Hôm nay,  

Ngày Của Mẹ

09/05/202010:52:00(Xem: 4141)

A white flower on a plant

Description automatically generated

                                                                                                                                                                                                    

Tôi đến thăm nghĩa trang vào lúc trời đã ngả về chiều. Nghĩa trang của dòng tộc tôi nằm sát chân núi Cà Đú, một rặng núi cuối cùng của dãy Trường Sơn, nằm về phía Bắc thị xã Phanrang chừng 10 cây số. Cách đó không xa hai đỉnh núi Đá Xanh, Đá Mài thuộc dãy Trường Sơn vẫn còn sáng chưa kịp ngả sang màu tím sậm. Gần kề bên con lộ một Nghĩa Trang Liệt Sĩ, ‘mộ bia đề như nấm’ như trang sử mở âm thầm khuấy động những nỗi buâng khuâng.

Tôi thắp nén nhang và đặt trên phần mộ Mẹ tôi một bó hoa huệ trắng. Mẹ tôi nằm ở đây đã hơn 20 năm, và bà mãi mãi ở tuổi 93. Nghĩa trang chiều hôm nay trông bao la yên ắng, chỉ nghe tiếng lá rừng xao xác, tiếng rì rào mơ hồ vọng về từ cõi hư vô. Khói nén nhang lan tỏa vây quanh bia mộ, hoa huệ trắng thơm tím chiều hoang vắng. Trong khoảng không gian tĩnh lặng ấy, tôi chơt nghe mấy hồi chuông vẳng từ “Thiền Viện Trúc Lâm Viên Ngộ” ở bến đò Tri Thủy. Hình như đã đến giờ cầu kinh chiều. Lòng tôi chùng xuống nhớ thương Mẹ vô hạn khi đứng trước cảnh rừng chiều hoang sơ. Tôi bưng mặt khóc, như chưa bao giờ được khóc. Tôi khóc rống lên với tất cả nỗi niềm nhớ nhung triều mến và lòng biết ơn Mẹ chất chứa trong tôi, chưa kịp thưa với Mẹ trước khi bà qua đời. Con xin cảm ơn Mẹ những đêm và những tháng ngày Mẹ lo âu cho số phận của con trên bước đường lưu vong xứ người. 



Nhìn lên bầu trời nắng hòang hôn, một buổi chiều vàng đang trải rộng thênh thang trên nghĩa trang. Gió Trường Sơn thổi về mang theo khí mát lạnh. Nơi đây luôn vẫn là nơi cô tịch với thế giới bên ngoài. Không một ai có thể ngờ biết bao hệ quả của chiến tranh và những cuộc biển dâu đã từng đi qua nghĩa trang này. 

Tôi là người duy nhất đến viếng mộ Mẹ hôm nay, nhân Ngày Của Mẹ. Tôi đến thăm lại con suối xưa, mang ánh nắng hòang hôn miệt mài chảy dọc theo nghĩa trang. Lòng suối trong vắt với những viên đá cuội tròn trịa lấp lánh những mảnh kim khí nhỏ li ti óng ánh màu vàng. Ở tuổi ấu thơ tôi thường nhặt lấy đem về khoe với Mẹ như những viên ngọc quí đầu đời. Những viên đá cuội vẫn còn đó, lấp lánh dưới ánh mặt trời, nhưng con suối và tôi đã hoàn toàn thay đổi. Con suối xưa trông chừng như nhỏ lại, còn tôi thì già đi. Câu bé năm xưa nay là một lão già ở tuổi tám mươi lăm. Bỗng dưng tôi muốn khóc như đưa trẻ thơ khi biết mình không còn mẹ.

Mặt trời đã khuất sau dãy Trường Sơn. Hai đỉnh núi Đá Xanh, Đá Mài đã lẫn trong bầu trời chạn vạn. Chợt một vùng ánh sáng lóe lên và nhiều tiếng bom nổ nghe chừng ở tận dãy Trường Sơn. Tôi giật minh thức giấc, nhìn qua khung cửa sổ, tôi nghe thấy sấm chớp. Ngoài kia hình như trời đang chuyển mùa. Tôi bật đèn sáng đến kéo kín các màn cửa sổ. Tôi ngả người nằm xuống bên canh vợ. Vợ tôi  đang ngon giấc nhưng hai khóe mắt của bà loan loáng nước mắt. Tôi tăt đèn và cố ru giấc ngủ với một ít băn khoăn...Chợt vợ tôi xoay người lại, đưa tay choàng cổ tôi hôn tha thiết, nói: Sáng mai Chủ nhât 10 tháng 5- là Ngày Của Mẹ. Vợ chồng mình nhớ đi viếng mộ Mẹ em ở nghĩa trang Evengreen Cemetery. Nhớ nghe anh.../.   

Đào Như

Chicago

Viết vào ngày giỗ thứ 23 của Mẹ chúng tôi.






 




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Những suy nghĩ dưới đây như một cách tự đối thoại với câu hỏi của chính mình: tại sao “kịch văn học” gần như biến mất trong văn chương hải ngoại? Trước hết cần phân biệt kịch văn học và kịch giải trí. Kịch giải trí hướng đến tiếng cười và cảm xúc tức thời của khán giả. Nó có thể linh hoạt, ứng biến, thậm chí chấp nhận đơn giản hóa xung đột để phục vụ nhu cầu thưởng thức (ví dụ: kịch trình diễn trên Paris By Night). Kịch văn học thì khác. Nó không tìm cách làm vừa lòng người xem, mà đặt con người vào những tình huống va chạm gay gắt, buộc nhân vật phải lựa chọn, đối diện và trả giá. Ở đó, đối thoại không chỉ để kể chuyện, mà để phơi bày mâu thuẫn tinh thần, xã hội và đạo lý.
Một dân tộc có tài, nhưng không tin vào tài. Người Việt thường được khen là khéo, nhanh trí, ứng biến giỏi. Nhưng tài năng ấy nhiều khi vận hành như chiến thuật sinh tồn, không phải xung lực sáng tạo. Trong văn chương, điều này hiện ra rất rõ: các tác giả Việt thường tin vào nỗi đau hơn là vào tư tưởng. Nỗi đau dễ được đồng cảm, tư tưởng dễ bị nghi ngờ. Vì thế, tài năng Việt giống ngọn đèn không dám mở sáng hết bóng mình. Nó sáng vừa đủ để thấy đường, nhưng không đủ để soi cái bóng đang cầm đèn. Đó là lý do, dù có nhiều nhà văn tài hoa, văn chương Việt vẫn thiếu một “không gian tin tưởng triết học” – tức niềm tin rằng viết là hành động tư tưởng, chứ không chỉ là kể chuyện hay cảm xúc.
Văn xuôi tốt là cửa sổ trong suốt. Từ ngữ phải vô hình, để người đọc nhìn thẳng vào hiện thực mà văn xuôi tiết lộ. Vẻ đẹp có đó, nhưng nó chỉ làm cho cửa sổ trong sáng hơn, không làm cho người đọc nhìn vào chính tấm kính. Nghi lễ của thánh lễ không phải là đức tin; nó sắp đặt các đam mê. Sự hài hòa của từ ngữ, vẻ đẹp của chúng, sự cân bằng của các cụm từ, sắp đặt các đam mê của người đọc mà anh ta không biết và sắp xếp chúng như thánh lễ, như âm nhạc, như khiêu vũ.
Tam canh ngồi niệm Phật Quan Âm | Trước mắt gương treo vừa đúng tầm | Sáng rực bên này sông Bất Nhị | Tám phương chợt hiểu Phật là Tâm
Bạn nghe một người nói, nhưng không lên tiếng, bạn suy nghĩ nhưng không bộc lộ. Bạn nén sự giận dữ xuống, bạn bôi xóa sự khinh bạc, bạn chờ cho những lời ca tụng giả dối lắng xuống, bạn giữ lại lời khen ngợi đối với một người xứng đáng thêm một ngày nữa, để nó được nung chín trong lòng.
Cầm cuốn sách mới trong tay, tôi lại nhớ có lần ở quán cafe, Trịnh Y Thư băn khoăn, không biết chúng mình in sách vào thời này có phải là chuyện vô ích không, có phải là quá mơ mộng không. Với đa số, nhất là thế hệ trẻ hơn thì có lẽ là cái gật đầu, nhưng đối với chúng tôi, chúng tôi yêu quý cái vô ích, cái mơ mộng ấy. Tôi xin chia sẻ với quý vị cảm xúc rất riêng của tôi về sách. Nếu không có sách làm sao ta có thể cầm được trên tay cái vật thể nhỏ bé này, một thành quả nhìn bắng mắt cầm bằng tay, chứa đựng trong đó những con chữ đồng hành cùng những phút giây cảm hứng. Không có sách làm sao tôi có thể cảm nhận được trọn vẹn cái sức nặng của hạnh phúc hữu hình trên trang giấy với những dòng chữ ký tặng này? Và khi đọc sách, nghe được tiếng sột soạt khi lật trang giấy, ngửi được mùi giấy mới và cả mùi hương của sáng tạo. Một khi không còn ai in sách nữa thì những tủ đựng sách đẹp đẽ sẽ là món đồ cổ chứng nhân một thời kỳ sách huy hoàng. Và nếu không có sách thì làm sao chúng có được nhữn
Một truyện ngắn kinh điển của văn hào André Maurois, qua bản dịch của nhà văn Thân Trọng Sơn.
Không phải ngẫu nhiên mà Viết Về Nước Mỹ được nhà thơ Nguyên Sa gọi là “Lịch Sử Ngàn Người Viết.” Mà nếu tính cho đến ngày hôm nay, con số “ngàn” ấy chắc đã lên tới chục ngàn, trăm ngàn. Viết Về Nước Mỹ năm nay là năm thứ 25.
Trong không gian tĩnh lặng của một buổi sớm mùa thu tại thủ phủ Sacramento. Trời đã se lạnh, gió mùa vừa sang và những cơn mưa cũng đang bắt đầu nặng hạt, con chắp tay hướng về phương trời xa, nơi pháp thân Thầy vẫn tỏa rạng giữa hư vô. Bao nhiêu lời muốn nói, rồi bỗng hóa thành im lặng, vì làm sao dùng được lời phàm để nói hết công đức, trí tuệ và từ bi của một bậc Thạc đức như Thầy, người mà bốn chúng gọi là bậc minh sư, bậc long tượng Phật Giáo Việt Nam – Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ – người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp, dân tộc và nhân loại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.