Hôm nay,  

Tiễn Biệt Mộng Hoàn – Hoàn Mộng

24/08/202014:19:00(Xem: 6499)

 

                                 

 

                                                                        Bách niên hư huyễn giai do vọng,

                                                                                                Hoàn mộng kim triêu kiến mộng hoàn.

                                                                                                (Trăm năm lãng đãng do hư vọng,

                                                                                                Tỉnh giấc mơ nay thấy mộng thành.)

                                                                                                                                                Trình Hạo

 

Mong HoanPhan Mộng Hoàn (11-7-1942 – 19-8-2020)


            Sáng nay, anh Hoàng Ngân Hà, người bạn lưu niên ở cùng thành phố Sacramento thủ phủ tiểu bang California, nhắn tin: “Phan Mộng Hoàn ra đi hôm qua! Đoàn biết chưa?”. Tôi mới đọc xong tin nhắn và mới uống hết nửa ly trà Bắc Thái thì có tin anh Hà nhắn tiếp: “Đoàn biết Diệu Phương, người đẹp của Huế (ở bên Gia Hội - Mã ông Trạng) cũng đã ra đi ở Canada? TKL viết một bài tưởng niệm cảm động lắm!”

            Xin lắng lòng hướng niệm về Mộng Hoàng quen thân và Diệu Phương nghe tiếng.

Tuy chưa được đọc bài viết cảm niệm của Thái Kim Lan nhưng tôi được biết Kim Lan và Mộng Hoàng là hai người bạn chí thân. Tình bạn của hai người sâu đậm và êm đềm như nguồn tình xứ Huế. Nhớ lần cuối gặp cả hai người bạn tâm giao nầy tại nhà Mộng Hoàn ở San Jose. Hôm đó, Kim Lan đã leo lên mái nhà khách của Mộng Hoàng múa kiếm. Bằng hữu có quan tâm hay không đến đường kiếm khuynh thành của Kim Lan thì tôi không rõ lắm; nhưng tôi lại trân trọng vô cùng tình bạn tri âm, tri kỷ của hai người trong suốt chặng đường dài của Huế - Đức - Mỹ với bao cảnh ngộ thăng trầm dâu biển nhưng vẫn giữ được sự hồn nhiên, trong sáng và chí tình của một thời… thiệt Huế!
            Tình trạng cách ly và giãn cách xã hội của thế hệ già như chúng tôi tại California đã qua tuần thứ năm. Cuộc sống hằng ngày, vô hình trung, dừng lại ở hiện tại và quá khứ vì tương lai là một sự đợi chờ trống không và vô vị. Nhưng hiện tại cũng chỉ là sân ga đợi tàu, những chuyến tàu đời mang biển số vắc-xin chưa biết bao giờ mới đến.
            Bóng dáng vắc-xin trị Covid-19 thì có vẻ như đang lấp ló đâu đó ở cuối đường hầm, nhưng vắc-xin chuyên trị nỗi nhớ và xóa nhòa hoài niệm ngày qua khi con người muốn quên quá khứ thì e rằng sẽ không bao giờ có được.
            Những ngày cách ly như thế này mà nghe tin một người bạn vừa vĩnh viễn ra đi thì nỗi buồn sẽ nhân đôi: nỗi buồn của sự mất mát cộng với nỗi buồn của niềm cô độc. Mất mát, sinh diệt là chuyện cũng phải đành nhưng nỗi cô độc thời đại dịch thì hiện ngay trước mặt và ở trong tầm tay mà không với tới được. Làm sao đến tiễn biệt bạn quý trong lúc này đây; giữa lúc người sợ gần nhau và e sợ luôn cả không khí là mầm sống thiết thân trong từng giây phút một.

            Câu trả lời quá dễ và đơn giản như tìm gặp nắng giữa trưa Hè nhưng lại khó quá không thể được như bắt nắng giữa đêm Đông. Nắng chỉ là một, thân người không hai nhưng bên này và bên kia tuyến dịch thật khó tương phùng.
            Mộng Hoàn là ái nữ của cô giáo hội họa Maria Mộng Hoa, là đồng nghiệp dạy Văn, là bạn văn nặng tình về Huế cùng thế hệ và cùng cảnh ngộ tha hương; tôi quen biết,  tiếp cận và thân quý chị Phan Mộng Hoàn vì những mẫu số chung như thế.
            Qua những năm dài xa Huế, chúng tôi thường “gặp” nhau trên nhiều đặc san, sách báo và trang mạng với chủ đề Nhớ Huế  . Có lần mùa Tết, tôi lo sốt ruột nhưng cũng chia chung nụ cười với chị Mộng Hoàn khi chị nói “làm đày” vì chúng tôi được các tờ báo Xuân Nhớ Huế trong nhiều tiểu bang ở Mỹ cũng như các nước ưu ái và tha thiết mời viết báo Xuân, rằng:

“Nhớ Huế chi mà nhớ ác rứa. Xum nhau mà nhớ một lần như ri thì ai viết nổi...” Thế nhưng tôi thì còn lơi tay chứ Mộng Hoàn thì cày sâu cuốc bẩm gắng không để tờ báo nào thất vọng. Ra Tết, về San Jose, gặp chị ở ngày hội Nhớ Huế. Mới thấy mặt là chị la liền:

 “Nhà văn Cơm Hến năm ni không có bài cho Nhớ Huế... coi chừng gặp con tinh le TNTN hắn la khéo cho thì ốt dột đó nghe.”

Tôi cười cười chia sẻ với chàng rể Huế, anh Hồ Sỹ Hùng, đức lang quân của Mộng Hoàng đang đi bên cạnh:

“Mấy O Huế mà mắng khéo mới thấm thuốc chứ la thì càng nghe vui tai nữa chớ, phải không anh Hùng?”  
            Có vẻ như dân Huế tha hương thương vùng đất quê mẹ của mình da diết và nao lòng hơn bất cứ nhóm cư dân sống xa quê nào khác mà tôi được biết và được gặp trong 40 năm trên đất khách. Số lượng các Hội Huế, Nhớ Huế, Thương Huế, Thừa Thiên Huế, Quốc Học Đồng Khánh... hầu như thành hình và có mặt bất cứ ở đâu có người Huế ở gần nhau.

            Trước năm 1975, Huế cũng đã một thời nức tiếng là vùng đất của nghệ thuật và nghệ sĩ. Những bóng dáng tư mã áo xanh thời đại không còn để nỗi ngậm ngùi làm ướt đẫm áo xanh Giang Châu mà thành biểu tượng áo trắng qua cầu bên bờ sông Hương. Khi các tiền bối “thi đáo Tùng, Tuy” thành huyền thoại thì một thế hệ văn nghệ sĩ “lãng mạn hiện sinh khói lửa” thế hệ đàn anh, đàn chị như Thông Đạt, Trịnh Công Sơn, Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Kiêm Minh, Kiêm Thêm, Tô Kiều Ngân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tôn Nữ Hỷ Khương… đã kết thêm màu tím và mù sương cho Huế.

            Sau năm 1975, man mác sông Hương thành bờ sông Dịch khi nhiều ôn, nhiều mụ bỏ Huế mà đi. Dân Huế cột cờ càng tha hương, càng thao thiết với viễn mộng và tâm ảnh “ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên” như Nguyễn Bính ngày xưa.

            Cảm hứng và nhu cầu sáng tạo nghệ thuật để tạm quên đi thực tại chua chát và ngoái trông vời một thời mật ngọt đã làm cho hết thảy dân Huế xa quê thành nghệ sĩ –  nghệ sĩ sáng tác hay nghệ sĩ tâm hồn – để cho thực tại trộn lẫn với ước mơ mà thêm hương hoa cho cuộc sống. Trong nước thì anh chị em viết và lách để tự trả món nợ tiền thân “Hương Giang nhất phiến nguyệt, kim cổ hứa đa sầu” như Nguyễn Du xúc động nhìn màu Quan San khi Thu về với Huế. Những người Huế và bạn Huế viết về Huế trong những ngày xa Huế trải rộng khắp xứ người. Đối với người trăn trở với từng chữ, từng nhóm chữ, từng câu chữ phát tiết từ trong tâm thức khi viết về Huế thì viết về Huế quá dễ mà cũng quá khó. Dễ như bữa ăn Huế mà khó như món ăn Huế. Huế nghèo, bữa ăn qua loa đạm bạc thế nào cũng xong. Nhưng món ăn Huế đúng điệu, đúng nghệ cũng đa đoan như làm thơ lục bát: Phổng xả thì thành vè mà khắt khe thì thành chú! Một tô bún bò Huế điệu nghệ dễ gì tìm ra.

            Các tác giả viết về Huế ở các xứ ngoài tự nhiên như ngó sen hồ Tịnh cũng nhiều mà do “thời thế tạo văn tài” cũng không ít… Xa Huế mà đi từ sớm thì có Võ Quang Yến, Thái Kim Lan, Nguyễn Tường Bách… Đi sau và đi muộn thì có rất nhiều, kể hết sợ sót, nhưng sơ sơ thì có: Hoàng Nguyên Nhuận, Bùi Minh Đức, Hồ Đăng Định, Tuệ Chương Hoàng Long Hải, Phan Mộng Hoàn, Y La Lê Khắc Ngọc Quỳnh… và xin cáo lỗi về sự lạm dụng dấu bỏ lửng ba chấm (…) vì theo thời gian, ký ức đã phôi pha nên chỉ đủ khả năng ghi lại những tên tuổi tôi đã gặp và đọc nhiều lần nên vẫn nhớ.

Những tên tuổi vừa ghi, trẻ nhất cũng trên 70 tuổi và cao niên nhất trên 90 tuổi thuộc về một “thế hệ trôi nổi”. Thế hệ Trôi nổi (Drifting Generation) cũng như Thế hệ Mất dấu (Loss generation) của Mỹ thời kỳ sau thế chiến thứ hai. Nghĩa là một thế hệ mà khi nhìn về quá khứ chẳng thấy dấu vàng son và nhìn về tương lai bơ vơ không định hướng. Dù ở Việt Nam hay ở Mỹ thì cái tâm lý tha hương, trôi nổi hay xa lạ trên chính quê hương của mình làm cho những bài viết, truyện ngắn, truyện dài, biên khảo thơ văn viết về Huế là một sự nhớ nhung, thương tiếc không nguôi về quá khứ. Bạn đọc cứ lật ra bất cứ một trang Nhớ Huế nào thì sẽ chỉ thấy một khung trời quá khứ và một tâm trạng và cảm xúc đòi đoạn thương vời quá khứ. Phan Mộng Hoàn, một tác giả viết nhiều, viết đều và viết đầy những cảm xúc về Huế trên nhiều đặc san, trang mạng xã hội online nhưng chị chỉ mới xuất bản một tác phẩm với hình thức sách báo giấy về Huế: Hoàng Hôn Thôn Vỹ. Đây là một tuyển tập gồm 18 bài viết tiêu biểu của Mộng Hoàn về Huế.

 

http://art2all.net/tho/phanmonghoan/hoanghonthonvy/hoanghonthonvy.htm

 

            Phan Mộng Hoàng là một nghệ sĩ đa tài. Bên cạnh tài hoa văn bút, chị còn kế thừa tài năng của thân mẫu về Hội Họa. Nếu họa sĩ Maria Mộng Hoa nổi tiếng với những bức tranh với nội dung truyền thống và gam màu cổ kính thì những tác phẩm tranh của Phan Mộng Hoàn có nội dung tươi trẻ và gam màu nhẹ nhàng nhưng sôi nổi hơn. Ngoài ra, Phan Mộng Hoàn còn là một tác giả điêu khắc với những chân dung và tĩnh vật mang biểu tượng nhịp cầu giữa hai khuynh hướng cũ và mới tương đồng, hòa quyện trong thời gian sáng tác tạo hình ở Mỹ. Cuối đời, chị còn được biết đến qua nhiều hoạt động từ thiện, nhân đạo vớì những linh hồn thai nhi bất hạnh.

            Hôm gặp nhận sách ký tặng chị Mộng Hoàn cho biết là số bài viết của chị hấu hết là những ký sự, hồi ức, nhận định, suy tư về Huế đủ để in thêm vài ba tuyển tập như Hoàng Hôn Thôn Vỹ nữa. Tôi nói miệng đùa mà bụng thật: “Margaret Mitchell chỉ có Cuốn Theo Chiều gió (Gone with the Wind), Felix Arvers chỉ có một bài thơ Tình Tuyệt Vọng (Un Secret) mà nổi tiếng cả đời thì biết mô…” Chị đập một phát rất Huế: “Nói ác! Mô dám… hui miệng hui mồm.” Tôi biết là gặp cao thủ nên nói chữ: “Chị là Mộng Hoàn chớ có phải là Mộng Hoàng Lương mô. Hoàn, bộ miên năm nét, là hoàn thiện, hoàn mãn, hoàn mỹ giấc mơ đó.” Cười, vui là chính.

            Nhớ thời hơn hai mươi năm trước, khi tôi xuất bản những tập sách viết về Huế như Chuyện Khảo Về Huế, Con Yêu Bánh Nậm, Từ Ngõ Huế Xưa… thì chị Mộng Hoàn giúp quảng bá cũng như phát hành sách nhiệt tình và năng nỗ nhất. Sách mới như đứa con đầu lòng, được bằng hữu như chị Mộng Hoàng thương mến, khen ngợi quả là những kỷ niệm trân quý khó quên.

            Mới đó mà đã mấy năm rồi không gặp lại chị Phan Mộng Hoàn và anh Hồ Sĩ Hùng. Thời gia qua nhanh quá. Tuổi hoa niên: đi; trung niên: chạy; cao niên: bay. Chị Mộng Hoàn đã bay về vùng trời có Giấc Mơ Hoàn Thiện như tên của chị.

            Chặng đường của chị Mộng Hoàn giữa cuộc đời nầy (đến: 11-7-1942 và đi: 19-8-2020) là quãng đường đầy trăn trở của quê hương và duyên nghiệp hóa thân trên mỗi số phận của con người. Ý nghĩa về hương hoa của cuộc sống không ai giống ai; cái sướng khổ của người nầy có thể không mang cùng ý nghĩa với người kia nhưng mẫu số chung cho một góc khuất tình cảm đẹp nhất của người Huế là xa mặt nhưng không cách lòng: Càng xa Huế, càng thương Huế!

            Chị Mộng Hoàng ơi, chị vừa xa cõi trần gian, xa bạn bè một thời để thân và một thời để nhớ. Mong chị được nương Hồng Ân thiêng liêng để sớm về cõi Bình Yên Vĩnh Cửu. Một chút tình quê hương Việt Nam xứ Mẹ, một chút tri ân chốn cưu mang hào phóng Hoa Kỳ và một chút lưu luyến về xứ Huế thương thương sẽ kết thành vòng hoa đưa chị lên đường.

Rồi không. Cát bụi về nguồn,

Mưa rơi có thấm nỗi buồn của mây.

Tiễn biệt chị Mộng Hoàn.  

 

                             Sacramento, Cali giữa mùa cách ly Covid-19; tháng 8-2020.

                                                              Trần Kiêm Đoàn  

                  

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.