Tình chết theo mùa đông (*)

26/11/202214:46:00(Xem: 2924)

Tạp ghi văn nghệ

IMG_3624
Nhạc Sĩ Lam Phương trong một bức hình cũ.


(Nhớ Nhạc Sĩ Lam Phương)

 

Lần đó, tôi nhận được cuốn sách “Lam Phương, Trăm Nhớ Ngàn Thương” từ bên quê nhà gửi qua. Nói thiệt, cầm cuốn sách mỏng dính trên tay, xem qua các mục lục, tôi bỗng thấy… giận hờn và chỉ biết thở dài.

 

Cũng là “cây cao bóng cả” trong giới sáng tác thời Việt Nam Cộng Hoà, mà nhạc sĩ Phạm Duy có Hồi Ký đến 4 cuốn (cuốn nào cũng khá dầy), hoặc nhạc sĩ Anh Bằng với cuốn sách in tại hải ngoại, giấy trắng tinh, dài 472 trang, font chữ nhỏ, đều đặn, đọc mãi vẫn sợ… hết. Còn sách Lam Phương, in tại Việt Nam, người chấp bút bên Việt Nam, chỉ có 256 trang, font chữ bự tổ chảng, trình bày sơ sài, và nội dung thì ôi thôi, chỉ là những phần lắp ghép, vội vàng, cẩu thả.

 

Tuy là 256 trang, nhưng bao gồm phần Phụ Lục Một in các bài hát nổi tiếng (có lời, có nốt nhạc) của Lam Phương. Chi dzậy? Người ta cần thì lên Googles có thể tìm ra tất cả các bài nhạc của bất cứ nhạc sĩ nào. Phần Phụ Lục Hai là trích hai đoạn viết xưa hơn trái đất về Lam Phương trên báo Thanh Niên và Giai Phẩm Người Việt, rồi thêm một bài ngắn cỡ vài hàng (xin nhắc lại là: vài hàng) của Giáo Sư Trần Quang Hải, và vài câu tâm tình của người chấp bút, tổng cộng hơn 60 trang.

 

Cuối cùng, còn lại đúng 190 trang viết về Lam Phương, mà trong đó cũng đã nhồi vào một số hình ảnh xưa và nay của nhạc sĩ, hình các bài báo trước 1975 về Ông, vài trang tiểu sử loa qua, vài bài nói về hoàn cảnh sáng tác các bài hát tiêu biểu: Kiếp Nghèo, Tình Bơ Vơ, Thành Phố Buồn, Phút Cuối, Chuyến Đò Vỹ Tuyến…

 

Chữ thì to như cho trẻ con đọc, trích đoạn nhiều câu hát thật dài, kéo xuống dòng cho đầy trang giấy. Có vẻ như tác giả và người chấp bút chẳng biết nói gì viết gì để tránh bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam kiểm duyệt chăng? Tôi chả hiểu tại sao em gái của Ông là người quyết định chuyện này, lại để cho người chấp bút bên Việt Nam, xuất bản bên Việt Nam, vì tiền hay vì chút ủi an người nhạc sĩ đang nằm trên giường bệnh? Nhưng với bề dầy sáng tác, sức ảnh hưởng âm nhạc của Lam Phương cho đến tận hôm nay, thì cuốn sách mỏng tang, chắp vá, hời hợt này thà đừng ra đời còn hơn! Câu nói cửa miệng của người Việt mình theo một câu thơ của Nguyễn Tất Nhiên “có còn hơn không”, trong trường hợp cuốn sách này, tôi rất tiếc phải thốt lên rằng “thà không còn hơn có”.

 

Dù sao, tôi cũng cám ơn người tặng sách, đã nhiệt tình đi tìm ngay khi nó được xuất bản rồi gửi qua cho tôi từ bên nửa quả địa cầu và xin đừng buồn khi đọc những cảm nghĩ thất vọng này. Bởi vì “vượt lòng đại dương, mình gặp lại đây, sau cơn khát dài, thương nhớ bao ngày, giờ nghe… chua cay” (Lời bài hát Mùa Thu Yêu Đương của Lam Phương tôi xin sửa lại hai chữ cuối, cho tôi và cuốn sách này).

 

Mà thực ra, đâu cần so sánh với Phạm Duy, Anh Bằng, mà nhìn lại những cuốn khác của Kim Cương, Ái Vân, Khánh Ly thì mới thấy… “trăm tiếc ngàn đau” cho Lam Phương. Và đúng như tôi dự đoán khi bắt đầu đọc cuốn sách, người chấp bút không dám nhắc đến bài hát nổi tiếng Chiều Tây Đô của Lam Phương với câu ca mà dân Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở xuống đều thấm thía: “Bao năm giải phóng như thế này phải không em?”

 

Giờ đây, người nhạc sĩ hiền lành dễ thương của chúng ta đã từ trần sau một thời gian bệnh, yếu. Nhạc của Ông, nói mãi cũng vẫn thiếu, khán giả mến mộ con người và lời hát điệu đàn của Ông, kể mãi vẫn không bao giờ đủ.

 

Ông đã từng nói: “Tôi làm khoảng 300 bài nhạc tình, đâu có nghĩa là có ba trăm người yêu”. Trong cuốn “Lam Phương, Trăm Nhớ Ngàn Thương” cũng nói về một số bài hát từ hoàn cảnh thật của tác giả. Nhưng cũng có một số bài, chỉ là cảm xúc bất chợt trước khung cảnh hữu tình, không hề có bóng dáng của một cô gái nào, mà là trí tưởng tượng lồng vào một cuộc tình dở dang, rồi tác giả thả hồn bay bổng theo Đồi Cù, Thung Lũng Tình Yêu, Nhà Thờ Con Gà với mây gió trời trăng, để ý nhạc tuôn trào thành bài hát Thành Phố Buồn bất hủ.

 

Với tôi, đó là bài hát hay nhất viết về Đà Lạt, dù Ông chẳng mô tả gì nhiều, chỉ là “thành phố nào vừa đi đã mỏi” với “cơn gió chiều lạnh buốt tâm hồn”, để rồi “và con đường ngày xưa lá đổ”, nghe “tiếng chuông chiều chầm chậm thê lương”, trách móc người “quên núi đồi quên cả tình yêu” mà làm hàng triệu trái tim thổn thức.

 

Bài hát Một Mình buồn day dứt, nhưng lại được Ông viết trong một buổi sớm bình yên hạnh phúc bên người đẹp Cẩm Hường trên đất kinh thành Paris. Chàng ngồi bên cửa sổ uống café ngắm nàng quét lá rụng ngoài sân, và giai điệu cô đơn từ sâu thẳm bỗng trỗi dậy: “Nắng xuyên qua lá, hạt sương lìa cành/ Đời mong manh quá, kể chi chuyện mình/Nắng buồn cuộc tình, bỗng tắt bình minh”.

 

Chỉ có trái tim nghệ sĩ, tâm hồn đa sầu đa cảm, giữa đám đông vẫn thấy lạc lõng, trong hạnh phúc đã mơ hồ chia ly, và “trong bơ vơ anh mơ thêm một lần dang dở ” (bài Xót Xa), mới để lại cho đời hàng trăm bản tình ca xuyến xao lòng người đến như thế!

 

Trong một bài phỏng vấn lúc còn sinh thời, khi được hỏi:

 

– Tại sao các bóng hồng đi qua đời ông: Ca sĩ Bạch Yến, kịch sĩ Tuý Hồng, và nàng Cẩm Hường … đều là những phụ nữ đẹp và… rất đẹp?

 

Ông đã cười hiền hậu và trả lời rằng:

 

– Tại vì tui… xấu nên tui khoái yêu người đẹp!

 

Xấu hồi nào đâu nà! “Xấu” mà có nhiều nữ khán giả ái mộ. “Xấu” mà có duyên ngầm làm cho các nàng mộng mơ nức nở “Trăm Nhớ Ngàn Thương”, “Xấu” mà đào hoa đa tình như bác thì ai cũng muốn... “xấu” á, bác Lam Phương ạ!

 

Chẳng cần danh hiệu “ưu tú” hay “nhân dân”, nhạc của Lam Phương đi vào lòng mọi thế hệ, vượt thời gian, không những của đồng bào Miền Nam ra tới hải ngoại, mà cả dân chúng miền Bắc của “bên thắng cuộc” bên kia vĩ tuyến. Chẳng còn lạ gì, tại một phiên chợ vùng cao, gió rét lạnh căm bên quán ăn, người ta vây quanh chảo thắng cố nóng hổi, hút thuốc lào, thả khói mơ màng nghe tiếng nhạc Chế Linh hát Tình Bơ Vơ: “Về làm chi rồi em lặng lẽ ra đi, gom góp yêu thương quê nhà, dâng hết cho người tình xa”. Chắc là do đám dân buôn miền xuôi đem “nhạc vàng” lên “đầu độc” người dân tộc miền ngược, chớ lẽ nào mấy bà thím mặc váy thổ cẩm, mang gùi, làm nương rẫy, ăn mèn mén rồi… đi đẻ sồn sồn như đi chợ lại biết mê nhạc Lam Phương?

Nói nào xa, ông anh họ mấy đời bắn cà nông chưa tới của tôi đang ở quê ngoài Hải Dương đã cài nhạc hiệu trên phone, hễ có ai gọi tới là phone lại vang lên rên rỉ: “Em ơi suốt đêm thao thức vì em, vì lời giã từ lúc anh ra về…”

 

Ông giã từ “cuộc chơi” ngay gần mùa Giáng Sinh 2020 còn đang u ám bởi Virus Tàu. Tôi hơi chạnh lòng vì một cây cổ thụ âm nhạc Việt Nam “ra đi” mà không thấy cư dân mạng rầm rộ chuyển tin, tiếc nuối. Vì mùa lễ bận rộn, hay vì ông “ra đi” êm đềm không kịch tính, không bất ngờ như người nghệ sĩ khác vừa “ra đi” trước đó?

 

Mà thôi, vốn dĩ chân thật hoà nhã, Ông cũng không cần ầm ĩ phô trương, những thứ phù phiếm bề ngoài chóng phai! Tôi là người hâm mộ tài năng Lam Phương, yêu thích con người tác giả, giữa trời tuyết lạnh của Canada, khi nghe tin Ông qua đời, mà man mác buồn. Dường như khối tình thương mến cũng đang tái tê chết theo mùa đông như một nén hương lòng gửi đến chàng nhạc sĩ Miền Nam hiền hậu, tài ba và …không hề xấu, chàng chỉ khiêm nhường nói đùa thế thôi!

 

Kim Loan

 

(*): Tình Chết Theo Mùa Đông, tên một bài hát của Lam Phương.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Vậy “bánh Dày” phải có nghĩa là “bánh Trắng”, có lẽ dễ hiểu hơn là dày phản nghĩa với mỏng hay dày vò như vài người đã cắt nghĩa. Từ đây, phải chăng “Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên” của Nguyễn Du tả nét đẹp thân thể nàng Kiều cũng có nghĩa là trắng. Nét đẹp này hoàn toàn phù hợp thẩm mỹ quan của Việt Nam xưa nay. Người phụ nữ đẹp phải có nước da trắng. Nó vừa đẹp, vừa sang vì không phải lam lũ dưới mưa nắng...
Nga hăm dọa sẽ tấn công Ukraine và cả thế giới đang chờ đợi với sự lo ngại. Tôi dửng dưng vì nghĩ chắc Nga cũng chỉ hăm he như Trung Quốc đòi đánh chiếm Đài Loan. Tên Đài Loan nghe quen hơn, còn Ukraine xa lạ quá. Cái tên chỉ làm tôi nhớ đến những bài học địa lý nói về vùng Tây Bá Lợi Á vào những năm học trung học đệ nhất cấp...
Một hiện tượng đang lan tỏa khắp Á châu nhưng ít được Tây phương biết đến. Chúng tôi được xem qua phần trình diễn này trong một chuyến đến Đài Loan. Đây là một chương trình trình diễn trên sân khấu rất độc đáo được gọi là Thiên Thủ Quán Âm...
Mở lịch Việt Nam ra, thấy đề ngày tết Nguyên Đán sắp tới là ngày Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2023. Thử xét lại xem có thật đúng như vậy không, ngộ nhỡ năm nay cũng rơi vào trường hợp Tết Việt Nam đến trước Tết Trung Hoa một ngày như đã có lần xảy ra trước đây. Biết đâu chừng năm nay mùng Một Tết Trung Hoa lại là Chủ Nhật January 22, nhưng Tết Việt Nam là thứ Bảy January 21? Quyển lịch đang dùng biết là nó được tính theo múi giờ Trung Hoa hay múi giờ Việt Nam? Xin mời nhìn vào cách các nhà soạn Âm lịch xác định ngày Tết tùy theo múi giờ địa phương. (Quy Ước: Dưới đây, các tháng Âm lịch viết bằng chữ, như tháng Hai, Ba, hay Giêng, Chạp. Các tháng Dương lịch viết bằng số, như tháng 2, 3, hay January, December).
Trên thế giới chỉ có dân tộc Việt Nam nói riêng và nói chung là dân Á Đông (Tầu, Nhật, v.v…) là yêu mến ngày Tết và trọng mùa xuân hơn cả. Mùa xuân là mùa đem lại sức sống mới cho vạn vật: cây cối đâm chồi nẩy nụ, rồi hoa đua nở, cầm thú vui tươi và người người như trẻ ra. Người ta sửa soạn đón xuân ăn Tết với niềm vui rộn rã tràn ngập tâm hồn. Và người Việt Nam ăn Tết lâu hơn mọi dân tộc khác.
“Chỉ là nỗi đam mê” (Passion Simple, 1991) là một trong số gần 30 tác phẩm của nhà văn nữ người Pháp Annie Ernaux, người vừa được Hàn Lâm Viện Thụy Điển trao tặng giải thưởng Nobel về Văn Chương 2022...
... Nếu thế thì mỗi bài thơ là một sự cách tân, mỗi thi sĩ là một người làm mới sự vật. Có những điều chỉ ngôn ngữ thi ca mới nói được, chỉ thi ca mới có cái “thần” giúp chúng ta thấu thị tận đáy sâu của bản ngã. Người làm thơ là người nắm trong tay quyền năng “soi sáng” sự vật, quyền năng cho sự vật một đời sống mới, quyền năng “đi vào linh hồn của sự vật[1],” và không ai có thể tước đoạt quyền năng đó từ tay hắn...
Trong tuần qua, nhà thơ Trịnh Y Thư vừa phát hành một sách mới nhan đề “Căn Phòng Riêng,” dịch từ nguyên bản tiếng Anh, Virginia Woolf, A Room of One’s Own, nxb Harcourt, 1991. Theo lời dịch giả Trịnh Y Thư, ấn bản 2023 của bản dịch để phổ biến ở hải ngoại là bản được sửa chữa và tăng bổ từ hai ấn bản đã in trong các năm 2009 và 2016 tại Việt Nam. Tập tiểu luận văn học này của Virginia Woolf (1882-1941) như dường trải qua gần 100 tuổi, vì sách ấn hành lần đầu là năm 1929, nhưng các vấn đề nêu lên đều rất mới, như vị trí người cầm bút nữ chỉ là bóng mờ trong ngôi làng của các nhà văn, hay yêu cầu của Woolf rằng người sáng tác phải lìa hẳn “cái tôi” khi cầm bút, hay người sáng tác văn học cần có “khối óc lưỡng tính [nam/nữ]” (nghĩa là lìa cá tính, hay lìa ngã thể?) -- nghĩa là tất cả những gì rất mực táo bạo đối với người sáng tác văn học Việt Nam.
Tôi muốn kể lại với quý vị hai ví dụ đặc biệt về loài vật hành động với nhiều nhân tính hơn hầu hết loài người chúng ta. Quan điểm của tôi không phải cho rằng loài vật là nhân đạo hơn loài người, nhưng cho thấy có bằng cớ rõ ràng rằng loài vật có thể hành động theo những phương cách không phù hợp một số định kiến rập khuôn của Tây phương dành sẵn về các khả năng của chúng...
Suốt thời gian gần trăm năm qua, từ ngày xuất bản năm 1929, cuốn Căn phòng riêng của Virginia Woolf vẫn được xem là tập tiểu luận văn học có tầm ảnh hưởng rất lớn bởi tính cách đặt vấn đề của nó. Nó là cuốn sách được nhật báo Le Monde của Pháp quốc xếp hạng thứ 69 trong số 100 cuốn sách hay, giá trị, đáng đọc nhất thế kỷ XX. Kỳ thực, nó là cuốn sách đặt nền móng cho Nữ quyền luận trong hai lĩnh vực tư tưởng và phê bình văn học. Cuốn sách được hình thành dựa trên loạt bài thuyết trình Woolf đọc trước cử tọa toàn phái nữ tại hai trường cao đẳng dành riêng cho phụ nữ, Newham và Girton, thuộc trường đại học danh tiếng Cambridge của Anh quốc, vào năm 1928, xoay quanh chủ đề “Phụ nữ và sáng tác văn học.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.