Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Âm Vang Thu

18/11/202200:00:00(Xem: 1790)

Ann-Phong
Tranh Ann Phong.
  
Mùa thu dẫu vừa khảy đôi ba nhịp vàng trên tàn cây. Mùa thu dẫu đang đốt hết mình trên hàng cây maple đỏ lá suốt dặm dài. Và mùa thu cho dù cũng vừa khép cánh cửa để ra đi, khép rất nhẹ nhàng như sợ làm thức giấc ai đó đang say ngủ. Tất cả. Những bổng trầm của mùa thu đều rúng động mấy tầng cung bậc cảm xúc của ta.
 
Phiến lá vàng óng kia ẩn mật điều gì. Dấu chân vàng ố chiếc lá cuối thu như thể là những dấu chân cuối cùng để – nhẹ hẫng về mai sau – Ngọn gió của mùa thu ly tan nào vẫn thảng thốt trong nỗi chờ đợi. Hạt mưa nào xám tro quán phố. Và người ngồi nghe gió mùa thu về như – tiếng thổn thức của thời gian. Bạn ơi, xin lắng lòng trong buổi đêm tịch mịch để nghe cảm xúc bạn hòa âm thế nào với âm vang thu, để biết tác động mãnh liệt của thu – phù vân thôi cũng nát đời như chơi
 
*
 
Nguyễn Xuân Thiệp
 

Nhịp bước mùa thu

 
sáng nay. tôi lắng bước mùa xưa
chim nhỏ. năm nao. rộn khóm dừa
sông chớm đôi bờ thu quạnh quẽ
đường dài. son đỏ. quán lau thưa
 
nhà ai. phơi áo. ngoài hiên gió
nắng tắt trưa qua. lạnh bến chờ
cây ố. sắc tường. vương phủ ấy
trẻ nghèo. nhặt lá. ngói rơi. Hư
 
nghìn mùa. sương khói. dậy âm vang
lộp bộp. hiên sau. trái rụng vàng
bóng sậu. kêu qua bờ mía dại
xa nhau. mùa thu. mưa trong trăng
 
em đi. nhịp bước dạo đôi mùa
áo biếc. chìm trong dáng núi xa
trống lẻ. trường bên. hờ hững điểm
hoàng thành vừa chợp giấc mơ trưa
 
thời đại xây trên lòng quá khứ
tiếng mùa. hốt gió. rắc ly tan
này em. nhìn lại nương cày cũ
mặt đất. âm u. bặt tiếng đàn
(1954)
 
*
 
Nguyễn Lương Vỵ
 

Cuối Hạ Đầu Thu

 
I.
theo mộng về thăm sài gòn mưa
cuối hạ đầu thu chiều cũng vừa
trắng mù mưa bay trên phố chật
xám tro lá khóc bên quán xưa
vuốt mặt nhớ tri âm chìm khuất
đan tay nghe hồn vía đong đưa
bên đây mặt trời thức dậy sớm
sài gòn mưa em đã ngủ chưa?

II.
em đã ngủ chưa hay còn thức
đêm thẳm sâu dấu lệ ngàn trùng
chung cư gù lưng đứng rũ bóng
cửa sổ nhòe mắt tìm chân dung
mộ đời thinh không vang lục trúc
mồ ta địa tận réo hồng chung
giật mình tỉnh giấc còn ấm ngực
ngồi dậy ngoài hiên đã sáng trưng!
 
III.
theo mộng về thăm sài gòn em
đầu thu cuối hạ mưa dài thêm
trắng mù biệt khúc rơi tầm tã
xám tro cầm dương sầu lấm lem
nhớ quá hồn đường sá mệt lả
thương thay thân đất khách say mèm
giật mình đèn chưa tắt thở nhẹ
dứt mộng mà sao vẫn còn thèm?!

(7.2017)
 
*
 
Nguyên Yên
 
Dứt
 
đóng chặt cánh cửa,
để lại tất cả sau lưng
như thời nào đẩy mái ngược dòng
ra đi nhắm mắt hòng thoát
 
đóng chặt cánh cửa
nhốt từng giấc mơ sao trời
khóa trái mọi trối trăng
những hồn ma hệ lụy
 
đóng chặt cánh cửa và quăng đi chìa khóa
chiếc rương của một thời châu báu
bầu rượu tràn hớp say
căn nhà có huyễn tưởng bóng mát
 
đóng chặt cánh cửa
vứt bỏ mẩu quen thuộc cuối cùng nào sót lại
ngoài kia những chiếc lá ố vàng đang rụng
mùa thu cũng bỏ đi
 
đi như một linh hồn rút lui không định trở lại
đi chuyến nhẹ hẫng về mai sau
 
cầu cho trót lọt
 
*
 
Trần Hoàng Phố
 

Gương mặt ký ức

 
1.
Bạn hãy dịu dàng lấy cây cọ và vẽ
Vào trái tim rực lửa lá phong mùa thu
dấu vết cuộc đời phù du chúng ta
Trên khuôn mặt của gió
và sự lặng yên cây cối
Bạn như nghe thấy
tiếng
thổn thức của thời gian
và sự chảy trôi của ký ức
 
2.
Bạn hãy cầm lấy cọ và vẽ
Vào khung
tấm toan màu trắng ước muốn
Một khuôn mặt
nồng nàn say mê dự phóng
Trên những chiếc mặt nạ ngày rơi
Bạn như nghe thấy
bước đi lạ lùng bóng tối hoài niệm
 
3.
Bạn hãy cầm lấy cọ và vẽ
Vào gương mặt đổi thay
của năm tháng và sự lãng xẹt kiếp người
Bóng tối ký ức
Và bước chân chậm chậm của các vì sao
Trên thảo nguyên mênh mông bầu trời đầu hạ
 
4.
Bạn cầm lấy cọ vào vẽ vào khung tấm toan thời gian
Gió thổi làm mắt bạn cay
Giọt bùi ngùi 
như giọt sương rơi thảng thốt vào giữa trái tim bạn
Khuôn mặt sáng dịu dàng vầng trăng hạ tuần tháng tám
như linh hồn đợi chờ
đâm xuyên ký ức bạn đớn đau
 
*
 
Phạm Thiên Thư
 

Áo Thu

 
Xưa em phơi áo giữa thu phong
Lá vàng cài trên lụa rực hồng
Nay áo đã cuốn về thiên cổ
Lá vàng bay lạnh nỗi niềm không.
 
*
 
Vũ Hoàng Thư
 

Lá Thu

 
em là thu
       hay thinh không
gọi mùa tôi
       tiếng chuông đồng
vực âm
bay
        bay
                bay
        ghé
âm thầm
rũ trong thân phận
tiếng trầm cội rơi
Áo khoe buổi sớm
         sương mời
phù vân
thôi cũng nát đời như chơi
một âm ngang
lời kinh rời
ở đây
          đi đến
                    thường thôi
cõi này
 
*
 
Trịnh Y Thư
 

13 Bài HOKKU: Giọt Thu

 
1.
Cành táo oằn oài ngả
     Sẻ nghiêng đầu
          Giọt Thu lặng lẽ rơi.
 
2.
Sân nhà cũ
     Gió bạt – lá phong đỏ hiên sau
          Lặng im bờ tường rêu phủ.
 
3.
Mưa xóa nhòa ô kính
     Cẩm chướng và thược dược
          Căm căm trong màn đêm.
4.
Gió mùa Thu
     Lẻn qua khung cửa hẹp
          Dừng lại chân giường.
 
5.
Mây đùn bia mộ xám
     Lũ nhạn bay đã xa
          Mưa trong chiều ảo vọng.
 
6.
Tiếng mưa gõ đều đặn
     Lên mặt kính cửa sổ
          Thi thoảng có tiếng – chíp.
 
7.
Mưa nơi này
     Mưa Hà Nội
          Một ngàn năm – mùa Thu
 
8.
Tảng đá vườn sau nhà
     Vì sao mi khóc?
          Ôi mưa Thu.
 
9.
Cây ổi sau nhà
     Ra hoa ra trái
          Mưa Thu ưu ái vỗ về.
 
10.
Băng thảo ủ dột
     Cựa mình bên phiến đá
          Ẩn nhẫn đợi chờ.
 
11.
Vần vũ đám mây dị hình
     Xao động góc trời
          Trận bão lá.
 
12.
Hãy kêu lên thật to
     Chú ếch bạn tôi
          Mưa trong lòng trần thế.
 
13.
Duềnh nước tràn về
     Cơn lũ một đời
          Nước nước nước.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Phần lớn các nhà thơ nữ sinh sau cột mốc đau thương 1975, đã dường như nhẹ nhàng hơn, những ám ảnh của chiến tranh, ít bị day dứt hơn vấn đề ý thức hệ. Họ ít nhiều đã hưởng được quả ngọt của nữ quyền, thoát ra khỏi khung cửa chật hẹp của định kiến, góp phần nở rộ một dòng thơ mạnh mẽ, tự tin, khao khát tự do, và bản lĩnh, nói rất thực nhân sinh quan của mình về những mối tương quan trong một thế giới vật chất như hiện nay. Họ cũng rất phóng khoáng thể hiện những cảm xúc đam mê dạt dào nữ tính. Mang những trạng thái có vẻ như đối nghịch nhau như thế khiến dòng thơ của lớp thơ nữ này tỏa sức quyến rũ lạ lẫm, tạo nên một lớp độc giả với cảm thụ thi ca mới mẻ.
Khi toàn quốc chiến đấu, người phụ nữ cũng xuất hiện trên các chặng đường của đất nước. Chúng ta đã nhìn thấy hình ảnh người phụ nữ trong cuộc chiến ở Ukraine trên truyền hình, trên YouTube. Họ là các y tá, những chị bếp, hay người nữ chiến binh… nghĩa là tất cả những phương tiện phục vụ cho chiến trường chống lại quân Nga. Nơi đó, giữa những tiếng súng chúng ta nghe được từ màn hình TV, giữa những lời kêu gọi tác chiến, vẫn có những lời thơ đầy nữ tính từ đất nước đau khổ Ukraine. Nhà nghiên cứu Julia Friedrich của Viện Nghiên Cứu Chính Sách Công Toàn Cầu (Global Public Policy Institute - GPPi) tại Berlin trong bài nghiên cứu về hình ảnh phụ nữ tại Ukraine, nhan đề “Feminist Activism in Ukraine Usually Means Demanding More Weapons” (Hoạt động nữ tính tại Ukraine thường có nghĩa là xin thêm vũ khí) đăng trên tạp chí Tagesspiegel Online bằng tiếng Đức ngày 6/8/2022 cho thấy ngoài làn sóng di tản ra hải ngoại, còn rất nhiều phụ nữ ở lại Ukraine để trở thành trụ cột cho một giềng mối mới
Bà nổi tiếng với bộ tự truyện 6 cuốn. Quyển thứ nhất nổi tiếng nhất trên thế giới viết về 17 năm đầu đời của bà, I Know Why The Caged Bird Sings (1969), bà nói: “Đầu tiên người đời phải học cách chăm sóc chính mình để rồi có thể chăm sóc người khác. Đó là lý do làm cho “chim trong lồng hót”. Với tự truyện này bà được xem là một trong những phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên dám công khai bạch hóa đời riêng của mình. Maya Angelou được chọn làm “Người Phụ Nữ của Năm 76” (Woman of the Year) về Truyền Thông của tạp chí Ladies’ Home Journal. Giải Thưởng Matrix của Hội Women in Communications, Inc. vào năm 1983, Giải Thưởng Văn Chương North Carolina vào năm 1987, Giải Thưởng Candace 1990 của Cơ Quan Liên Minh Quốc Gia Phụ Nữ Da Đen (The National Coalition of Black Women).
Langston Hughes và Maya Angelou là hai tên tuổi lớn của nền thi ca da đen. Trang thơ xin bắt đầu với Langston Hughes. Ông sinh ở Joplin, Missouri, là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch. Thơ của ông kết hợp nhiều thể loại, mang đậm nét những bài hát dân gian da đen. Ông tôn vinh nền văn hóa người Mỹ gốc Phi châu trong thời kỳ được gọi là Thời kỳ Phục Hưng Harlem.
Là một nhà thơ, một nhà văn, và là một nhà báo. Hẳn là quá nhiều cho một đời người. Và rồi trở thành chiến binh, sau khi quân Nga tiến vào chiếm bán đảo Crimea và tấn công miền Đông Ukraine năm 2014: nhà thơ Borys Humenyuk đã tình nguyện ra trận chống quân Nga. Một số bài thơ của ông được dịch sang tiếng Anh trong tuyển tập Poems From The War, do hai dịch giả Oksana Maksymchuk và Max Rosochinsky thực hiện. Borys Humenyuk ra đời năm 1965 tại ngôi làng Ostriv, thị trấn Ternopil, miền tây Ukraine. Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà báo. Humenyuk đã tham gia tích cực vào những cuộc biểu tình cuối năm 2013 để dẫn tới Cách mạng Nhân phẩm (Revolution of Dignity) của Ukraine trong tháng 2/2014. Những câu chuyện về chiến tranh được kể trong thơ Borys Humenyuk là có thật, không hư cấu.
Chúng ta đều biết rằng Belarus là một nhà nước toàn trị, tuy mức độ cai trị không khắc nghiệt như ở Nga nhưng vẫn là độc tài hơn hầu hết các nước ở Châu Âu. Tuy nhiên văn học Belarus lại là một lĩnh vực không liên hệ bao nhiêu tới những cam kết chính trị của nhà nước Belarus trong nỗ lực hỗ trợ cuộc chiến của Putin tại Ukraine. Những bài thơ được dịch từ tiếng Belarus sang tiếng Anh đang phổ biến trên nhiều mạng trong học giới Hoa Kỳ cho thấy một khuôn mặt văn học Belarus rất mực thơ mộng của một dân tộc đang tìm tới chân, thiện, mỹ. Belarus có khoảng 9 triệu dân, thủ đô là Minsk, từng là một phần của Liên Xô cho tới năm 1991 tới tách ra, được cai trị bởi Tổng Thống Alexander Lukashenko từ năm 1994 (quá lâu, tới 28 năm nắm quyền tối cao). Biên giới Belarus vây quanh bởi Nga, Ukraine, Ba Lan, Lithuania và Latvia. Hơn 40% trong 207,600 cây số vuông (80,200 dặm vuông) là rừng. Belarus bị Thế Chiến 2 tàn phá, mất 1/3 dân số và hơn ½ tài nguyên kinh tế.
Di sản nghệ thuật của nhạc sĩ Cung Tiến không nằm ở số lượng, mà đầy ở phẩm chất. Ngoài những ca khúc, tấu khúc thuần tuý giá trị về âm nhạc, ông còn để lại những bài viết, tiểu luận dưới nhiều đề tài văn học, kinh tế, và truyện dịch. Chúng ta đã đọc, đã nghe khá nhiều về tài hoa và khả năng sáng tác của Cung Tiến từ tuổi 15 cho đến những năm tháng sau cùng. Trong những quà tặng ông để lại tôi đặc biệt yêu thích nghệ thuật phổ thơ thành nhạc của ông, chẳng những cho chúng ta thưởng thức giai điệu bán cổ điển tây phương, ngủ âm đông phương, mà còn mang thơ Thanh Tâm Tuyền, một trong vài thi sĩ hàng đầu trong thời đại của ông đến giới thưởng ngoạn nhạc nghệ thuật và lưu trữ vào kho tàng âm nhạc Việt. Thơ Thanh Tâm Tuyền không dễ phổ thành nhạc.
Như những tiếng cầu xin cứu vớt linh hồn chúng tôi / ngoài khơi bí mật đến tự một con tàu biển; / qua những mảnh danh từ dệt nên hồn mầu nhiệm / em vẫn chỉ là tóc mây cổ nõn và môi./ Sau áo len danh từ là thế giới xa vời, / là đêm không trăng sao là trùng dương thăm thẳm; / qua những chuỗi ngọc cười, em vui nước mất đẫm / vai anh, em buồn. Đêm hồn anh dài không nguôi.
Một cõi mênh mông các cảnh giới. Cũng là một chiếc kén bé nhỏ gói bí ẩn về giấc mơ một ngày kia sẽ tung ra muôn trùng tơ quấn quít hiện thực. Một khung cửa khép với chờ đợi, với cô lẻ số phận. Một bầu trời cao rộng với những đường bay mạnh mẽ hoan lạc của cánh chim tự do. Một mặt biển bị xao động bởi những con sóng ngầm làm ngạc nhiên thinh lặng của vực sâu. Là cánh cửa được mở tung bởi ngôn ngữ như những tiếng gõ dồn dập. Là bức tường bức phá bởi sức mạnh của ý tưởng. Là con đường hiểm hóc hay mượt cỏ, những bước chân vẫn đi tới đi tới. Ở đó bạn nghe được khát vọng tìm hạnh phúc chân thực như trở về cội nguồn tâm sâu thẳm. Ở đó bạn sẽ thấy cảm xúc mình bung ra như sắc mầu của chiếc kính vạn hoa. Ở đó, những con chữ như nam châm hút cảm xúc người đọc. Ở đó, từ trường say đắm thơ mộng của Đinh Thị Như Thúy, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Thùy Song Thanh, Vũ Quỳnh Hương.
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).