Hôm nay,  

Mẹ đi về phía hoàng hôn

13/05/202321:27:00(Xem: 2827)
Truyện / Mother's Day

mẹ 2

Căn nhà của cha mẹ tôi dựng trên một khu đất rộng, chung quanh có hàng rào, là những cây chè tàu được cắt ngay hàng thẳng lối, có cổng ra vào được xây cao, có bức tường thành bằng quánh bao bọc. 
     Tôi nhớ là tôi ở trần, ở  truồng, bò quanh khu nhà bếp một mình. Nhà không có ai, mẹ tôi đi chợ, cha tôi đi làm ruộng, còn anh Giảng và chị Khiêm bỏ đi đâu không biết. Tôi một mình, bò qua, bò lại nơi ảng nước, nơi cối xay lúa, cối giã gạo. Bùn đất lấm lem, tôi vọc bùn, vọc nước, vọc đủ thứ. Tôi bò loanh quanh đợi mẹ đi chợ về, lúc đó tôi hai, ba tuổi gì đó.
     Mẹ tôi đi chợ về thường mua cho tôi kẹo, tép phơi khô, hay bánh tráng, bánh đúc và bế tôi lên, đem tôi ra giếng tắm rửa. Xong, lau qua quít cho tôi, rồi cũng bỏ tôi bò lê bò la trong bếp, mẹ tôi còn phải đi cho heo ăn, đi nấu cơm cho cả nhà ăn buổi tối.
     Đó là những năm Việt Minh cướp chính quyền, là cuộc kháng chiến mười năm. Có lúc chợ phải họp vào ban đêm, ai ai đi chợ đều phải cầm đèn, rất sợ máy bay Pháp bắn. Phiên chợ như là một phiên chợ ma, mẹ tôi đi về lầm lũi. Mẹ nấu cơm, kho cá, kho thịt lầm lũi. Đến khi ăn cơm, mẹ kêu cả nhà xuống bàn, mẹ thường mua thịt heo về luộc rồi quấn với bánh tráng, rau sống, món ăn cả nhà rất thích. Anh Giảng tôi thường được mẹ cho ra đứng canh ngoài ngõ, có ai đến thì chạy mau vào nói với mẹ, mẹ liền dẹp ngay mấy dĩa cá hoặc dĩa thịt, còn lại trên bàn toàn là rau và mắm.
     Một hôm, cũng một buổi chiều, có ông Nuôi là người tham gia chính quyền xã, ông vốn là một nông dân, là thành phần bần nông, nay Việt Minh lên, ông hăng say hoạt động, rồi được tham gia chính quyền, làm trong uỷ ban kháng chiến xã. Ông bận cặp đồ đen, chắp tay sau đít, vào nhà tôi và đi xuống dưới bếp. Mẹ tôi đang nấu cơm, ông Nuôi tới gần bếp, dòm vô nồi cơm đang nấu và nói: “cụ Hồ biểu mợ sáo khoai.”, câu nói có ý nghĩa là trong lúc đất nước đang chiến tranh, mọi người dân phải thắt lưng buộc bụng, không được ăn cơm không, gạo cần cho kháng chiến. Mẹ tôi nói: “Tôi sáo ba phần khoai một phần cơm rồi đó.”. Ông Nuôi im lặng đi ra. Mẹ tôi càng ngày càng giữ gìn hơn, lúc nào trong bếp cũng có một rổ khoai lang khô để bên, như là đang chuẩn bị độn thêm vào nồi cơm đang nấu.
     Đó cũng là những ngày chính quyền phát động chiến dịch tiêu thổ kháng chiến. Buổi tối nào cũng có loa phát động phong trào, đèn đuốc sáng trưng ngoài đình, ngoài “dỏ”, ngoài trường tiểu học. Chị Khiêm tôi vào đoàn thiếu nhi cứu quốc, cùng các chị bạn như chị Cần, chị Sử, chị Phương, thành phần bần cố nông cốt cán trong làng, cùng đi họp suốt đêm. Cứ mặt trời vừa lặn là tôi nghe tiếng chị Sử từ xóm dưới đi lên, đứng ngoài ngõ nhà tôi réo gọi: ”Khiêm ơi! Đi họp”, cùng tiếng hát của thiếu nhi ngoài đình vọng lên: “Đoàn kết chung ta là sức mạnh, đoàn kết chúng ta là sắt gang…” hay “Việt Trung Xô muôn năm Việt Trung Xô.”
     Trong giai đoạn này, dưới miệt biển đông, dưới miệt biển Tam Ấp, máy bay bà già của Pháp bay ì ầm, thả hỏa châu sáng trưng. Dân chúng cả xã chuẩn bị tản cư, ai cũng tay nãi, tay xách. Nhưng quân Pháp suốt thời gian đó không đổ bộ lần nào, thế mà chiến dịch tiêu thổ kháng chiến vẫn tiến hành rầm rộ. Cứ mỗi tối đến là các gian nhà ngói của những gia đình giàu có trong xã như nhà ông xã Sáu, ông xã Chánh, ông chánh Tri, ông trợ Ngọc, ông chánh Thận, lần lượt bị nông dân trèo lên dỡ sập. Hàng hàng lớp lớp dân chúng, người khiên kèo, người khiên cột, rui, mè, ngói, gạch, quánh, đá, đều được gánh đi, được chính quyền thông báo  là số vật dụng này sẽ làm hàng rào để cản quân Pháp khi Pháp tấn công, sẽ làm những hầm chông đào sâu xuống đất như cái giếng nước, bên trên được lợp một lớp ván, rồi trải đất lên, khi quân Pháp kéo đến, lớp ván sẽ được  rút đi, còn lại lớp đất mỏng ngụy trang, quân địch đi ngang qua sẽ bị sụp, rớt xuống, bị xóc chông, không còn đường nào thoát. Nhưng thật tình, ngói, gỗ được dỡ từ những căn nhà trên phần nhiều đều lọt vào tay những nông dân. Thật là một cuộc san bằng giai cấp kỳ diệu.
      Mẹ tôi thuê anh sáu Quế tìm một bụi rậm nhứt trong hàng rào, đào hầm bí mật ở đó. Anh đào cả chục ngày mới xong. Cái  hầm bí mật sâu trong lòng đất được đậy điệm kỹ lại bằng những tàng cây rậm, có lỗ thông hơi. Tôi đã rúc xuống dưới đó thử và nghe lạnh cả người, không khí lạnh, đất ẩm rất ngột ngạt.
     Nhưng quân Pháp vẫn chưa đổ bộ lần nào mà dân chúng thì sống thật chộn rộn trong không khí chuẩn bị chiến tranh cận kề. Có những đêm, bộ đội ở đâu tập trung về đầy cả sân vườn nhà tôi. Trong ánh đèn bập bùng đó, tôi biết có anh tên Huê, có anh tên Hành, có anh tên Thủ, thường hay đóng quân trong nhà tôi, hay bồng bế tôi. Mẹ tôi hay nấu cơm vắt cho các anh đem theo, vì mẹ là “mẹ chiến sĩ” mà, chiến sĩ đã dùng ba tấc lưỡi ngọt ngào để bòn rút từng bát cơm, từng củ khoai của mẹ, đáng lẽ mẹ để dành cho các con ăn.
     Có một ngày, máy bay Pháp đến oanh tạc, tôi không biết có bao nhiêu chiếc khu trục mà nó bay vần vũ ầm ầm cả một vùng trời, rồi thả bom và bắn. Tôi, chị Khiêm, anh Giảng liền rúc xuống hầm tránh đạn, mẹ tôi xuống sau cùng. Căn hầm thì chật mà đến bốn người nấp. Mẹ tôi nấp phía ngoài cùng, cả thân hình mẹ dang ra che chắn cho ba chị em tôi ở phía trong. Tôi chưa biết gì nhưng cũng sợ hãi lắm. Máy bay vần vũ trên đầu rồi bắn và thả bom. Vỏ đạn rơi lanh canh trên sân, trên nóc nhà. Chúng tôi nằm úp mặt xuống đất phó cho trời đất. Cũng hơn một giờ đồng hồ sau máy bay mới bay đi. Thật hú hồn! Chúng tôi ra khỏi hầm thì một cảnh trí kinh hoàng bày ra trước mắt. Cây cối trong vườn đều bị ngã rạp hết. Cây dừa, cây vú sữa, cây mãng cầu đều bị tiện ngang. Lửa bốc cháy trên chợ, trên đường rầy xe lửa. Đạn bắn trúng hầm chứa dầu đậu phụng của bà giáo Sam, lửa bốc cháy cao có ngọn. Tôi chỉ biết đi tìm vỏ đạn nhặt để dành. Sau này khi nghĩ lại cảnh núp hầm tránh máy bay của mẹ con tôi, tôi thấy mẹ như con gà mẹ dang cánh che cho đàn gà con khi bị diều hâu sà xuống bắt, gà mẹ có đôi cánh cứng và bộ lông xù, khiến cho diều hâu không làm gì được, còn mẹ tôi, chỉ có thân hình người, da thịt người, làm sao che được đạn bom.
 
***
 
Mẹ tôi rất quê mùa, ăn mặc đơn giản, áo đen, quần đen, thường thì mẹ đi chân không, đôi bàn chân mẹ đúng là bàn chân giao chỉ, hai ngón cái chìa ra. Mẹ rất ít khi mang guốc dép. Sau này khi tụi tôi lớn lên, thường bắt mẹ mang guốc hay dép, bận áo dài, nhưng mẹ tôi mặc đó rồi lại cởi đó.
      Mẹ không đẹp, lỗ mũi to và hơi hỉnh. Răng mẹ đều nhưng lại ăn trầu đen. Tóc mẹ búi ra phía sau thành cục. Thỉnh thoảng đi đâu mẹ mới xức dầu dừa, còn không thì tóc mẹ khô. Mẹ đi nhanh và làm gì cũng hấp tấp, nên cuộc đời mẹ khổ. Mẹ không bao giờ ngồi không, không làm việc ngoài đồng thì ở nhà mẹ cũng làm một việc gì đó, như nuôi tằm, làm giá đậu xanh, tưới rau, nghĩa là mẹ không bao giờ yên nghỉ.
      Tôi chưa thấy cha mẹ tôi ngủ chung bao giờ. Thường thì buổi tối tôi ngủ với cha và anh Giảng ở bộ ván ngựa giữa căn nhà, còn mẹ tôi nằm trên giường dưới nhà ngang. Tôi chưa thấy cha mẹ tôi có cử chỉ âu yếm với nhau lần nào, như hôn nhau hoặc cầm tay nhau. Thường thì mẹ tôi thức dậy rất sớm, mẹ xuống bếp nấu cơm cho mọi người ăn sáng. Cha tôi cũng dậy sớm. Khi tôi thức dậy thì thấy hai người đã ngồi dưới bếp nói chuyện với nhau, thường thì nói chuyện công việc làm ăn cũng như chuyện thiên hạ sự.
      Mẹ tôi có một thời làm “mẹ chiến sĩ” của bộ đội, nhưng bộ đội chỉ bòn rút của mẹ thôi. Họ làm như thương dân lắm, đến nhà nào cũng cầm cây chổi quét nhà, cũng xách cây cuốc dọn cỏ, nhưng sau đó thì xin ăn. Trong lúc dân chúng ai cũng đói nhăn răng mà phải nhường cơm cho bộ đội, lo cơm đùm cơm gói cho bộ đội mang đi. Sau này đến ngày “quốc gia tiếp thu” mẹ tôi mới nói ra điều đó.
      Trong những ngày phát động chiến dịch cải cách ruộng đất, tôi luôn nhớ những đêm tối có những tiếng loa vang vang khắp thôn xóm. Tiếng loa thông báo hôm nay có đấu tố tên địa chủ nào, ở đâu, và kêu gọi đồng bào đi tham dự đấu tố. Tôi còn nhớ hai lần mẹ tôi đã đi. Mẹ tôi bỏ hai ngày làm ruộng cùng dân chúng trong xã lên đến tận xã Kỳ Long, nơi có cuộc đấu tố ông Vũ Ấn, được gọi là “tên địa chủ ác ôn” (ông Vũ Ấn là cha giáo sư Vũ Ký và họa sĩ Vũ Hối) và cuộc xử tử ông Hồ Đệ, một đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, với tội danh Việt gian đã bỏ kháng chiến, nhảy đồn theo Tây. Vụ xử làm xôn xao cả huyện. Tôi chỉ nhớ đó là một đêm sáng trăng, mẹ tôi, chị hai tôi, đi từ chiều đến khuya lơ mới về. Buổi sáng hôm sau thức dậy, tôi thấy mặt mẹ buồn xo, tôi hỏi mẹ, mẹ nói nhỏ với tôi, “con đừng hỏi, dễ sợ lắm.”
      Đó là thời kỳ trí nhớ tôi còn mù mờ, nhớ cái được, cái mất. Nhưng những hình ảnh kể trên nó như một dấu ấn dập mạnh vào tâm hồn trẻ thơ của tôi, để đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn hình dung như có tiếng phèng la đánh liên hồi, tiếng trống cơm giục giã, đèn đuốc sáng trưng tỏa khắp thôn làng, và người người tấp nập đi dỡ nhà của các gia đình giàu có trong xã, để làm chiến dịch vườn không nhà trống trong công cuộc tiêu thổ kháng chiến. Nhà tôi lúc đó là một ngôi nhà tranh nhưng cha mẹ tôi không đi dỡ nhà nhà của người khác làm của mình. Chỉ có đám nông dân tá điền được thời thế tạo nên, hăng say trong chiến dịch tiêu thổ kháng chiến, phá nhà người khác đem về làm của riêng. Thoáng chốc chỉ trong mấy đêm mà làng tôi không còn một ngôi nhà ngói nào. Làng xóm tiêu điều xơ xác. Gia đình ông xã Sáu, ông xã Chánh tản cư lên Thành Mỹ làm cái chòi nhỏ giữa vườn để tránh bom đạn, hay khu chợ Quán Rường buồn thiu, không ai dám họp chợ ban ngày…
     Đến ngày quốc gia tiếp thu, những toán lính quốc gia đội nón sắt, tay cầm súng, vai mang ba lô đi từ Quốc Lộ 1 vào thôn An Phước, rồi những toán lính khác đi từ ngã ba Chiên Đàn tiến lên quê tôi. Toán từ ngã ba Chiên Đàn dừng quân lại ở Cống Trắng, vì bị đám dân chúng biểu tình cản trở không cho tiến quân. Chị Vân, chị Thu, bạn chị Khiêm tôi, đang đi học, nghe nói đi biểu tình, thấy vui nên đi theo, gặp chị Khiêm tôi đi chợ Chiên Đàn về, rủ đi, nhưng chị Khiêm tôi nói về nhà cất đồ rồi xuống sau. Đám dân chúng đi biểu tình đứng trước đoàn lính quốc gia, tay cầm cuốc, cầm xẻng, chỉ vào mặt đám lính mà chửi, “đồ phản quốc, đồ Việt gian”. Ông Toán cầm đầu đám biểu tình đã nói rỉ tai dân chúng: “Các ông các bà cứ chửi và cản đường bọn nó lại, súng ống của tụi nó, xe cộ của tụi nó đều làm bằng giấy”. Toán lính tiến lên, đám biểu tình vừa chửi vừa dùng cuốc xẻng gậy gộc cản đường. Người chỉ huy được lệnh tiến, ai cản sẽ nổ súng, rồi có tiếng súng nổ, tiếng người kêu khóc, tiếng chân chạy sầm sập. Cuộc biểu tình ở Chiên Đàn đã làm cho một số dân chết oan. Ông Toán mở ngực áo nói: “Tụi bay bắn tau đi, có giám bắn không? đồ súng giả”, thì một loạt đạn nổ. Ông Toán chết. Hôm đó xác dân chúng biểu tình chết khiêng về nườm nượp, trong đó có chị Thu, chị Vân đi coi biểu tình cũng bị chết. Còn có anh Truy, người anh rể họ của tôi đã hăng hái đi biểu tình cũng bị bắn lủng ruột, đem về nằm nhà khoảng tuần sau là chết. Toàn xã dân chúng bị chết rất nhiều, nhưng những cán bộ nằm vùng xúi giục dân chúng đi biểu tình lặn đâu mất tăm. Đó là vụ “đấu tranh” ở Chiên Đàn. Cùng thời điểm đó cũng có những cuộc đấu tranh ở Cây Cốc thuộc huyện Tiên Phước, ở Chiêm Sơn…
 
***
 
Cha tôi ra làm hội đồng hương chính xã với chức vụ uỷ viên kinh tài lo việc thu thuế chợ, thuế đất, cho vay tiền nông tín. Cha tôi sắm một chiếc xe đạp sườn cao, đi làm ở cơ quan ngày hai buổi. Mẹ tôi vẫn làm việc đồng áng, nếu rảnh rỗi thì đi mua đậu phụng về ép dầu bán. Thời gian này là thời gian thanh bình. Dân chúng họp chợ, coi cải lương, đi xe đạp có chuông bóp kêu leng keng, thanh niên đầu chải brillantine láng bóng. Chị Khiêm tôi đã lớn, đi làm y tá, má đỏ môi hồng, có nhiều chàng thanh niên gắm ghé. Cha mẹ tôi đã làm nhà ngói, một căn nhà to ở trên, một nhà ngang và một nhà bếp. Ngoài vườn có một cái chuồng bò, bên cạnh chất một đống rơm cao nghệu. Người ta thường nhìn đống rơm của từng nhà mà ước lượng sự giàu có của gia đình đó, đống rơm càng to thì gia đình đó càng sung túc.
      Tôi cũng đã lớn theo thời gian, đã mười một, mười hai tuổi, nhưng vẫn còn thích bú vú mẹ, mỗi khi mẹ đi đâu về tôi thường sà vào lòng mẹ, kéo vú mẹ ra bú. Mẹ hết sữa nhưng bú vú mẹ như là được một sự che chở, một niềm vui, và tôi cũng ngủ đi trong những giấc ngủ trẻ thơ như thế.
      Tôi cũng bắt đầu nghịch ngợm, bắt đầu phá phách và “hoang” lắm. “Hoang” nghĩa là ngỗ nghịch, là tập tò hút thuốc lá, là đi bắn chim dang nắng suốt buổi trưa ở ngoài trời, là đi hái chanh trộm ở khu vườn nhà ông Nhẫn, ông tư Trí láng giềng. Mỗi lần như vậy, mẹ tôi thường lấy roi quất vào mông tôi đau quắn đít. Tôi thường chạy chứ không giám đứng lại, tôi chạy thục mạng nên mẹ tôi phải đuổi theo và la to “bớ làng, bắt dùm tôi cái thằng cộng sản”, tôi cứ chạy để tránh xa cái tầm chạy của mẹ và tự nghĩ rằng “cái thằng cộng sản là cái thằng ghê lắm, ác lắm nên mẹ tôi mới ví với tôi, để bắt tôi lại cho ăn đòn".
     Từ một người mẹ chiến sĩ có gì cũng mang cho bộ đội ăn, đến bây giờ mẹ tôi không ưa thích nữa, có phải là cha tôi ở về phía quốc gia, và những ngày kháng chiến mười năm đã khiến cho mẹ tôi thấy hết bộ mặt thật. Mẹ tôi thường ngâm câu ca dao: “Bề ngoài thơn thớt nói cười. Bề trong nham hiểm giết người không dao.”
 
***
 
Mẹ tôi thật đáng yêu biết dường nào.
      Thế mà khi “yêu em”, em cao vời, cao vọi. Tôi lại thấy mặc cảm vì tôi có người mẹ quê mùa. Lúc đó, tôi đi dạy học ở một trường quận lỵ. Tôi đã đi dạy mấy năm mà chưa cho mẹ được đồng nào. Mỗi khi nghỉ dạy tôi về nhà chỉ thoáng qua, rồi đi chơi với bạn bè. Rồi khi tôi “dính” vào mối tình em, tôi càng ít về nhà hơn. Lúc này, nhà tôi đã tản cư từ quê xuống quận lỵ tị nạn cộng sản. Quê tôi không còn yên ổn nữa. Nhà tôi ở quê bị bắn cháy, đạn từ hai phía cày nát ruộng vườn, cây trái, cày nát bức tường thành, sân gạch… Nhưng không cày nát được cánh cổng nhà tôi, cho nên mỗi khi về, đứng trên nền nhà cũ, tôi vẫn thấy như ngôi nhà của tôi còn sừng sững trước mặt tôi.
      Bây giờ thì cha mẹ tôi đã bỏ ruộng, bỏ vườn, bỏ quê, bỏ xóm, để đi tản cư, tị nạn. Cha mẹ tôi buồn lắm. Cha tôi chỉ còn cái radio Ấp Chiến Lược bên mình nghe làm vui. Còn mẹ tôi thì đi bán thuốc lá ngoài chợ khu Nam kiếm đồng lời nho nhoi, ít ỏi, nuôi gia đình. Ngôi nhà tranh cha mẹ tôi mua lại của ông tú Duyên, người cùng quê, đã vào Sài Gòn sinh sống. Vào nhà phải đi sâu vào một con đường đất hẹp, uốn khúc đôi ba lần mới tới, căn nhà nhỏ trông thật tồi tàn.
      Nên khi tôi yêu em, tôi nghĩ em cao vời, cao vọi, em như là ở một giai cấp khác tôi, còn cha mẹ tôi thì nhỏ nhoi, cái chức hội đồng hương chính xã của cha tôi lu mờ quá.
      Có một hôm tôi đi trên đường Nguyễn Thái Học,  đường về nhà tôi, tôi thấy cha tôi đi chiếc xe đạp từ trên quê về. Ông bận cặp đồ bà ba trắng đã cũ, đội chiếc mũ phớt cà tàng. Khi cha tôi tới gần, tôi ngó lơ. Cha tôi thấy tôi chở em trên chiếc xe liền quay lại nhìn, em hỏi tôi: “Ai vậy anh?” . Tôi lấp liếm quanh co “Một người quen”. Với mẹ tôi cũng thế, tôi đi trên chiếc xe Suzuki mới mua, chưa chở cha mẹ một lần nào, chỉ chở em. Gặp mẹ tôi đi bán thuốc rê ở ngoài chợ về, tôi không dừng lại mà chạy xe qua luôn, em hỏi tôi, “Ai vậy anh?”. Tôi nói: “Bà hàng xóm.” Vừa nói vừa đỏ mặt tía tai, không biết tôi ngượng vì mẹ tôi quê mùa hay vì tôi dối trá.
     Sau ngày miền Nam thất thủ, tôi đi trình diện và vào trại tập trung. Những ngày ở trại tập trung tôi nhớ em nhiều hơn nhớ mẹ, có lẽ thế, nhưng mẹ dù ở xa bao nhiêu, khi tôi gởi thư về nói mẹ đi thăm là mẹ đi. Mẹ gầy rạc, mẹ đói lả, mẹ cũng không bỏ tôi. Giọt nước mắt mẹ tôi rơi ở trại tập trung Xuân Phước năm nào còn rơi thấm mãi trong hồn tôi cho đến bây giờ. Mẹ ốm o, mẹ gầy mòn, mẹ quê mùa, nhưng mẹ chơn chất, thật thà, chịu đựng. 
     Những ngày mẹ già nua, mẹ cũng ở một mình. Sau khi ra khỏi trại tập trung, tôi không giám trở về quê cũ. Sau bảy năm tù tội, tôi đã thấm đòn, nên tôi phải bỏ quê nhà mà đi. Không có một đồng bạc lận lưng, không có một mái nhà, không nghề nghiệp lại bị công an theo dõi từng ngày, nên tôi không dẫn được mẹ tôi theo, cả anh tôi cũng vậy. Hai đứa con trai của mẹ phải sống lẩn lút trên vùng kinh tế mới suốt mấy năm, nên cả hai đành bất lực, không nuôi nổi được mẹ, không được ở gần mẹ. Đó là một điều tôi ân hận suốt đời. Cuộc đời có biết bao lần ân hận vì những điều không toại ý, nhưng nỗi ân hận về mẹ, không chăm sóc, không sống được với mẹ lúc mẹ đã già, đã làm tôi đau nhói nhất, đau điếng nhất, ân hận nhất.
     Tôi chưa bao giờ tưởng tượng cái ngày mẹ tôi mất, hay tôi mất mẹ. Nghĩ tới ngày đó tự nhiên tôi rùng mình sợ hãi. Khi mình có vật gì quý nhất trên đời mình chỉ sợ mất đi, nên tôi không dám nghĩ tới, không dám tưởng tượng. Chỉ tưởng tượng thôi cũng đủ thấy nó hãi hùng thế nào, huống hồ gì khi mình chạm mặt với sự thật.
      Nhưng tôi mãi ám ảnh về ngày chết của mẹ trong những lúc ở tù, ở vùng kinh tế mới, những ngày đạp xích lô rạc rài sống lang thang ở Sài Gòn. Tôi nghĩ đến nỗi cô đơn của một bà già trên tám mươi tuổi, sống đơn độc trong ngôi nhà lạnh lẽo, tôi như bị hụt hơi. Dù mỗi lần Tết tôi đều về thăm mẹ, thấy mẹ khoẻ là tôi vui, thấy mẹ ốm là tôi lo buồn, nhưng tôi cứ tự trấn an mình là “nước mắt chảy xuôi.”
     Ơi! Nước mắt chảy xuôi! Cho đến ngày ở Sài Gòn, tôi được tin mẹ tôi đau nặng, tôi liền mua vé xe đò về ngay bên mẹ. Mẹ ốm o, mẹ gầy mòn, mẹ còm cõi, mẹ bịnh hoạn. Những cơn ho của mẹ bất tận, những cơn tức ngực làm mẹ giãy giụa, quằn quại. Mẹ bị bịnh có nước trong phổi và tim bị lớn, mẹ phải nửa nằm, nửa ngồi, chứ không thì bị tức ngực.  Thế mà tôi không đủ tiền để mua cho mẹ cái ghế nằm dựa lưng cho mẹ dễ thở.
     Cuối cùng thì mẹ chết trên tay tôi, tôi ôm mẹ trong tay như ôm một cành cây khô trụi, đã hết nhựa sống. Suốt cuộc đời mẹ, nhựa trong người mẹ đã chuyền hết cho các con, mẹ đã trải qua những chặng đời cực nhục quá. Sự vinh hiển về những đứa con chỉ nằm trong tâm thức, còn suốt đời mẹ, không một ngày nào mẹ được sung sướng.
      Tôi ôm mẹ trong tay, mẹ như một cành khô, mắt mẹ đăm đăm nhìn vào một khoảng xa nào đó, rồi mẹ lịm đi, tim mẹ đã ngưng đập. Tôi biết mẹ tôi đã chết, cái giờ phút kinh hoàng, hãi hùng nhất của tôi đã đến. Mẹ đã đi vào cõi vô cùng, của huyền bí, ngút xa. 
     Và tôi nhận chân là tôi đã mất mẹ từ đây. Vĩnh viễn. Suốt chặng đời còn lại, tôi sẽ không còn được thấy mẹ, được rờ tay mẹ, được hôn lên trán mẹ, hôn lên khuôn mặt nhăn nheo cam khổ của mẹ nữa.
      Đó là ngày tôi cảm thấy cô đơn nhất, bơ vơ nhất. Tôi chợt nhận ra rằng tôi đã mồ côi mẹ, ngày tôi bốn mươi hai tuổi, như câu thơ tôi được đọc từ ngày nhỏ dại:
 
tôi thấy tôi mất mẹ
như mất cả bầu trời
lần đầu tiên tôi hiểu
thân phận kẻ mồ côi
 
Từ đó, ở đâu và lúc nào, tôi thấy như không còn ai thương tôi nữa. Không còn ai, thay thế được tấm lòng ấy, con người ấy.
     Mẹ! Mẹ đã đi về phía hoàng hôn.

 

– Trần Yên Hòa

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”
Tuyển tập “9 Khuôn Mặt: 9 Phong Khí Văn Chương” của Bùi Vĩnh Phúc là những trang sách phê bình văn học độc đáo, nơi đây 9 người cầm bút nổi tiếng của Miền Nam – Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên – được chiếu rọi trên trang giấy rất mực trân trọng, công phu, phức tạp, và nổi bật là kiểu phê bình văn học rất mực thơ mộng của họ Bùi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.