Hôm nay,  

Nụ Hôn Đầu Tiên Của Nhân Loại: Xảy Ra Sớm Hơn Chúng Ta Nghĩ

02/06/202300:00:00(Xem: 1292)
 
The Kiss by Gustav Klimt
Con người có thể đã biết hôn từ những ngày đầu của nhân loại. Hình: The Kiss – by Gustav Klimt.
 

“Môi trên của tôi dần ướt át, môi dưới thì run rẩy! Tôi sẽ ôm lấy chàng, sẽ hôn chàng.”
– một phiến khắc có niên đại từ 1900-1595 TCN ở Sippar, Mesopotamia (Lưỡng Hà); bản dịch là của Nathan Wasserman, Akkadian Love Literature of the Third and Second Millennium B.C.E.
 
Những dòng chữ cổ (chữ hình nêm) này được khắc trên một phiến đất sét khoảng 4,000 năm tuổi, là một trong những mô tả đầu tiên về nụ hôn lãng mạn. Tuy nhiên, những gợi ý từ khảo cổ học và DNA cho thấy con người đã hôn nhau từ rất lâu, trước cả khi họ có khả năng ghi lại việc đó bằng văn bản. Hành động yêu thương này thậm chí có thể đã tồn tại ngay từ những ngày đầu xuất hiện giống loài của chúng ta.
 
Thật không may, khi nụ hôn được phổ biến thì lại gây ra một hiệu ứng phụ – sự lây lan của bệnh tật. Giờ đây, các khoa học gia nghiên cứu sự tiến hóa của các mầm bệnh dai dẳng đang đào sâu vào lịch sử của nụ hôn, và cố gắng khám phá vai trò lâu đời của nụ hôn trong quá trình lây bệnh.
 
Troels Pank Arbøll, một chuyên gia về chữ hình nêm tại Trường Copenhagen, người chuyên nghiên cứu về lịch sử y học, là đồng tác giả của một quan điểm được đăng trên tạp chí Science vào Thứ Năm tuần qua đã nói về lịch sử cổ xưa của nụ hôn và vai trò của nó trong việc truyền bệnh.
 
Arbøll và Sophie Lund Rasmussen đã nghiền ngẫm các mẫu vật có chữ cổ đại tìm được từ Mesopotamia, chú trọng vào những tài liệu tham khảo bị bỏ sót về nụ hôn và các mô tả bệnh tật. Nghiên cứu đã đẩy lùi niên đại thường được trích dẫn là bằng chứng bằng văn bản lâu đời nhất về nụ hôn, một thủ bản 3,500 năm tuổi từ thời kỳ đồ đồng ở Ấn Độ. Các tác giả mô tả những tấm bia thời Lưỡng Hà còn lâu đời hơn tới 1,000 năm, là bằng chứng từ nghệ thuật cổ đại và DNA. Tuy nhiên, Arbøll nhấn mạnh rằng không nên coi những bản viết 4,500 năm tuổi này là cái nôi ban đầu của nụ hôn.
 
Đó là bởi vì một nụ hôn chỉ thoáng qua và không để lại nhiều điều để các khoa học gia có thể khám phá. Arbøll giải thích: “Nguồn gốc của nụ hôn lãng mạn chắc chắn có từ thời tiền sử và lâu đời hơn những gì chúng ta có thể phát hiện bằng các phương pháp hiện tại.”
 
Hôn nhau có thể thể hiện phong cách riêng, nhưng các nhà nghiên cứu phân loại thành hai kiểu hôn chính. Đầu tiên là những nụ hôn từ những thành viên gia đình hoặc bạn bè, dường như khá phổ biến trong các xã hội trên toàn thế giới. Còn kiểu thứ hai là nụ hôn môi kéo dài hơn, nụ hôn của các cặp tình nhân. Và đây mới là trọng tâm của nghiên cứu này.
 
Tại sao mọi người khóa môi và trao đổi nước bọt với nhau? Sự quyến rũ của nụ hôn vẫn đang là một chủ đề của các nghiên cứu về tâm lý và sinh lý. Một số cho rằng hôn giúp con người đánh giá tình cảm khả thể. Thí dụ, khi hôn nhau, người ta có thể ngửi thấy hơi thở của đối phương có mùi khó chịu. Mùi hơi thở khó chịu cũng có thể cảnh báo một số phần trong não về một số loại bệnh tật hoặc các dấu hiệu khác cho thấy ta không khỏe mạnh. Và nước bọt được truyền từ người này sang người khác có chứa hormone và các hợp chất khác, có thể cung cấp manh mối cho não để xác định người mà ta đang hôn có thực sự là một nửa của ta hay không.
 
Một số nghiên cứu cho thấy hôn cũng giúp xây dựng sự gắn kết giữa các cặp đôi và các cặp vợ chồng hạnh phúc thường hôn nhau nhiều hơn, dù các chuyên gia chưa thể giải thích chính xác cách thức hoạt động của nó. Một lý do đơn giản có thể là hôn khiến ta cảm thấy dễ chịu; khi hôn, phần môi và lưỡi nhạy cảm của chúng ta sẽ kích hoạt các vùng não liên quan đến việc tăng khoái cảm và giảm căng thẳng.
 
Các loài vượn cũng có hôn nhau. Ở loại tinh tinh lùn, hôn miệng được coi như một phần của hành vi tình dục. Tinh tinh sử dụng những nụ hôn má (platonic kiss) như một phần trong các tương tác xã hội trong bầy, đàn. Có thể những nụ hôn cũng đã đóng những vai trò tương tự trong thời kỳ đầu của Homo sapiens. Nói như vậy nghĩa là khuynh hướng hôn của chúng ta có thể có lịch sử lâu đời ngang ngửa với chính giống loài của chúng ta? Thực sự thì các khoa học gia chưa thể xác định được vấn đề này.
 
Trong DNA của chúng ta, có thể tìm thấy bằng chứng rõ ràng rằng loài người từng có quan hệ tình dục với người Neanderthal. Nhưng họ có hôn nhau không? Khi nghiên cứu mảng bám trên răng của người Neanderthal, các khoa học gia đã phát hiện ra dấu hiệu di truyền của một vi sinh vật 48,000 năm tuổi, vốn vẫn được tìm thấy trong miệng con người ngày nay, và khác với những vi sinh vật trên người Neanderthal thời đại đó. Sao có thể? Một khả năng chắc chắn là hôn, mặc dù đó không phải là khả năng duy nhất, bởi vì hai loài cũng có thể đã ăn uống chung.
 
Các gợi ý cũng tồn tại từ nghệ thuật và khảo cổ học. Các nhân vật ôm nhau trong tác phẩm điêu khắc Ain Sakhri 11,000 năm tuổi, tác phẩm lâu đời nhất mô tả về quan hệ tình dục, cũng có thể chứa trong đó một nụ hôn say đắm. Bởi vì mẫu vật thiếu các đặc điểm trên khuôn mặt nên việc diễn giải là tùy cảm nhận mỗi người.
 
Chữ viết cổ xuất hiện vào khoảng năm 3200 TCN và trong vài trăm năm, nó dường như chỉ giới hạn trong các văn bản hành chính. Sau một thời gian, rồi cũng phải tới lúc, các chủ đề về các mối quan hệ yêu đương đã được đưa vào ghi chép của người Lưỡng Hà, và cùng với đó là những tài liệu đầu tiên về nụ hôn cách đây khoảng 4,500 năm.
 
Arbøll nói: “Những trường hợp thực tế đầu tiên có vẻ như là những câu chuyện thần thoại. Nhưng rõ ràng thế giới thần thánh cũng là một dạng phản ánh những gì diễn ra giữa con người với nhau. Tuy nhiên, trong những câu chuyện thần thoại thì nụ hôn có vẻ liên quan đến ái tình, tình dục. Cho nên, thật thú vị khi họ hình dung các vị thần của mình theo cách đó.”
 
Trong các văn bản khác của người Lưỡng Hà, các thí dụ về nụ hôn cho thấy đó là một phần phổ biến trong quan hệ lãng mạn giữa các cặp vợ chồng – và là một ham muốn nguy hiểm của những người chưa kết hôn.
 
Trong một tài liệu pháp lý cổ từ thành phố Larsa của Lưỡng Hà khoảng năm 1900-1595 TCN, được dịch bởi Marten Stol từ Women in the Ancient Near East, một phụ nữ tên là Shat-Marduk đã thề sẽ cắt đứt liên lạc với tình nhân bất chính của mình: “Chàng sẽ không quay lại [với tôi], và chàng sẽ không mời gọi tôi ‘chuyện nam nữ.’ Chàng sẽ không hôn môi tôi, và tôi sẽ không cho phép chàng làm ‘chuyện nam nữ’ với mình. Nếu chàng mời gọi tôi sà vào lòng chàng, thì tôi nhất định sẽ báo với các bô lão và trưởng làng.”
 
Và Lưỡng Hà không phải là nơi duy nhất người ta biết ‘khóa môi’ ở thời cổ đại. Arbøll lưu ý rằng các thí dụ từ Ấn Độ và Ai Cập cho thấy một khu vực rộng lớn mà nụ hôn ái tình đã tồn tại từ thời cổ đại.
 
Charlotte Houldcroft, nhà sinh học phân tử tại Trường Cambridge, cho biết: “Bài viết này bổ sung kiến thức lịch sử của chúng ta về các hành vi thân mật của con người như hôn nhau, và mang đến cái nhìn sâu sắc hấp dẫn về cuộc sống cá nhân của người Lưỡng Hà cổ đại từ những ghi chép rất lâu đời.”
 
Mặc dù có lịch sử lâu đời, nhưng ngày nay nụ hôn không còn nhan nhản khắp nơi nữa. Một nghiên cứu năm 2015 về 168 nền văn hóa trên toàn cầu cho thấy nụ hôn lãng mạn chỉ phổ biến ở khoảng một nửa các nhóm đó. Và khi hôn hít trở nên phổ biến, một số phải trả giá cho trải nghiệm này.
 
Các loại bệnh bao gồm vi rút herpes simplex 1 (HSV-1), vi rút Epstein-Barr, vi rút parv ở người và cảm lạnh thông thường có thể lây lan qua nước bọt, vì vậy hôn hít có thể làm lây lan các bệnh này trong toàn bộ quần thể. Một nghiên cứu cho rằng hàng chục triệu, thậm chí 1 tỷ vi khuẩn có thể được trao đổi khi người ta hôn sâu.
 
Theo các ghi nhận, thì người Lưỡng Hà không tin rằng nụ hôn đóng vai trò lây lan bệnh truyền nhiễm. Nhưng rất có thể nó đã xảy ra. Thật khó để chẩn đoán bệnh chỉ dựa trên các mô tả cổ xưa từ văn bản chữ hình nêm. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu lưu ý rằng bệnh răng miệng của người Lưỡng Hà, được gọi là bu'sanu, có thể là bị mụn rộp ở miệng. Ít ra thì cũng có một số nhân vật trong thế giới cổ đại có vẻ đã nghi ngờ rằng hôn nhau có ảnh hưởng đến sức khỏe. Ở Rome, Hoàng đế Tiberius đã cố gắng cấm hôn trong một số trường hợp, có thể vì nó được cho là làm lây lan bệnh lở miệng. (Những nỗ lực này đã không thành công.)
 
Năm ngoái, Houldcroft và các đồng nghiệp đã sử dụng DNA cổ đại để giải trình tự bộ gen của virus herpes và lập biểu đồ tiến hóa của nó. Họ cho rằng chủng HSV-1 hiện đang chiếm ưu thế, đã ra đời cách đây 5,000 năm, trong thời kỳ di cư từ Âu-Á đến Châu Âu trong thời đại đồ đồng, và được thúc đẩy bởi sự gia tăng nhanh chóng của một tập tục văn hóa mới lan truyền giữa các quần thể hỗn hợp: hôn sâu.
 
Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) ước tính rằng hai phần ba dân số thế giới dưới 50 tuổi, khoảng 3.7 tỷ người, bị nhiễm HSV-1.
 
Theo Arbøll và Rasmussen, vì hài cốt của người cổ đại cũng mang lại bộ gen của nhiều mầm bệnh lây truyền qua nước bọt, nên có thể nói các bệnh lây truyền qua nụ hôn đã xuất hiện từ thời tiền sử. Nhưng bằng chứng về sự phổ biến lâu dài của nụ hôn khiến giả thuyết cho rằng chủng HSV-1 phát sinh từ một phong trào hôn môi, truyền từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác, ít có khả năng xảy ra hơn.
 
Với sự pha trộn văn hóa đã biết giữa các khu vực của thế giới cổ đại, được chứng minh bằng sự trao đổi đồ vật, công cụ và gen, Arbøll cảm thấy rằng nụ hôn được nhiều người biết đến, nếu không muốn nói là được chấp nhận rộng rãi. Nhưng ông cũng nói thêm rằng: “Có một số người không chấp nhận chuyện hôn, có thể do họ cảm thấy nó kỳ kỳ sao đó, và họ vẫn sẽ không chấp nhận nó chỉ vì một số di dân đến ở và nói, ‘Này, hôn nhau tuyệt lắm đấy!’”
 
Cung Đô biên dịch theo bài viết “Humanity’s First Recorded Kiss Was Earlier Than We Thought” của Brian Handwerk, được đăng trên trang Smithsonianmag. 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hình ảnh của súng trường bán tự động AR-15 xuất hiện khắp nơi trong đời sống công cộng của nước Mỹ: các nghị sĩ Cộng hòa đeo những chiếc huy hiệu hình AR-15. Cờ Liên minh bay với hình bóng của một khẩu AR-15 và dòng chữ "come and take it" bên ngoài Điện Capitol trong cuộc bạo loạn ngày 6 tháng 1. Chúng cũng được sử dụng để kêu gọi các biện pháp an toàn súng nghiêm ngặt hơn.Vào thứ Bảy vừa qua, khẩu AR-15 xuất hiện trên chính trường Mỹ theo một cách khác – là vũ khí được sử dụng trong vụ ám sát cựu tổng thống Donald Trump.
Campuchia có kế hoạch xây dựng kênh đào Funan Techo Canal (FTC) dài 180 km (110 dặm) từ thủ đô đến bờ biển trên Vịnh Thái Lan, một dự án trị giá 1,7 tỷ USD nhằm giảm sự phụ thuộc vào việc vận chuyển hàng hóa qua các cảng ở Việt Nam. Nhưng bài phân tích này kết luận rằng kế hoạch FTC không khả thi về mặt tài chính, sẽ có tác động môi trường nghiêm trọng và sẽ làm tình trạng khan hiếm nước ở hai nước hạ lưu thêm khắc nghiệt khi mực nước sông Mekong đã hạ xuống cực kỳ thấp dưới kỷ lục thấp nhiều năm liền rồi. Lập luận của chính phủ Campuchia rằng kênh đào sẽ làm cho vận tải hàng hóa rẻ hơn là điều không thế có, tính toán sơ bộ của tác giả cho thấy cước phí vận chuyển hàng hóa qua kênh này sẽ cao hơn so với qua các cảng ở Việt Nam để đến các nước có Mậu dịch nhiều nhất với Campuchia.
Vào ngày 4 tháng 2 năm 2022, ngay trước khi xâm chiếm Ukraine, Tổng thống Nga Vladimir Putin tới Bắc Kinh, nơi ông và nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình đã ký một văn bản ca ngợi mối quan hệ đối tác “không giới hạn”. Hơn hai năm kể từ ngày đó, Trung Quốc đã từ chối lên án cuộc xâm lược và giúp Nga nhận được trang thiết bị, từ các động cơ máy cho đến máy bay không người lái, những thứ rất quan trọng cho nỗ lực chiến tranh.
Khi đọc truyện cổ thế giới, chúng ta thường gặp một số cổ tích, trong đó chim quạ cũng biết nói, cũng giao tiếp với người. Những chuyện như thế rất là bình thường trong quan điểm Phật giáo, đặc biệt là trong các truyện Bản sinh (Jātaka) ghi lại các kiếp tiền thân của Đức Phật. Tất cả chúng sanh được tin là những vị Phật và Bồ-tát sẽ thành. Nơi đó, chữ “chúng sinh” có nghĩa là người và thú, là chim, khỉ, ngựa, cá, voi, cọp… Quan niệm đó cũng là cội nguồn của hạnh ăn chay, tránh ăn thịt. Thực tế, Đức Phật cho ăn thịt với điều kiện là Tam tịnh nhục: Kinh Jivaka Sutta ghi rằng, “Thịt có ba trường hợp không nên dùng, khi nhìn thấy, nghe thấy hoặc khi nghi ngờ (có một con vật đã bị giết cho mình ăn)…” Về sau, Phật giáo Đại thừa đưa ra quan điểm ăn chay tuyệt đối. Nghĩa là, loài vật với người là bình đẳng, như là chúng sinh.
Vòm nhiệt (heat dome) là hiện tượng thời tiết khi có một vùng áp suất cao trong khí quyển giữ chặt nhiệt lại trong một khu vực. Để dễ hiểu hơn, quý vị có thể hình dung Vòm nhiệt giống như một cái nắp vung khổng lồ đậy kín cả một khu vực, không cho không khí nóng thoát ra. Không khí nóng bị ứ đọng lại một chỗ (trời đứng gió), không thể thoát ra ngoài, sẽ làm cho khu vực đó trở nên nóng hầm hập.
Các quý cô quý bà đang mong muốn ‘sưu tầm’ thêm vài con dấu cho Thẻ thông hành (Passport) của mình? Quý vị có thể sẽ phải gạch bỏ 5 điểm sau đây trong danh sách du lịch của mình. Những chỗ này không chỉ nổi tiếng với cảnh đẹp tuyệt vời hay giá trị lịch sử thiêng liêng, mà còn vì họ cấm nữ du khách lui đến.
Cứ nói đến thuyết Galileo là có ngay lông chim và một cái gì đó như cái kìm, cái búa đứng cạnh để chứng tỏ “không khí đã gây cản trở”. Bên nặng bên nhẹ quá khác biệt. Đáng lẽ các nhà nghiên cứu phải tiến xa hơn, không thể ngừng ở kết luận lười biếng ấy. Chỉ cần loại bỏ lông chim (thiếu yếu tố sức cản không khí), rồi cho hai cái búa một 5 ký, một 4 ký, chẳng hạn, cùng rơi trên mặt trăng, mặt đất – xem chúng có rơi cùng tốc độ hay không… là biết liền. Năm ký, bốn ký hay một ký v.v… đều “rơi” cùng tốc độ dù có hay không có vacuum. Vì thực sự, chúng… không rơi! Chính chất đen, khi tạo ra quán tính cho muôn vật, đã gây ra hiện tượng ấy.
Dưới thời các Tổng thống Barack Obama, Donald Trump và Joe Biden, chiến lược phòng thủ của Hoa Kỳ đã được xây dựng dựa trên quan niệm lạc quan rằng, Hoa Kỳ sẽ không bao giờ cần chiến đấu nhiều hơn một cuộc chiến trong cùng một lúc. Dưới thời chính quyền Obama, đứng trước tình trạng tiết kiệm ngân sách, Bộ Quốc Phòng đã từ bỏ chính sách lâu đời là sẵn sàng chiến đấu và giành chiến thắng trong hai cuộc chiến lớn để tập trung vào việc có được các phương tiện chiến đấu và chỉ giành chiến thắng trong một cuộc chiến. Hành động đó đã đẩy nhanh xu hướng, hướng tới một quân đội Mỹ nhỏ hơn. Nó cũng thu hẹp các lựa chọn khả dụng cho giới hoạch định chính sách của Hoa Kỳ, vì việc cam kết cho Hoa Kỳ tham chiến ở một nơi sẽ ngăn cản hành động quân sự ở nơi khác.
Ban đầu, mọi người vẫn nghĩ rằng Nina chỉ là một người bạn trong trí tưởng tượng của Aija. Cô bé hai tuổi Aija từng sáng tạo ra rất nhiều người bạn tưởng tượng, nhưng cha mẹ cô bé – Ross, một nhạc sĩ, và Marie, một nhà tâm lý học – nhận thấy riêng Nina là một nhân vật hoàn toàn khác biệt. (Gia đình Ross và Marie đã yêu cầu tờ Washington Post chỉ sử dụng tên đệm vì tính nhạy cảm của chủ đề và vì Aija còn nhỏ)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.