cha chết đừng chôn
Ngại chưa xuất kịp chút hồn thiết tha
Cái gì cha nói chưa ra
Biết đâu còn sót trong da máu này
.
Sơn Trung du, một anh lính Cộng Hòa, thời Năm-Bắc phân tranh:
Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui.
 
2
Bài viết này từ đây trở đi, chỉ nói về Sơn Trung du. Thử đọc vài ý nghĩ sơ khởi của Sơn:
Đôi lúc nghĩ trời sinh mỗi mình ta là đủ
Vì đám đông quậy bẩn nước hồ đời
Nhưng lại nghĩ trời sinh thêm bè bạn
Để choàng vai ấm áp cuộc rong chơi

…Dù mỗi ngày ta xé đi năm mươi tờ lịch
Nhưng thời gian đâu có chịu trôi nhanh
Dù đen bạc là nơi cố xứ
Nhưng đi biền biệt cũng không đành
[Mai sau dù có bao giờ].
 
Có một thời, miệt Phan Rang Phan Thiết, nơi có Bà Mẹ đẻ ra Người con Thi sĩ, với tôi là trời hoang đường. Từ thuở lên 10, tôi ở Xứ Quảng Nam, dân cả nước chỉ “25 triệu đồng bào”, làng xóm chen lấn với rừng là rừng bao quanh. Bà con truyền tụng, “Cọp Khánh Hòa ma Bình Thuận”. Những làng xóm người Chàm cô quạnh, những dãi cát mênh mông. Những hồn đi trong nắng. Phan Rang, Phan Rí Lầu…

Quê tôi đi đâu cũng gặp tháp Chàm. Vào hướng nam bốn cây số đã thấy tháp Bà Rầu Con Nghê, tháp Khương Mỹ trên cánh đồng lạnh, con dơi bay, tiếng chim hoang đỉnh tháp, chiều chết trong nắng vàng. Đi ra phía Bắc một buổi đường đã gặp quần thể Tháp Đồng Dương, kinh đô của người Chàm. Lịch sử đã chết. Thời gian nơi này không đi thêm bước nào. Xa hơn vế phương Bắc vùng Mỹ Sơn, hàng chục ngôi tháp lẫn quất trong rừng, sau này là Di sản thế giới. Tôi sống ở một khu chợ quê. Mỗi đầu tháng Giêng, thấy từng đoàn người Chăm “về” tới. Người quê tôi, gọi là “Họ về”, không phải “tới”. Xưa kia đất này là quê hương của họ, tổ tiên còn sâu đậm dấu tích, di chỉ trên vùng Đất Quảng này.

Mỗi lần đọc thơ Sơn, một nhà thơ rất cách biệt thế giới Chàm, nhưng tôi bị huyễn hoặc bởi “Đoàn người du Xuân ấy”. Y phục nhiều sắc màu đẹp đẽ. Bọn nhỏ chúng tôi chạy lon ton theo xem. Họ đi thẳng người, thong dong hai tay buông thòng, khi đang đội trên đầu một cái giỏ bự, trong đó đủ thứ hàng hóa. Họ bày bán những loại thuốc nam, bùa ngãi, sừng nai hưu, nanh voi, mật gấu. Buổi tối quần tụ trong lồng chợ người Việt, người Chàm – Chăm, thức thâu đêm, âm thầm trò chuyện, những tình nước tình đời. Tôi mê nhất là bên ánh lửa khuya, với cây đàn ghita và tiếng hát. Lời Chăm. Giọng buồn. Một kể lễ. Những lời bọn nhỏ chúng tôi chẳng hiểu gì, nhưng chẳng rời xa họ được.

Cha tôi bảo, trong xa hút về xưa, quân nước Việt vào Đất Quảng Nam, từng sống chung với người Chăm bản xứ, hòa trộn trên một trăm năm người Chăm cuối cùng mới biến hẳn đi. Sự giao hòa ấy, có khi một đàn con có cha Việt mẹ Chăm ra đời. Chúng tôi có một họ ngoại dân tộc Chăm. Tình ấy huyền hoặc. Một thiêng liêng rung chuyển tận máu me.  

Đi ra từ những ấn tượng mờ hoang ấy, sau này mỗi lần gặp một người trong phương nam, lòng tôi rờn rợn, như thấy bóng mà không gặp người. Thật ra họ rất thân thiết hiền từ, những người bạn quý như Nhật Trường, Từ Công Phụng, Trần Thiện Hiệp, Nguyễn Bắc Sơn …

Y Uyên, người sĩ quan trẻ, một nhà văn tài năng, tử trận đồn Nora. Y Uyên lại dẫn tôi tới Phan Thiết xa xăm, những địa danh rất đổi mơ màng. Phù My , động Thái An, Hòn Hồng, Hòn Rơm , bầu Ông, bầu Bà, Ma Lâm, Phan Rí Chàm, Tà Dôn, Suối Hồng.

Cõi hoang huyền ấy giúp gì cho hồn thơ của Sơn?

Tôi đọc thơ Sơn, qua một mối giao cảm khá lạ lùng. Một cõi hoang mạc lại rực rỡ màu sắc tuyệt cùng. 
Tướng giỏi cầm quân trăm trận thắng
Còn ngại hành quân động Thái An
Cát lún bãi mìn rừng lưới nhện
Mùa khô thiếu nước lính hoang mang

Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắt-cù
Chợt thấy trong lòng mình bát ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu

Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui

Ngày vui đời lính vô cùng ngắn
Mặt trời thoáng đã ở phương Tây
Nếu ta lỡ chết vì say rượu
Linh hồn chắc sẽ thành mây bay

Linh hồn ta sẽ thành đom đóm
Vơ vẩn trong rừng động Thái An
Miền Bắc sương mù giăng bốn quận
Che mưa giùm những đám xương tàn.

[Mật khu Lê Hồng Phong]

Đọc thơ Nguyễn Bắc Sơn, trong tôi, có tiếng vang dội lại từ những khoảng trống, nơi chiến chinh bày ra cho những giấc mơ lẻ loi:
 
Lòng suối cạn phơi một bầy đá cuội
Rừng giáp rừng gió thổi cỏ lông măng
Đoàn quân anh đi những bóng cọp vằn
Gân mắt đỏ lạnh như tiền sắc mặt

Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất
Dừng chân nơi đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy tựa gốc cây hãy ngắm mây trời...
Hãy tưởng tượng mình đang đi picnic

Kẻ thù ta ơi các ngài du kích
Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo
Hãy tránh xa ra ta xin tí điều
Lúc này đây ta không thèm đánh giặc

Thèm uống chai bia thèm châm điếu thuốc
Thèm ngọt ngào giọng hát em chim xanh
Kẻ thù ta ơi những đứa xâm mình
Ăn muối đá mà điên say chiến đấu

Ta vốn hiền khô ta là lính cậu
Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước

Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm chi cho lao tâm khổ trí

Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau
Mượn trời đất làm nơi đốt hoả châu
Những cột khói giả rừng thiêng uốn khúc
Mang bom đạn chơi trò chơi pháo tết
Và máu xương làm phân bón rừng hoang
[Chiến tranh Việt Nam và tôi]

Nguyễn Bắc Sơn, một đơn vị người tuồng là vô nhiễm, giữa một môi trường ô uế lý tưởng, ồn ào đạn bom, huyên náo chợ đời.

Có thật, “Lũ chúng ta sống một đời vô vị / Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau”, Phải chăng, “Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước / Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi” Ai đã đặt khối chất nổ nơi nhà hàng, rạp chiếu bóng, đêm khiêu vũ? một con mắt người ướt máu dán trên vách tường ám khói? một cẳng chân của một ai, lủng lẳng treo trên trần nhà, quán rượu?

Nguyễn Bắc Sơn nói thật lòng cuộc đùa chơi. Chỉ là bồng bồng phi lý. Lửa khói, điêu linh, đã trú ẩn trong cái thế giới vừa đùa vừa đau ấy. Ngôn ngữ ấy chính là trò ảo dụ của Nhà ảo thuật.

*
Nguyễn Bắc Sơn là nhà thơ gây ấn tượng nhanh, và lan rộng đối với giới yêu thơ tại Miền Nam, trước 1975. Điểm đặc biệt là ông không, hoặc rất ít khi dùng từ Hán-Việt, mà thông thường văn thơ có loại từ ngữ này nhiều được gọi là “hàn lâm”. Trong thơ Sơn rặt từ thuần nôm, dân dã, văn là văn nói thông thường, chỗ đường sá, chợ búa. Nhưng, khi mớ ngôn ngữ này nằm trong thơ Nguyễn Bắc Sơn, chúng nó như được thoát xác, bỗng dưng bay bổng, thanh thoát, khoát chiếc áo thi ca; đích thực là hư ảo, đa tầng ngữ nghĩa.

Trong cõi thơ viết về chiến tranh trước 1945, hiếm có ai viết tài tình, sâu sắc và khiến người đọc giật mình, về chỗ nghênh ngang bất cần, khinh bạc, mà trầm thống nỗi đời, mà lạnh cơn u hàn những hoang mạc phận người.

Bất cứ một thể tài nào, cả chuyện vặt, qua Sơn, đã hiện ra thơ. Sớm mai vợ cho tiền đi hớt tóc, sa đà vào những câu chuyện thời cuộc vớ vẩn, vài bàn cờ tướng, thua độ, hết ngày, tóc  mái đầu còn nguyên. Mà thơ hay, cực hay.

Trích vài đoạn:
 
Buổi sáng mang tiền đi hớt tóc
Vô tình ngang một quán cà-phê
Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn
Mải mê tán dóc chẳng cho về.

Về đâu, đâu cũng là đâu đó
Đâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ
Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ
Ba nghìn thế giới cũng chưa to.

[…] Tháng giêng có kẻ đi tìm cúc
Nhưng cõi đời không có Cúc Hoa
Thấy đám phù bình trên mặt nước
Biết mình đi lộn nẻo bao la.

[…] Dường như đứa trẻ nghìn năm trước
Bây giờ đây vẫn trẻ trong ta
Khi về râu tóc còn nguyên vẹn
Một ngày loáng thoáng một ngày qua.
[Một ngày nhàn rỗi]
Hãy đọc thêm, Nguyễn Bắc Sơn chuẩn bị “vũ khí” trước lúc ra trận:
Khi tao đi lấy khẩu phần
Mày đi mua rượu đế Nùng cho tao
Chúng mình nhậu để trừ hao
Bảy ngày sắp đến nghêu ngao trong rừng
 
Mùa này gió núi mưa bưng
Trong lòng thiếu rượu anh hùng nhát gan
Mùa này gió bãi mưa ngàn
Trong lòng thiếu rượu hoang mang nhớ nhà
 
Những thằng lính trẻ hào hoa
Lưu đày trong cõi rừng già núi xanh
Lao mình vào cuộc phân tranh
Tiếc thương xương máu sinh thành được ư
 
Đời vội quá. Hãy nhàn nhã một đôi khi.
 
Garden Brook Senior Village
Orange County, 2023

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh Cao Huy Thuần vừa qua đời lúc 23giờ 26 ngày 7-7-1924 tại Paris. Được tin anh qua đời tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những kỷ niệm cùng anh suốt gần 60 năm, từ Việt Nam đến Paris. Anh sinh tại Huế, học Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1955-1960) và dạy đại học Huế (1962-1964). Năm 1964 anh sang Pháp du học. Năm 1969 anh bảo vệ Luận án Tiến sĩ Quốc Gia tại Đại Học Paris, và giảng dạy tại Viện Đại Học Picardie cho đến khi về hưu.
Khi lần đầu tiên gặp một họa sĩ, tôi thường có khuynh hướng tìm vài nét tương đồng để liên tưởng đến một họa sĩ nổi tiếng nào đó thuộc những thế hệ trước. Với Nguyễn Trọng Khôi, tôi cũng làm như vậy nhưng trừ vài nét chung chung như được đào tạo ở trường ốc hay năng khiếu, tôi không tìm được gì đậc biệt. Nguyễn Trọng Khôi (NTK) không giống một họa sĩ nào khác.
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.