Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tìm Kiếm Hoà Bình Tại Việt Nam

27/04/202009:55:00(Xem: 551)

Phỏng vấn Henry Kissinger 

Winston Lord thực hiện


blank


Dịch giả: Đỗ Kim Thêm


***

Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ.

Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt. 

Vấn đề là các tiến bộ chỉ có thể đạt được trong các cuộc mật đàm, nhưng vì nó còn bị dấu kín, nên các thái độ mềm dẻo của chúng ta cũng như cứng rằn của Hà Nội không được công luận biết đến. Vì thế, chúng ta phải trả một cái giá quá đắt cho những ủng hộ cho chính sách của chúng ta và làm cho Bắc Việt càng thêm cứng rằn.

***


Winston Lord: Chúng ta hãy nói về vấn đề Việt Nam. Trong cuộc thảo luận trước đây, ông đã mô tả tổng quát về tình hình chính trị của Mỹ khi ông nhậm chức vào năm 1969. Bây giờ, chúng ta nói về chiến tranh Việt Nam, vừa tình hình trong nước cũng như các cuộc hoà đàm đang diễn tiến. Chính phủ Johnson đã để lại cho ông di sản nào?


Henry Kissinger: Vào tháng Giêng năm 1969, chúng ta đã có 500.000 binh sĩ tham chiến tại Việt Nam và theo kế hoạch của Johnson, quân số này còn phải tăng lên. Trong hai tháng đầu tiên sau khi Nixon nhậm chức, 34.000 quân sẽ gởi tới Việt Nam, theo một thời biểu được đề ra trong thời kỳ của Johnson. Vào thời điểm này, chúng ta đã có 31.000 người hy sinh. Trong cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân, con số tử vong hàng tuần là khoảng từ 500 cho đến 1.000 người.


WL: Các cuộc thương thuyết vừa mới bắt đầu. Thực ra, một trong các quyết định của Nixon đề ra trong tuần cuối cùng của Johnson còn tại chức là nhằm cùng song hành với sự phá vỡ bế tắc các thủ tục cho tiến hành đàm phán. Nixon có thể trì hoãn việc này một cách dể dàng cho đến trong nhiệm kỳ của ông. 


HK: Các cuộc đàm phán hầu như chỉ lo về các vấn đề thủ tục liên quan đến việc liệu chính phủ Nam Việt Nam có tham dự hoà đàm cùng với Mặt trận Giải phóng miền Nam không. Trong khi thương thuyết bế tắc, phía Mỹ không đề ra một đề nghị cụ thể nào để khai thông. Đề nghị duy nhất của Bắc Việt là Mỹ rút quân và lật đổ chính quyền miền Nam trước khi bất kỳ một cuộc đàm phán nào bắt đầu. Đến cuối các cuộc đàm phán vào tháng 10 năm 1972, Hà Nội không bao giời thay đổi hai đòi hỏi này. 

Chúng tôi chỉ đề cập đến vấn đề này, bởi vì có huyền thoại cho rằng bằng một cách nào đó đàm phán sẽ tự tiến triển nếu như Nixon không can thiệp. Điều này là vô nghĩa. Bắc Việt đã có quan điểm cơ bản này và không thay đổi ngay trong những ngày đầu khi Johnson thoả thuận ngưng ném bom. Cho đến tháng 10 năm 1972, Bắc Việt không thay đổi các chủ điểm mà chúng tôi quan tâm.

 

WL: Khi nhận nhiệm vụ, ông có biết là được úy nhiệm để chấm dứt chiến tranh Việt Nam không? Nói như vậy có thể là công bình  không?


HK: Trong một cách nào đó thì đúng như vậy, nhưng không trong ý nghĩa là làm suy yếu khả năng của Mỹ trong việc bảo vệ hoặc hủy diệt tự do của Đồng Minh. Chúng ta phải nhớ lại là trong chiến tranh Việt Nam, hình thức tôn sùng bạo lực đã nảy sinh trong các cuộc tranh luận về nội chính. Dĩ nhiên, trước đó, đã có bất đồng trầm trọng trong quan điểm giữa đảng Dân chủ và Cộng hoà, nhưng khi cho rằng chính quyền chỉ bao gồm những kẻ nói dối đáng tội hình, họ vi phạm tội ác chiến tranh, vấn đề chỉ xuất hiện vào thời điểm khốc liệt đó. Do đó, việc biểu tình của đông đảo quần chúng và tẩy chay chính quyền làm cho Wahsington tê liệt. Tình trạng này phát triển trong chiến tranh Việt Nam.


WL: Và tôn vinh kẻ thủ là có ưu thế hơn về mặt đạo đức? 


HK: Và tôn vinh kẻ thù. Bất kể chúng ta theo đuổi động thái nào, chúng ta bị cáo buộc là hành động có gian ý để âm thầm kéo dài chiến tranh, vì một số lý do mơ hồ. Tôi yêu cầu một cộng sự viên nghiên cứu xem chúng ta nhận được New York Tines hỗ trợ trong bao lâu, nếu như chúng ta tuân theo các đề xuất của Ban Biên tập của họ. Vào đầu thời kỳ của chính quyền Nixon, họ sẽ ủng hộ khoảng sáu tuần, vào lúc cuối chỉ trong một vài ngày.


WL: Chúng tôi muốn nói về vấn đề này. Chúng ta phải trả một giá cho các cuộc mật đàm. Trong các cuộc thảo luận công khai, vấn đề trao đổi luôn là về tuyên truyền, chúng ta cho rằng chỉ trong bí mật mới tạo được các chuyển biến. Khi không biết về các cuộc mật đàm, giới phản chiến cho chúng ta là không muốn thương thuyết nghiêm chỉnh. Chúng ta phải trả giá cho việc này cho đến tháng Giêng năm 1972. Cuối cùng, chúng ta công khai cho biết các cuộc mật đàm. Nhưng bây giờ, chúng ta phải trở lại vấn đề là thoạt đầu chọn lựa của ông là gì? Ông bắt đầu nhậm chức, mục tiêu đầu tiên của ông là nhận diện và đánh giá các việc chọn lựa? 


HK: Chúng tôi gởi đi một danh sách với 130 câu hỏi cho các Bộ quan trọng, tôi không còn nhớ, bởi vì chúng tôi muốn tạo ra một bảng lượng giá chung về tình hình. Tôi đã ba lần đến Việt Nam trước khi được trao cho nhiệm vụ này. Tôi biết là ngay trong chính quyền Mỹ đã có dị biệt quan điểm sâu xa về việc đánh giá tình hình. Tôi muốn làm rõ vần đề, nhận định về các dị biệt là gì và đâu là tình hình thực tế và đúc kết. Đó là bước đầu tiên. 

Chúng tôi xét duyệt một cách rất có hệ thống về các chọn lựa mà chúng tôi nhận ra. Về tổng thể, có ba lựa chọn, một trong ba lựa chọn này là không đúng đắn. Giải pháp đầu tiên là tất cả mọi lực lượng phải tức khắc rút lui. Đó là chuyện đáng buồn cười. Chúng ta đã chiến đấu bốn năm và đang trong tình trạng huy động trong quy mô lớn. Bộ Tư lệnh Liên quân giải thích cho chúng tôi là việc rút quân sẽ kéo dài trong hai năm, kể cả trong mọi trường hợp là không có một phản kháng nào. Việc rút quân như vậy của một vị Tổng thống Đảng Công hoà là phản bội những gì ông theo đuổi và ngay cả đối với các vị Tổng thống tiền nhiệm theo Đảng Dân chủ cũng không bao giờ cân nhắc như vậy.

Khi bắt đầu công việc, chúng tôi cho rằng kế hoạch hiện nay cho việc triệt thoái các lực lượng giảm xuống còn mức độ là 250.000 quân. Chúng tôi sẽ đạt được mức độ này trong chín tháng sau khi Nixon nhậm chức. Nếu nói về mặt lý thuyết, đây là việc triệt thoái toàn bộ và ngay tức khác.


WL: Có lẽ ông phải làm cho chính quyền Sài gòn sụp đổ trong cùng lúc đó. 


HK: Đúng thế. Đó là quan điểm thương thuyết của Bắc Việt muốn. Rút quân ngay và chính quyền miền Nam sụp đổ. Dĩ nhiên, chính quyền sụp đổ.


HK: Về mặt định nghĩa, chúng ta sẽ làm như vậy. 


WL: Tôi không thể nghĩ ra về một nhân vật chính trị quan trọng của Mỹ, từ trong cánh Tả hay Hữu, đã có đề xuất như thế vào thời điểm đó.


HK: Việc chọn lựa đó không là điểm khởi động.

Chúng tôi còn lại hai lựa chọn cơ bản. Chúng ta có thể khởi đầu việc Việt Nam hoá chiến tranh, tuần tự rút quân và tăng cường quân lực cho miền Nam  cho đến điểm mà Bắc Việt sẽ suy yếu và chấp nhận đàm phán.

Một giải pháp tương ứng, mà thực sự đó là giải pháp ưu tiên của tôi, là một giải pháp toàn bộ cho hoà bình. Nhiệm vụ này được thể hiện trong sứ mệnh của Vances. Khi giải pháp này bị từ chối, chúng ta sẽ đánh trả mạnh về quân sự, như đã xảy ra vào năm 1972. Chúng tôi không bao giờ thực hiện kế hoạch này. Về đề tài này, chúng tôi đã có tài liệu nghiên cứu khác mang tên "Duck Hook". Tôi cũng không nhớ rõ vì sao lại có tên này. Nhưng chúng ta có thể biết việc này khi đọc các bản tường trình của các phóng viên điều tra. Đó là các việc theo dõi sau việc từ chối các đề nghị hoà đàm.

Cuối cùng, Nixon quyết định việc theo con đường Việt Nam hoá chiến tranh và tôi thuận theo ông ta, mặc dù trực giác của tôi nói cho tôi biết là việc này sẽ tạo ra các nguy hiểm, bởi vì khi chúng ta càng rút quân nhiều, chúng ta càng bị công luận áp lực phải rút nhiều hơn. Khi làm cho khả năng chiến đấu của miền Nam đồng bộ được với tốc độ của các cuộc đàm phán của chúng tôi là một vấn đề cực kỳ khó khăn. Winston và tôi biết rằng, Lê Đức Thọ, Trưởng đoàn đàm phán của Hà nôi, sẽ luôn đặt ra những vấn đề đau đầu: "Khi qúy vị không thể đánh bại  chúng tôi với 500.000 quân, từ đâu mà qúy vị có ý nghĩ rằng, khi thay bằng 500.000 quân lính miền Nam đang chiến đấu, qúy vị lại có thể đánh bại chúng tôi?“ Chúng tôi không có câu trả lời mãi cho đến cuộc tấn công trong năm 1972, khi chứng minh cho họ thấy là miền Nam có thể làm được với vai trò yễm  trợ của Hoa Kỳ.


WL: Ông thực sự có cảm thấy rằng qua thời gian lực lương bộ binh của miền Nam tự họ sẽ mạnh hơn không, dù nhiều hay ít hơn. Trong khi đó, dân chúng Mỹ nhìn ra các tiến bộ đã đạt được và do đó chúng ta có thể duy trì sự ủng hộ trong nước Mỹ về mặt chinh sách.

Như ông vừa nói, Bắc Việt không bao giờ từ bỏ các đòi hỏi của họ về việc Mỹ rút quân tức khắc và toàn diện và chính phủ Thiệu ở Sài Gòn sụp đổ. Đó có phải là lý do tại sao mà tiến trình đàm phán là vô bổ? Bởi vì ông đàm phám thực sự trong ba năm mà không có kết quả.


HK: Bắc Việt cực kỳ khôn khéo khi biết thay đổi các đề nghị không quan trọng và tận dụng các biến chuyển tình thế trong nội chính của nước Mỹ. Thí dụ như có một giai đoạn, trong cuộc đàm phán chính thức, Bắc Việt đề nghị cho chúng tôi bảy điểm và trong mật đàm đề nghị là chín điểm. Chúng tôi hỏi: "Quý vị muốn đàm phán về vấn đề bảy điểm hay chín điểm?"."Chúng tôi muốn thảo luận về chín điểm". Trong công luận, họ cứ luôn nói là: "Tại sao phía Mỹ không trả lời các vấn đề bày điểm của chúng tôi?" trong khi chúng tôi đang đàm phán về chín điểm. 

Chúng tôi mất nhiều thời giờ đàm phán về các vấn đề này và khi đến chủ điểm của chúng tôi: “Quý vị có sẳn sàng ngưng chiến, công nhận chính phủ hiệu hữu hoạt động, tổ chức bầu cử trong một khoảng thời gian ngắn không?“, họ luôn từ chối các đề nghị này.

Chúng tôi nghĩ rằng cần thương thuyết không chỉ nỗ lực kết thúc cuộc chiến, mà phải thuyết phục cho dân chúng Mỹ biết là chúng ta thực sự nghiêm chỉnh xây dựng hoà bình. Chúng tôi có trở ngại là bao lâu mà các cuộc đàm phán còn trong vòng bí mật, chúng ta không thể chứng minh về những gì mà chúng ta hành động. Khi chúng ta đưa ra công khai các cuộc đàm phán, chúng ta bị áp lực ngay của các người biểu tình, họ sẽ cho là chúng ta quá cứng rắn. Họ tin rằng điểm quan trọng nhất là chúng ta phải rút quân, không quan tâm đến các điều kiện rút quân là gì.


WL: Có lẽ ông có thể giải thích lúc tháng Năm năm 1971, chúng ta đề xuất kế hoạch bảy điểm làm nền tảng cho hoà ước.


HK: Dĩ nhiên, dĩ nhiên.


WL: Kế hoạch này cho thấy chúng ta không thể đạt đến chung quyết cho hoà uớc sớm hơn. Nó đơn giản là không thể như vậy.


HK: Tháng năm 1971, chúng tôi đưa ra một đề xuất mà về sau trở thành cơ sở cho hoà ước.


WL: Tại sao Bắc Việt không chấp nhận hoà ước trong thời điểm đó?


HK: Vì họ nghĩ rằng có thể đánh bại chúng ta hoặc làm cho chúng ta mệt mỏi. Để hiểu các cuộc hoà đàm về chiến tranh Việt Nam, người ta không cần phải biết tất cả từng chi tiết mà chỉ nên biết hai vấn đề. Mỹ sẳn sàng triệt thoái toàn diện, nếu Bắc Việt đồng ý một tiến trình chính trị mà cho miền Nam một sự chọn lựa về tương lai của mình. Ngay từ đầu, Bắc Việt đòi hỏi rằng Mỹ phải đơn phương rút quân ngay lúc bắt đầu tiến trình và Mỹ phải đưa ra một thời biểu cuối cùng mà không gây ảnh hưởng  cho bất cứ vấn đề gì xảy ra. Thứ hai, chính phủ hiện hữu tại miền Nam phải bị sụp đổ ngay tức khắc và được thay thế bằng một loại Chính phủ Liên hiệp mà Cộng sản có quyền phủ quyết.

Trong lúc đàm phán, chúng tôi phát hiện ra rằng một chính quyền như vậy có thể hình thành như thế nào, chúng tôi không bao giờ tìm ra một chính khách người Việt nào đang hoạt động ngoải chính phủ mà các nhà thương thuyết của Hà Hội có thể xem là chấp nhận được. Do đó, họ đòi hỏi chúng tôi là chấm dứt các nỗ lực quân sự và triệt thoát, thay đổi chính phủ mà chúng tôi ủng hộ. Sau đó, một cuộc thương thuyết thực sự sẽ bắt đầu. Đó là điều kiện duy nhất mà chúng tôi cực lực phản đối. Còn về các điều kiện khác chúng tôi tìm các cách để thích nghi.

Đề nghị chủ yếu của chúng tôi là đưa ra một giải pháp quân sự và đàm phàn về chính trị. Giải pháp chính trị là công nhận quyền sinh tồn của chính quyền Nam Việt Nam và cho phép Mặt trận Giải phóng miền Nam tham gia sinh hoạt chính trị. Cho đến tháng 10 năm 1972, Bắc Việt từ chối đề nghị này. Tháng Giêng năm 1972, Nixon công bố đề xuất từ tháng Năm năm 1971. Cuối cùng, vào tháng 10 năm 1972, Lê Đức Thọ đọc một đề nghị chính thức mà ông dẫn nhập trước tiên là: "Đây chính là nhưng gì mà quý vị đã từng đề nghị." Thực ra, trong các điểm chính hàm chứa những gì mà chúng tôi đã đề nghị. 

Lúc cuối cuộc họp, tôi bắt tay Winston và còn nhớ là đã nói: "Chúng ta đã đạt đuợc". Đối với tôi, đó là một ý nghĩa lớn lao đầy biểu tượng, vì Winston muốn bỏ việc ngay trong giai đoạn đầu tiên trong cuộc tiến quân vào Cambodia năm 1970 và chúng tôi có một cuộc thảo luận "Chúng ta có thể nói là việc này sẽ không có ý nghĩa quan trọng cho cuộc đời anh, khi anh đóng góp cho hoà ước thay vì phải biểu tình cho hoà bình.“

Về phía chúng tôi, đó là các cuộc đàm phán hết sức nghiêm chỉnh. Nhưng cũng cực kỳ nghiêm chỉnh không kém khi chúng tôi không phản bội những người tin vào lời hứa của chúng tôi và họ hy sinh vô bờ bến để bảo vệ tự do cho họ. Điều này thuộc về một phần trong chiến tranh Việt Nam, trước việc này không có cách nào tránh được. Tất cả những lời cáo buộc đó, đã khởi đầu từ thời Johnson và tiếp tục chống Nixon. Kể từ đó, chúng ta không bao giờ hồi phục.

WL: Là nhà ngoại giao nỗ lực trong đàm phán, ông gặp khó khăn gì khi một mặt ông phải đối đầu trước các áp lực của công luận Mỹ, nơi mà giới cánh Tả nói rằng "Chúng ta phải chấm dứt cuộc chiến bằng mọi giá, rút quân ngay", và mặt khác, Bắc Việt và Lê Đức Thọ tận dụng tình thế này?


HK: Có nhiều bài báo luôn lập lại các lời cáo buộc chúng tôi là phải làm thêm một việc nhỏ mà phần lớn thời gian chúng tôi đã phải làm xong việc ấy từ trước. Trong mọi trường hợp, chỉ có một vần đề chủ yếu là: Liệu chúng ta có muốn làm sụp đổ một chính phủ mà các chính quyền tiền nhiệm của chúng ta đã bảo vệ không?, để cho xã hội Việt Nam được tự do hay ít nhất là tự do đến mức mà chúng ta có thể giúp được, và để thay thế chính phủ này bằng cách áp đặt một chính quyền Cộng sản không? Đó là một sự vi phạm đối với tất cả mọi thứ, những gì mà nước Mỹ cam kết trong nhưng năm sau Đệ nhị Thế chiến. Điều này là sự đạo đức giả toàn bộ.


***


Nguyên tác:
Searching for Peace in Vietnam, Chapter VI, pp. 65-74 in: Kissinger on Kissinger.

Winston Lord là Trợ lý đặc biệt cho Cố vấn An ninh Quốc gia (1970-1973), Giám đốc Nhân viên Hoạch định Chính sách của Bộ Ngoại giao (1973-1977), Chủ tịch Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (1977-1985), Đại sứ tại Trung Quốc (1985-1989), và Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao (1993-1997). 

Lord đã cộng tác với New York Tmes, Washington Post, Wall Street Journal, Newsweek và Foreign Affairs. Sách mới nhất là Kissinger on Kissinger, Refections on Diplomacy, Grand Strategy, and Leadership. All Points Book New York, 2019.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nhà xuất bản sách của Bolton, chắc sẽ nhận được khoản thu nhập lớn. Riêng Bolton, chưa chắc đã giữ được hai triệu đô la nhuận bút, nếu bị thua kiện vì đã không tôn trọng một số hạn chế trong quy định dành cho viên chức chính quyền viết sách sau khi rời chức vụ. Điều này đã có nhiều tiền lệ. Là một luật gia, chắc chắn Bolton phải biết. Quyết định làm một việc hệ trọng, có ảnh hưởng tới đại sự, mà không nắm chắc về kết quả tài chính, không phải là người hành động vì tiền. Hơn nữa, nếu hồi ký của Bolton có thể giúp nhiều người tỉnh ngộ, nhìn ra sự thật trước tình hình đất nước nhiễu nhương, thì cũng có thể coi việc làm của ông là thái độ can đảm, được thúc đẩy bởi lòng yêu nước. Không nên vội vàng lên án Bolton, khi ông từ chối ra làm chứng trước Hạ Viện, nếu không bị bắt buộc. Nếu có lệnh triệu tập, ông đã tuân theo. Không có lệnh, ông không ra, vì thừa biết, với thành phần nghị sĩ Cộng Hòa hiện tại, dù ra làm chứng, ông cũng chẳng thay đổi được gì. Dân Biểu Schiff nói: “John Bolton,
Thưở sinh thời – khi vui miệng – có lần soạn giả Nguyễn Phương đã kể lại lúc đưa đám cô Năm Phỉ, và chuyện ông Chín Trích đập vỡ cây đàn: “Ngày cô Năm Phỉ mất, người đến viếng tang nghe nhạc sĩ Chín Trích đàn ròng rã mấy ngày liên tiếp bên quan tài… Ông vừa đờn vừa khóc. Đến lúc động quan, trước khi đạo tỳ đến làm lễ di quan, nhạc sĩ Chín Trích đến lậy lần chót, ông khóc lớn:’ Cô Năm đã mất rồi, từ nay Chín Trích sẽ không còn đờn cho ai ca nữa…’ Nói xong ông đập vỡ cây đờn trước quan tài người quá cố. “Việc xảy quá đột ngột và trong hoàn cảnh bi thương của kẻ còn đang khóc thương người mất, mọi người im lặng chia sẻ nỗi đau của gia đình người quá cố và của nhạc sĩ Chín Trích. Khi hạ huyệt thì người nhà của cô Năm Phỉ chôn luôn cây đàn gãy của nhạc sĩ Chín Trích xuống mộ phần của cô Năm Phỉ.” (Thời Báo USA, số 321, 18/02/2011, trang 67)
Đai sứ Mỹ, Daniel Krintenbrink, phát biểu chiều ngày 2/7 tại Hà Nội, nhân kỷ niệm 25 năm binh thường hóa quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ: “Washington sẽ triển khai các hoạt động ngoại giao, hàng hải, và quân sự để bảo đảm hòa bình, ổn định Biển Đông”. Đại Sứ Kritenbrink cho hay, Mỹ sẽ triển khai các hoạt động theo 3 hướng: 1- Tăng hoạt động ngoại giao với các nước trong khu vực, trong đó có ASEAN. 2- Hỗ trợ các nước tăng cường hàng hải, để bảo vệ lợi ích của mình. 3- Phát triển năng lực quân sự Mỹ, trong đó có các hoạt động bảo vệ hàng hải.
Theo các hãng thông tấn và truyền hình lớn của Hoa Kỳ, vào ngày 27/6/2020, Đảng Dân Chủ Quận Hạt Orange đã thông qua nghị quyết khẩn cấp yêu cầu Ban Giám Sát Quận Hạt đổi tên Phi Trường John Wayne (tài tử đóng phim cao-bồi Miền Tây) vì ông này theo chủ nghĩa Da Trắng Là Thượng Đẳng và những tuyên bố mù quáng (bigot). Sự kiện gây ngạc nhiên cho không ít người. Bởi vì đối với các kịch sĩ, ca sĩ, nhạc sĩ, văn-thi-sĩ, họa sĩ, nhất là các tài tử điện ảnh…họ đều có cuộc sống cởi mở, đôi khi phóng túng, buông thả và ít liên hệ tới chính trị. Và nếu có bộc lộ khuynh hướng chính trị thì thường là cấp tiến (Liberal). Vậy tại sao John Wayne lại “dính” vào một vụ tai tiếng như thế này?
Hơn 10 năm trước, chính xác là vào hôm 28 tháng 6 năm 2009, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có tâm sự (đôi điều) nghe hơi buồn bã: “Khi tiếp xúc với những người nông dân, tôi thường xuyên hỏi về tổng thu nhập mỗi tháng của một khẩu trong một gia đình họ là bao nhiêu. Dù rằng tôi biết họ đang sống một cuộc sống vô cùng vất vả nhưng tôi vẫn kinh ngạc khi nghe một con số cụ thể: ‘Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng.’ Bạn có choáng váng khi mỗi tháng, một người trong mỗi gia đình nông dân chỉ có 40.000 đồng để chi tiêu tất cả những gì họ cần không?
“Lợi ích nhóm”, hay “nhóm lợi ích” là những tổ chức cán bộ, đảng viên có chức, có quyền trong đảng Cộng sản Việt Nam đã chia bè, kết phái để cướp cơm dân và bảo vệ độc quyền cai trị cho đảng. Chúng sinh ra và lớn lên từ Thôn, rồi leo lên Xã trước khi ngoai qua Huyện, ngóc đầu lên Tỉnh để ngênh ngang bước vào Trung ương. Lộ trình quan lộ của “lợi ích nhóm” công khai từ dưới lên trên, từ trung ương xuống cơ sở và từ nhà nước vào doanh nhân, xí nghiệp. Khối Doanh nghiệp nhà nước là ổ tham nhũng phá hoại đất nước và phản bội sức lao động của dân lớn nhất nhưng không bị trừng phạt mà còn được bảo vệ bởi các “Nhóm lợi ích” trong cơ quan đảng và bộ ngành nhà nước.
Không chỉ thường xuyên xua quân đi canh cửa, an ninh Thanh Hóa còn liên tục gửi giấy mời, giấy triệu tập như là một thủ trấn áp tinh thần bà Nguyễn Thị Lành - vợ của Mục sư, TNLT Nguyễn Trung Tôn. Chồng bị bỏ tù, một mình bà Nguyễn Thị Lành phải vất vả gánh vác gia đình. Những ngày qua càng thêm vất vả bởi chăm mẹ chồng lớn tuổi mắc bệnh phải nhập viện, và con bị tật nguyền. Nhưng bà Lành vẫn liên tục bị an ninh tỉnh Thanh Hóa sách nhiễu, đe dọa…
Những người Mỹ gốc Việt bênh hay chống ông là điều bình thường, vì những quyết định cũng như cách hành xử của ông sẽ ảnh hưởng lên đời sống của họ và tương lai con cháu họ, và ngược lại, là công dân HK, họ có trong tay lá phiếu để ảnh hưởng khiến ông Trump có được tiếp tục làm tổng thống nữa không. Do đó, lưu tâm và tham dự vào những đánh giá đúng sai, khen chê, tâng bốc, hay moi móc thói hư tật xấu của người đang ứng cử điều khiển vận mạng quốc gia của họ thêm 4 năm nữa (và sẽ để lại những hậu quả lâu hơn) là hiện tượng bình thường .
Tôi thì trộm nghĩ hơi khác FB Đoan Trang chút xíu: Việt Nam có hàng ngàn Tiên Lãng, Đồng Tâm, Dương Nội. Những thôn ổ này luôn là nơi sản sinh ra những nông dân (“vài ngàn năm đứng trên đất nghèo”) Lê Đình Kình, Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Qúy, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Thị Tâm, Nguyễn Thùy Dương, Trịnh Bá Khiêm, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư ... Hàng hàng/lớp lớp, họ sẵn sàng nối tiếp tiền nhân – không bao giờ dứt – để gìn giữ và bảo vệ quê hương. Quyết định đối đầu với sức mạnh của cả một dân tộc là một lỗi lầm chí tử của những kẻ đang nắm giữ quyền bính hiện nay.
Người Pháp gặp nhau, bắt tay, hoặc ôm hun ở má, tay vừa vỗ lưng vài cái nếu thân mật lắm, buông ra, nhìn nhau và hỏi «Mạnh giỏi thế nào?». Người Pháp mang tâm lý sợ sệt, nhứt là sợ chết sau nhiều trận đại dịch, từ dịch Tây-ban-nha giết chết gần phân nửa dân số âu châu. Người Tàu, gặp nhau, chào và hỏi ngay «Ăn cơm chưa?». Ăn cơm rồi là hôm đó sống hạnh phúc vì phần đông người Tàu đói triền miên. Trốn nạn đói, chạy qua Việt nam tỵ nạn, vẫn còn mang nỗi ám ảnh nạn đói. Còn người Việt nam xứ Nam kỳ chào nhau và hỏi thăm «Mần ăn ra sao?». Gốc nghèo khó ở ngoài Bắc, ngoài Trung, đơn thân độc mã, vào Nam sanh sống giữa cảnh trời nước mênh mông, đồng hoang lau sậy, thoát cái nghèo là niềm mong ước từ lúc rời người làng, kẻ nước.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.
Hôm thứ Năm (02/07/2020), Venezuela đã rút lại quyết định trục xuất đại sứ EU, nhưng yêu cầu khối có hành động thể hiện quan điểm khách quan hơn với quốc gia Nam Mỹ.
Để giải quyết những thách thức an ninh đối với đất nước, chính phủ Úc sẽ chi 186 tỷ USD cho quân đội trong 10 năm tới và sẽ mua tên lửa tầm xa để tăng cường phòng thủ.
Ngày 21/06/2020, hiện tượng Nhật thực hình khuyên diễn ra trên một số nơi tại Châu Á
Các công dân từ 15 quốc gia sẽ được phép vào Liên minh Châu Âu (EU) bắt đầu từ ngày thứ Tư (01/07/2020), nhưng trong danh sách không có tên nước Mỹ.