Hôm nay,  
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
anh ơi, em không tin anh ác, không tin đâu
Tôi bên này, tháng hai trời nắng dịu | mà lại nghe lá run rẩy trong mưa | mà lại cảm cái rùng mình cổ thụ | của bên kia, của cơn bão lạc mùa
Mùa Đông đang tới ở Bắc Mỹ, tuyết rơi, tuyết rơi! Lạnh và đẹp, làm người ta liên tưởng tới những vùng Green Land, nơi gần như tuyết giá quanh năm, nơi có những con người sống với giá lạnh và nơi có những nguồn khoáng sản trù phú mà những cường quốc trên thế giới lúc nào cũng manh tâm chiếm đoạt. Hãy thưởng thức một bài hát của bà mẹ Inut, một bài ru con rất đơn sơ và cảm động, cảm động như khi ta hát bài hát ru con của những bà mẹ Việt Nam: Cái ngủ mày ngủ cho lâu/Mẹ mày đi cấy ruông sâu chưa về. Nếu cường quốc đến chiếm những vùng đất đai này, họ có tước cả những bài hát này không? Bà mẹ Inut có còn được ôm con trước hiên nhà ru con bằng những bài hát tràn ngập tình tự quê hương của mình?
Hãy khoan nói đúng sai | cho đến khi ta đứng ngoài kia, | giữa tuyết rơi và ánh đèn xanh đỏ, | chỉ có một cái mền mỏng | và cả đời bị kéo đi | khỏi ngưỡng cửa quen thuộc.
Việt Báo dịch và đăng lại bài thơ của Renee Nicole Good, nạn nhân 37 tuổi bị bắn chết hôm thứ Tư, 7 tháng 1, 2026, không chỉ để tưởng niệm, mà để dán lại đây một văn bản vẫn còn đang sống. Đó là tiếng nói từng đi những bước dò dẫm giữa khoa học và đức tin, giữa hiểu biết và phép lạ — một tiếng nói bị dập tắt giữa mùa xuân thì bởi sự vô nghĩa của bạo lực. Bài thơ ở lại, không trả lời thay ai, chỉ để giữ nguyên một khoảng trống — nơi người đọc sẽ phải tự hỏi mình còn tin vào điều gì, và còn để dành chỗ cho điều gì.
Có cách nào để sớm có hòa bình cho Gaza, một trong vài vùng đất đau thương nhất thế giới hiện nay? Chúng ta không có câu trả lời. Liên Hợp Quốc cũng bế tắc. Chúng ta, những người sống trong thế kỷ 21, cũng không thể quy trách một ai, vì dường như định mệnh đã sắp sẵn cho cuộc tàn sát từ nửa đầu thế kỷ 20, hay là từ hai ngàn năm trước. Chúng ta hoàn toàn không hiểu, tại sao khu vực được xem là đất thánh của ba tôn giáo lớn nhất thế giới – Do Thái Giáo, Ky tô giáo, và Hồi giáo -- lại rơi vào một cuộc chiến bi thảm và dai dẳng như thế? Tuy nhiên, đất trời muôn đời vẫn im lặng. Một cách nào đó, các nghệ sĩ ở Gaza lên tiếng cho dân tộc của họ. Họ đã vẽ, dù không còn đầy đủ màu sơn. Khi giấy và các tấm canvas biến mất, họ lấy các bao bột mì làm nền để vẽ tranh.
Thưởng thức một bức họa chủ yếu là chia sẻ sở thích và cảm xúc về thẩm mỹ giữa người xem và tác phẩm. Nghĩa là cái đẹp, cái hay của bức tranh và trình độ cảm nhận cái đẹp, cái hay của người thưởng ngoạn phải có khả năng tương ứng, có sự đồng điệu nào đó để cảm thấy thích thú hoặc hơn thế nữa là yêu chuộng. Câu hỏi cơ bản trên được A.I. (trí thông minh nhân tạo) trả lời: Sau đây là một số cách để thưởng thức một bức tranh: - Dành một số thời gian và sự chú ý cho bức tranh để tận hưởng trọn vẹn. - Đừng lo lắng về việc bạn cần làm gì tiếp theo và đắm mình vào tác phẩm nghệ thuật. - Việc ngắm nhìn tác phẩm nghệ thuật mà bạn thích có thể kích hoạt giải phóng dopamine trong não, giúp bạn cảm thấy vui vẻ. (Dopamine là một loại chất dẫn truyền thần kinh và hormone. Nó đóng vai trò trong nhiều chức năng quan trọng của cơ thể, bao gồm vận động, trí nhớ và phần thưởng và động lực thú vị.) - Hãy nhớ quy trình: Quá trình sáng tạo nghệ thuật là nơi phép màu xảy ra và sản phẩm cuối cùng chỉ là
Bước vào phòng triển lãm, ba bức tranh đầu tiên bên tay phải đập vào mắt người thưởng ngoạn là ba tác phẩm của họa sĩ Ann Phong: “I Told You, The Earth Is Warming Up”; “Looking Back, Looking Forward”; “If We Don’t Care For Nature, It Will Disappear.” Chọn ba tác phẩm này cho cuộc triển lãm, họa sĩ giải thích: “Các tác phẩm nghệ thuật của tôi phản ánh mối quan hệ giữa người với người; trách nhiệm mà chúng ta phải có đối với trái đất nơi chúng ta đang sống. Thật đau lòng khi chứng kiến ​​thiên nhiên bị tàn phá bởi lòng tham và sự thiếu hiểu biết của con người. Có vẻ như khi chúng ta càng làm cho cuộc sống của mình trở nên tiện nghi, thì chúng ta càng tạo ra nhiều ô nhiễm hơn; càng làm cạn kiệt tài nguyên của trái đất một cách bất cẩn hơn…”
Nghệ thuật trong thế kỷ 21 là một lĩnh vực thực hành, nghiên cứu và xuất bản đang phát triển mạnh mẽ, khiến nó trở thành một lĩnh vực tìm hiểu vô cùng năng động. Nhiều chủ đề quan trọng đã gây tiếng vang trong thế kỷ này, truyền cảm hứng cho tư duy mới và tranh luận học thuật, chẳng hạn như sự bùng nổ nghệ thuật sinh học để đáp ứng với nghiên cứu khoa học trong khoa học đời sống, và lý thuyết phê bình được gọi là Thẩm mỹ quan hệ (relational aesthetics), được phát triển để đáp lại sự gia tăng mời gọi của nghệ thuật cho phép người xem tham gia và tương tác. Các cuộc tranh luận khác vào cuối thế kỷ 20, chẳng hạn như ký hiệu học, chủ nghĩa hậu hiện đại và chủ nghĩa nữ quyền, vẫn tiếp tục liên quan đến việc giải thích nghệ thuật thế kỷ 21 và văn hóa trực quan (visual culture, hoặc văn hóa thị kiến hay trực quan.)
Chúng ta thường được nghe nói, rằng mọi người đều bình đẳng trước Thượng Đế. Tuy nhiên, Thượng đế thì không ai thấy, nhưng có một thứ còn đáng sợ hơn nhân vật cổ sử đó (nếu thật sự là có Thượng Đế): đó là những trận mưa bom. Người dân Ukraine và Palestine ý thức rất rõ, vì đó là chuyện hằng ngày của họ: mọi người đều bình đẳng khi đứng dưới mưa bom. Già, trẻ, nam, nữ, trí thức, nông dân, nhà thơ, họa sĩ… đều bình đẳng: khi bom rơi trúng là chết. Cuộc chiến giữa người Palestine muốn giữ đất và người Israel từ nơi xa tới nhận phần đất mới do quốc tế trao tặng từ đất Palestine đã kéo dài nhiều thập niên. Bây giờ căng thẳng mới nhất là ở Gaza, cuộc chiến đang tiếp diễn giữa nhóm Hamas, thành phần chủ trương bạo lực của dân Palestine, và quân Israel. Trong những người chết vì bom Israel, có những người hiền lành nhất, đó là trẻ em và phụ nữ.
Đối với nhiều người Thái Lan, Chalermchai Kositpipat là họa sĩ đương đại lớn nhất của nền mỹ thuật Phật Giáo Thái Lan. Những nét vẽ và kiến trúc của ông vừa mang chất thần thoại truyền thống, vừa đậm chất kỹ thuật tân kỳ của thế kỷ 20 và 21 – vừa dịu dàng, thơ mộng, như thật như mơ, nhưng là những bước đi đầy các khám phá mới trên vùng đất tiền nhân chưa khai thác hết, nổi tiếng với việc sử dụng hình ảnh Phật giáo, và các họa phẩm của Chalermchai đã nhiều lần triển lãm trên toàn thế giới. Chalermchai Kositpipat sinh ngày 15/2/1955. Thân phụ ông là một người Trung Quốc nhập cư từ Quảng Đông trong khi mẹ anh là người Thái gốc Hoa. Kositpipat theo học tại Đại học Mỹ thuật Silpakorn, tốt nghiệp Cử nhân Mỹ thuật chuyên ngành nghệ thuật Thái Lan năm 1977.
Có một người sống trong thành phố, bận rộn, tranh đấu, xông pha, lăn lộn giữa sự phức tạp như một sinh trùng bị mắc lưới nhện vẫn phải vùng vẫy để sống, để chờ ngày bị ăn thịt. Một hôm, ông ta đi du lịch, thấy một phong cảnh đẹp đến mức lặng người, cảm thấy siêu thoát, nhận ra đạo lý của mục tiêu tại sao con người tồn tại. Nhưng vẫn phải trở về phố cũ, y như Lưu Nguyễn phải trở về làng cũ vì những lý do chính xác, vì lẽ phải của những bổn phận làm người. Ông vẽ lại phong cảnh đó trên một vách tường lớn. Mỗi khi đời giông bão, mỗi khi hồn âm u, mỗi khi trí khổ não, ông đến trước bức tranh, nhìn ngắm, ngẫm nghĩ để tìm thấy sự thanh thản, sở hữu cảm giác bình an. Ông nghe được tiếng hát “chiều nay vang lừng trên sóng.” Ông thấy được “Âm ba thoáng rung cánh đào rơi. Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời.” Hồn ông “lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan.” Những giờ phút tĩnh lặng đó, tâm trí ông “Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quên … là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi…”
Bạn có thể gọi Arnaud Nazare-Aga là một nhà điêu khắc, hay một lạt ma vào đời, hay đơn giản, là một nghệ sĩ và là một cư sĩ. Một thời anh đã ngồi trong tu viện để tạc các pho tượng Phật, tượng Bồ Tát, các trụ điêu khắc, và rồi anh rời tu viện để bước vào đời, trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng trong thế giới tượng hình. Nói kiểu tóm gọn theo văn phong báo chí thường gặp là: một nghệ sĩ Phật tử người Pháp. Nhưng cuộc đời anh đầy những cơ duyên kỳ lạ. Bài viết này tổng hợp từ nhiều báo, trong đó có Forbes, Time Out, Thai PBS World, The Phuket News... Lời tự giới thiệu của nhà điêu khắc Arnaud Nazare-Aga chỉ đơn giản vài đoạn trên trang nhà riêng. Sinh năm 1965 tại Paris, Arnaud Nazare-Aga đã sinh khởi niềm đam mê với kiến trúc và điêu khắc hiện đại từ khi còn thơ ấu. Anh thường xuyên đi thăm viện bảo tàng cùng ba mẹ. Anh được giáo dục trong một cộng đồng Phật giáo Tây Tạng ở vùng Burgundy, miền Đông nước Pháp, và học nghề đúc tượng thạch cao nơi đây.
Nói về “nghe” ở Việt Nam là nói về một trong những hoạt động phổ biến nhất và ít được suy nghĩ nhất. Người Việt nghe mọi thứ: nghe nhạc, nghe người khác nói, nghe hàng xóm cãi nhau, nghe loa phường, nghe lòng mình, nghe cả những thứ không cần nghe. Nhưng nghe âm nhạc — đó mới là một môn nghệ thuật, hay đúng hơn, một môn thể dục tinh thần được tổ chức rầm rộ, từ phố thị đến thôn quê, từ quán cà phê đến sân khấu và truyền hình. Người Việt không chỉ nghe âm nhạc: họ trưng bày việc nghe như một phần bản sắc.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Sân khấu từng là nơi người Mỹ cùng nhau mơ mộng. Ngày nay, ngay cả chỗ ấy cũng bị chính trị chia cắt. Trước cửa Trung tâm Nghệ thuật Kennedy — nay mang danh mới Donald J. Trump và John F. Kennedy — người ta giương bảng phản đối, ca sĩ hủy buổi diễn, và nền văn hoá từng tôn vinh tự do phản biện dường như đang co rút lại trong những vòng tin tưởng hẹp hòi của mỗi phe. Cuộc tranh chấp này nghe quen thuộc. Ba bốn mươi năm trước, khi hình ảnh cảnh sát Nam Phi đánh đập người da đen tràn ngập truyền hình, giới nghệ sĩ bên Mỹ hưởng ứng lời kêu gọi lương tâm: “Tôi không hát ở Sun City.”
Mùa xuân năm nay, trên công viên trên không High Line của thành phố New York sẽ xuất hiện một tác phẩm điêu khắc quy mô lớn: pho tượng Phật bằng sa thạch cao 27 bộ Anh, mang tựa The Light That Shines Through the Universe (Ánh Sáng Soi Thấu Vũ Trụ), do nghệ sĩ Việt–Mỹ Tuan Andrew Nguyen thực hiện. Tác phẩm sẽ được đặt tại Plinth, không gian dành cho các dự án điêu khắc luân phiên của High Line, thay thế cho pho tượng chim bồ câu khổng lồ Dinosaur của nghệ sĩ Iván Argote, đang trưng bày từ tháng 10 năm 2024.
Trên trang mạng Psychology Today có bài viết về lợi ích của việc bắt đầu học nhạc ở tuổi già. Người cao niên thường phải đối diện với nhiều thách thức như suy giảm nhận thức, cô lập xã hội, trầm cảm. Suy giảm trí nhớ, đặc biệt là suy giảm trí nhớ theo từng giai đoạn và trí nhớ làm việc, là một dấu hiệu của tiến trình lão hóa bình thường, những cũng có thể là dấu hiệu sớm của lão hóa bệnh lý. Tập thể dục, các hoạt động kích thích não bộ có thể giúp duy trì trí nhớ của người lớn tuổi.
Mùa xuân sang có hoa anh đào... Chúng ta thường nghe câu hát này. Hoa sẽ rơi và mùa xuân sẽ trôi qua. Đó là những gì rất đẹp, rất mong manh và rất vô thường. Mùa xuân không chỉ là sự chuyển giao của thời tiết, mà còn là biểu tượng của sự tái sinh và hy vọng. Từ những cánh hoa anh đào mỏng manh của phương Đông đến khu vườn tràn ngập nắng ấm của phương Tây, mùa xuân là yêu thương, cũng là thân phận mong manh của đời người. Hoa anh đào, và mùa xuân là hiển lộ của vô thường, những gì rất đẹp đang trôi qua.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.