Hôm nay,  

Chủ nghĩa Poutine/ Putin!

30/04/202220:44:00(Xem: 6286)

Bình luận chính trị

putin

 

Muốn thiết lập một «chủ nghĩa» trong tiếng đa âm như tiếng Pháp thì rất đơn giản. Chỉ thêm tiếp vĩ ngữ «isme» sau một chữ hay tên một người thì có ngay thứ chủ nghĩa mà mình muốn. Thí dụ Pháp hiện nay có ông Tổng thống tên là Macron và được cai trị theo đường lối của ông. Cái đường lối chánh trị này được gọi là « chủ nghĩa macron » -- « macronisme ». Còn phe cánh cầm quyền hay dựa hơi Macron mà là ăn là «macronie».

 

Đây là cách nói của người Pháp và báo chí Pháp. Họ nói Staline và stalinisme, Mao và maoisme… Nhưng chưa bao giờ thấy họ nói «hochimin(h)isme» tuy họ vẫn nói Hochiminh. Phải chăng họ biết quá rỏ là ở Hồ Chí Minh không hề có một tư tưởng nào hay một đường lối cai trị nào là của chính Hồ Chí Minh, mà Hồ Chí Minh chỉ biết rặp khuôn làm theo chỉ thị của Mao và Staline mà thôi. Cỏ May tôi dài dòng để nói về Poutine và chủ nghĩa poutine, thứ đặc sản của ông ta, là «poutinisme».

 

Thử tìm hiểu «chủ nghĩa poutine» hay «poutinisme». Phải chăng đó là một thứ chủ nghĩa độc tài được kín đáo che giấu dưới những dàn dựng dân chủ, như có bầu cử qua phổ thông đầu phiếu, có Quốc hội làm luật, có tòa án, có vài tờ báo tự do buổi đầu, v.v… nhưng tiếp nối dòng lịch sử Nga, hoặc « chủ nghĩa poutine » không gì khác hơn là một hệ thống những nhà tài phiệt và những người thấm nhuần ảnh hưởng của KGB trong cách suy nghĩ và hành động. Chế độ chỉ tồn tại nhờ dựa vào một người mạnh.

 

Nhưng nói đơn giản, dễ hiểu, thì «tư tưởng poutine» «chế độ poutine» chỉ là một thứ nhà nước ăn cắp. Họ dựa vào chánh quyền mà ăn cắp tài sản của đất nước mà làm giàu. Như những chương trình giải tư, khai thác tài nguyên… Và chủ nghĩa poutine xuất hiện sau khi Poutine lên cầm quyền.

 

Poutine là ai?

 

Tới nay đã hơn hai mươi năm mà ở Nga vẫn còn nhiều người chưa biết Poutine là ai, từ đâu tới? Cuối tháng giêng 2000, tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, một phái đoàn Nga do Mikhail Kassianov, Thủ tướng tương lai, hướng dẫn tham dự một chương trình hội thảo về tương lai xứ sở Nga. Sau những bài diễn văn chánh thức, ký giả được mời đặt câu hỏi. Một

bà ký giả báo Huê Kỳ xin được đặt một câu hỏi. Và câu hỏi của bà rất đơn giảm: « Ông Poutine là ai?  Chúng tôi hoàn toàn không biết gì về ông ấy. Xin ông vui lòng cho chúng tôi biết ít nhiều về ông ấy ».

 

Ông Mikhail Kassianov, Trưởng phái đoàn Nga không trả lời, xoay qua những người trong phái đoàn. Nhưng không có ai trả lời được. Một sự im lặng nặng nề. Người điều hành Diễn đàn lặp lại câu hỏi. Vẫn không một tiếng thốt lên. Cả phòng im thin thít, bỗng mọi người cùng bật cười. Câu hỏi của bà ký giả Huê Kỳ vẫn không có câu trả lời. Cũng từ đầu năm 2000, người Nga cũng không ai biết Poutine là ai. Nhưng họ lại không đặt câu hỏi như bà ký giả Huê Kỳ kia.

 

Theo dân chúng Nga thì tên thanh niên vừa lên cầm quyền chỉ là một thứ hình nộm của bộ máy cầm quyền gồm những tay tài phiệt và những người của gia đình Boris Eltsine. Tên nài của họ đóng vai trò Quốc trưởng cho tới khi họ có người thay thế. Nhưng chỉ ít lâu sau đó, ngày 26/03/2000, Vladimir Poutine đắc cử Tổng thống Liên bang Nga. Và ông Tổng thống Poutine cai trị Liên bang Nga theo «chủ nghĩa poutine » hay «poutinisme», (theo tiếng Pháp) cho tới ngày nay.

 

« Chủ nghĩa poutine » hay « chế độ poutine »

 

Khi đề cập tới «chủ nghĩa poutine» hay «chế độ poutine», ký giả Patrick Meney dùng tiếng « cleptocratie» để gọi. Định danh chế độ. Từ «cleptocratie» có nguồn gốc ở tiếng Hi Lạp, ghép lại bởi « cleptos » có nghĩa là « ăn cắp » và « kratos » có nghĩa là « quyền lực ». Vậy từ « cleptocratie » có nghĩa rỏ ràng là « chánh phủ của những người ăn cắp ». Ký giả Parick Meney nói rõ thêm về tiếng « cleptocratie ». Đó là chánh quyền Nga, sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, giải tư các xí nghiệp nhà nước, và giai đoạn Boris Eltsine cầm quyền. Từ « cleptocratie » cũng bị biến chất khi nó được dùng để nói tới nạn tham nhũng phổ quát của chánh phủ.

 

Ông Karen Dawisha năm 2014 có viết một quyển sách nói về chế độ ăn cắp của Poutine ở Nga, nhan đề là « Chánh phủ của những người ăn cắp của Poutine ». Ông thuật lại nhờ đâu Poutine lên cầm quyền được, nhơn lúc ông ở Saint-Petersbourg trong những năm 1990. Ông cũng viết lại làm thế nào mà những người bạn thời học làm KGB của Poutine lại thủ đắc được những khối tài sản kếch xù và họ chia nhau nắm quyền. Mặc dầu lúc đó Poutine cam kết khi được bầu làm ông Tổng thống thì ông sẽ dẹp hết phe cánh tài phiệt xuất hiện vào những năm 1990.

 

Nhưng thực tế, Poutine đã xây dựng một thế lực cầm quyền gồm những người bạn thời KGB của ông và những người này có lối chừng hơn một trăm người đã chia nhau hết 35% tài sản quốc gia. Nay phần mỗi người bỏ túi đã vọt lên hằng chục, hàng trăm tỷ đô-la. Và ngày nay, những nhà tài phiệt này, dĩ nhiên đông hơn, đang nắm giữ số tài sản của họ bằng lợi tức nước Nga.

 

Thường những người này khi hốt được tiền, họ lo tìm cách bạch hóa ngay, để giấu đi nguồn gốc của tài sản có được, số lượng là bao nhiêu, nhờ những tài khoản ngân hàng ở các nơi không bị thuế (thiên đường khỏi thuế -- paradis fiscal).

 

Cũng nói về chế độ « cleptocratie », hay chế độ Poutine, học giả Jared Diamond lại cho một định nghĩa khác hơn. Nó đúng ra là một hệ thống chánh trị xuất hiện nhờ ở một nhóm người ưu tú cướp được chánh quyền mà không cần ở dân chúng. Một khi nắm được chánh quyền thì họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn.

 

Riêng ở Nga, từ « cleptocratie » thường được dùng để chỉ những nguồn lợi rút tỉa từ tài nguyên. Đặc biệt là dầu hỏa, khí đốt. Và cả khi đề cập đến các cách kinh tài ở những xứ thuộc Liên-Xô cũ.

 

Chủ nghĩa Poutine hay giấc mơ Poutine

 

Lúc sau này, Poutine tăng cường củng cố hệ thống đàn áp, nhờ đó mà sự tuyên truyền của ông ta có hiệu quả trong dân chúng Nga vì dân chúng vẫn tin là Nga thật sự có « sứ mạng đặc biệt ». Poutine đánh chiếm Ukraine là thi hành sứ mạng đặc biệt. Là thánh chiến, theo Giáo chủ Kiril ở nhà thờ Chúa Cúu Thế ở Moscou.  Poutine đánh Ukraine hoàn toàn không vì NATO / OTAN bành trướng qua sát biên giới Nga (*), như nhiều người bình luận, mà vì Nga có một « sứ mạng đặc biệt » đối với thế giới. Và « Nga mới là nước đại diện cho nền văn minh thế giới ».

Về bản chất của con người Poutine, theo sử gia Stephen Kotkin ở Đại học Stanford, thì Poutine chịu ảnh hưởng của một nhóm nhỏ những người độc tài sát nhơn bên cạnh Hitler và Mao trước kia như Staline. Ông ta ước ao sau này, khi chết sẽ có được một chỗ trong Văn miếu Nga (như Panthéon của Pháp), nằm bên cạnh Staline, hay Alexandre 1er và Pierre le Grand vì Pierre le Grand đánh bại vua Charles XII và Thụy Điển, đem lại cho Nga đường vào biển Baltique và làm cho Nga trở thành trọng tài của những vấn đề Âu châu. Còn Alexandre 1er đánh thắng Napoléon và chiếm Paris. Staline thắng Đức Quốc xã và chiếm Berlin.

Nhưng thực tế thì Poutine đánh chiếm Ukraine mà thất bại. Chỉ được thành tích giết hại thường dân, đàn bà, trẻ con, phá hủy những di tích văn hóa và tôn giáo của Ukraine, bị thế giới buộc tội: tội ác chiến tranh, tội diệt chủng, tội chống nhơn loại. Có thể sẽ bị đưa ra Tòa án Hình sự Quốc tế.

 

Thật rất tiếc, Nga vẫn là một nước có một nền văn hóa lớn, phi thường, là một phần không thể tách rời khỏi nền văn hóa thế giới. Như vũ ballet, opéra, văn học, khoa học… Thế mà trong lúc đó, Nga lại có một thứ chánh quyền luôn luôn gây hận thù, đau khổ cho thế giới và cả cho dân Nga, từ thời Nga hoàng cho tới thời cộng sản, và ngày nay là Poutine. Phải chăng vì nhiều người Nga vẫn hằng tin mình là một « cường quốc bảo hộ và văn minh » với một « sứ mạng đặc biệt » cho thế giới. Nhưng tầm vóc lại quá hạn chế.

 

Poutine có phải là ông Tổng thống hay không?

 

Không. Nhà đối kháng Alexey Minyaylo quả quyết Poutine không phải là ông Tổng thống mà chỉ là một tên lừa gạt. Như Poutine vẫn tuyên bố là toàn dân Nga đều ủng hộ việc ông đưa quân đánh Ukraine. Nhưng theo ông Alexey Minoyaylo, được dân ủng hộ mà tại sao Poutine lại cứ thay đổi chỗ ở luôn?  Ông ta ở một nơi mà chỉ có ông biết địa chỉ, tự giới hạn những hoạt động và những xuất hiện công cộng. Ông còn tăng cường sự canh phòng an ninh, cả trên hệ thống thông tin.

 

Để phản tuyên truyền, Alexey Minyaylo tổ chức cuộc thăm dò nghiêm chỉnh, nhờ sự giúp đỡ của một nhóm những nhà xã hội học, kết quả phổ biến cho dân chúng biết sự thật. Cũng về chuyện này, cả nhà tài phiệt Oleg Tinkov xác nhận hôm 19/4/2022 dân chúng Nga có tới 90% không ủng hộ Poutine đánh chiếm Ukraine mà còn cho đó là thứ « chiến tranh điên rồ». Theo kết quả những cuộc thăm dò độc lập, dân chúng thấy đánh chiếm Ukraine là một thứ tội lỗi. Họ lo âu và sợ hãi.

 

Từ đầu tháng ba, nhà cầm quyền cấm dân chúng nói « chiến tranh » hay « xăm lăng » mà phải nói đó là cuộc « chiến dịch quân sự đặc biệt ». Nhưng trên mạng thông tin, người ta vẫn nói chiến tranh với Ukraine, Poutine đánh Ukraine. Tuy nhiên những người Nga lớn tuổi lại có khuynh hướng ủng hộ Poutine chỉ vì Poutine là lãnh tụ nên họ ủng hộ. Lớp người này được giáo dục bởi bộ máy tuyên truyền thời cộng sản, lúc mà truyền thông chỉ có cái TV nên dân chúng chỉ được biết điều gì do chánh phủ muốn. Dân chúng nằm lòng câu « Đừng khác hơn », hãy giữ « giống y như mọi người ». Luôn luôn theo tập thể.

 

Poutine chẳng những chịu ảnh hưởng của Staline mà còn coi Staline là thần tượng, khi chết mong được nằm bên cạnh Staline. Năm 1953, sau khi Staline chết, có 4% dân chúng Nga bị Staline bỏ tù. Ngày nay, dưới sự cai trị của Poutine dân Nga có bao nhiêu người bị tù, bao nhiêu người bị sát hại vì chống đối?

 

Bao giờ chiến tranh Ukraine kết thúc?


Theo nhà đối kháng Alexey Minyaylo thì không phải trong vài tháng, trong nửa năm, mà chỉ hết chiến tranh khi không còn Poutine. Nhưng có vài nhà báo Nga lại có nhận xét khác hơn. Theo họ, lúc đầu dân chúng Nga, phần lớn đều chống chiến tranh ở Ukraine do Poutine gây ra nhưng tới khi Huê Kỳ và Âu châu áp dụng những biện pháp trừng phạt Poutine về kinh tế làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống dân chúng thì họ thấy Poutine có lý khi chống Tây phương nên họ đoàn kết lại và ủng hộ Poutine.

 

Nhưng thử nghĩ trong tình hình này, việc chiến thắng ở Ukraine còn nhiều khó khăn, liệu Poutine có thể nắm chánh quyền trong bao lâu nữa? Trong lịch sử Nga, Nga Hoàng Đệ I bị sĩ quan của mình ám sát. Còn Krouchtchev bị loại khỏi bộ máy cầm quyền. Chỉ có Staline cầm quyền lâu hơn hết. Ông vẫn là khuôn mặt thống trị nước Nga. Poutine là người phản bội tất cả những ai đã ủng hộ ông ta từ lúc ban đầu. Vừa rồi, đã có 4 nhà tài phiệt lớn về dầu hỏa và khí đốt, từng sát cánh với Poutine (các ông Leonid Schulman, Sergei Protosenya, Vladislav Avayev và Mozhem Obyesnit) bỗng ngã ra chết với cả gia đình vì tự tử. Poutine đã từng nói « Đừng để cho con chuột nào chạy thoát. Chúng nó chạy được ra nước ngoài, sẽ nói những điều không hay».

 

Ngày giao chánh quyền cho Poutine, Boris Eltsine căn dặn «Anh hãy chăm lo cho nước Nga». Nhưng những thành phần ưu tú đứng phía sau Poutine không bao giờ được biết ông ta đã tự ý biến nước Nga trở thành một thứ Bắc Triều Tiên khổng lồ. Bỗng họ bị cắt những liên hệ với thị trường quốc tế, không còn những cuộc nghỉ hè ở ngoại quốc, con em của họ không được theo học những trường quốc tế. Những người này cũng không hề được biết Poutine tự ý biến nước Nga làm chư hầu Trung quốc để đổi lấy hiệp ước đối tác chiến lược.

 

Nhưng nên nhớ Poutine đang nắm trong tay cơ quan mật vụ FSB lo tập trung bảo vệ an ninh cho ông bằng một mạng lưới dày đặc, từ những người võ trang tới anh bếp, chị bồi, tài xế. Mỗi khi có ai tới gần ông đều bị FSB kiểm soát kỹ lưởng nên mọi toan tính ám hại ông đều khó thực hiện. Chỉ có dân chúng bất mãn vì đời sống khó khăn do lạm phát mà nổi loạn.

 

Nhưng ở đời vẫn thường xảy ra những chuyện không ai ngờ. Bỗng một hôm có một người Nga nào đó xuất hiện tuyên bố thay thế Poutine, được một bộ phận lớn những người ưu tú ủng hộ. Ông chủ trương đưa nước Nga hội nhập vào thế giới dân chủ tự do để phát triển, sống hài hòa thay vì đối nghịch và gây hấn thường xuyên với Tây phương như trước giờ. Đức và Nhựt đã chọn con đường này sau Đệ II Thế chiến và nhờ đó đã trở thành cường quốc.

 

-- Nguyễn thị Cỏ May

 

(*) Năm 1997, Bill Clinton và Boris Eltsine đã ký Hiệp ước thiết lập quan hệ giữa NATO và Nga, qui định không có giới hạn NATO mở rộng qua những nước cựu thành viên Hiệp ước Varsovie hoặc những nước thuộc Liên-Xô cũ. Eltsine đã phản đối qui định này nhưng đã thất bại, mặc dầu ông vẫn nhắc lại ý của ông chống lại trong một cuộc họp báo.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.