Hôm nay,  

Một Thành Tôn khác

05/09/201910:21:00(Xem: 4182)

Thanh Ton
Một lần, ngồi ở quán cà phê, có nhà văn Cung Tích Biền và họa sĩ Trịnh Cung, tôi nhớ, có một người nói:

- Ở đâu có Thành Tôn là có Trần Yên Hòa...

Câu nói xác nhận là tôi và nhà thơ Thành Tôn thân thiết đến độ, đi cà phê hoặc "lai rai rai ba sợi" ở đâu, cũng có nhau.

Câu nói này cũng chỉ đúng một nửa, vì, từ mấy năm nay, tôi sống khép mình, chỉ muốn ở nhà viết lách chút đỉnh, đọc và post bài trên Bạn Văn Nghệ, rồi đi tập thể dục ở Gym. Ít đi la cà cà phê với ai, trừ một số bạn văn thân, rất thân. Trong lúc anh Thành Tôn thì bạn bè nhiều, nhất là với các bạn học, bạn văn, xa, gần, trước, sau...Anh đều tiếp đãi cà phê, rất ngọt.

Nhưng, nói gì thì nói, tôi với anh Thành Tôn đã kết thân từ hơn hai mươi năm qua, tôi coi Thành Tôn như người anh, vì tôi biết những tính tốt của anh đối với bạn bè. Và anh cũng coi tôi như một người em, vừa đồng môn, vì học cùng trường thời trung học, dù khác lớp, vừa cùng quê Quảng Nam, vừa là bạn văn nghệ, nên nhiều khi anh em tâm sự thật lòng. 

Nên, nhân đây, tôi cũng xin ghi lại một chút về tình thân của chúng tôi. 

Tôi "biết" anh Thành Tôn trước khi "quen", từ ngày anh học ở Tam Kỳ, làm việc ở Tam Kỳ, làm rể ở Tam Kỳ, làm thơ ở Tam Kỳ. Nhưng chỉ biết thôi. Thuở đó, anh đã có những "bài thơ" lẫm liệt, đã đăng ở các tạp chí văn học danh giá Sài Gòn, lại xuất bản tập thơ Thắp Tình nữa, nên tên tuổi Thành Tôn trong giới văn học, hay đọc sách, ai cũng biết. 

Cho đến mãi những tháng năm qua Mỹ, tôi mới gặp Thành Tôn bằng xương bằng thịt. 

Anh trong nhóm 5 anh em "hội cà phê" chúng tôi: Trần Văn Nam, Đạm Thạch, Phạm Phú Minh, Thành Tôn và Trần Yên Hòa...trong suốt nhiều năm...Đến khi Đạm Thạch di chuyển sang sống với con ở Arizona, Trần Văn Nam mất, Phạm Phú Minh hơi mệt, ít đi cà phê...nên chỉ còn tôi và Thành Tôn bám trụ, cầm cự hai tuần một lần, đều chi.


*


Bây giờ tôi viết về một Thành Tôn "khác", chứ không viết về Thanh Tôn Thơ, hoặc Thành Tôn Sách nữa, vì (hình như) đã có 5, 6, nhà văn, nhà thơ thân hữu viết về anh rồi. Một Thành Tôn "khác" của tôi ở đây là về một Thành Tôn đời thường: Thành Tôn với bạn bè, gia đình...và tình yêu.

Tôi chỉ nhìn anh ở khía cạnh đó...


Với bạn văn:

Với Thành Tôn, ai cầm bút viết được, ở mọi lãnh vực, anh đều trân quý...Đã là người viết, tác phẩm có giá trị hay không, nếu có Thư Mời anh tham dự Ra Mắt Sách, anh đều đến tham dự, và mua sách ủng hộ. Anh nói, mua để giữ làm tài liệu, nhưng thật ra thì anh mua ủng hộ thôi, để tác giả thu lại tiền in ấn.

Còn những quyển sách giá trị, bằng bất cứ giá nào, dù ở VN hay ở Pháp, Úc, anh đều tìm mua cho bằng được, nếu khó quá, anh biết ai có sách, anh mượn về copy toàn quyển sách để cất giữ, còn bản chính trả lại cho chủ nhân.

Đối với các bạn văn lớn tuổi hơn, hiện sống ở Little Sài Gòn, như nhà văn Nguyễn Đình Toàn, Viên Linh (trước đây), họa sĩ Hồ Thành Đức, Khánh Trường...anh thường đến thăm và sẳn sàng giúp đỡ, như chở đi bác sĩ, hướng dẫn về việc xin phúc lợi An Sinh Xã Hội, Ngân Hàng...hay đi cà phê. Đã nhờ anh giúp đỡ là anh không từ chối...Dù bận bịu anh cũng dành thì giờ để đến giúp với lòng vui vẻ...


Còn các bạn văn ở xa, đồng thời với anh như Song Thao, Trần Doãn Nho, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Hoàng Lộc... thì anh điện thoại thăm hỏi thường xuyên, có thể hàng tuần...Các bạn văn ở xa, nhiều khi xa Little SG, nam Cali, muốn biết sinh hoạt văn học nghệ thuật ở thủ đô nhỏ này ra sao, anh đều vui vẻ kể cho bạn nghe, hay nghe bạn kể, có lúc cuộc trò chuyện, tâm sự lên đến cả ba chục phút hay cả tiếng đồng hồ.

Cho nên các bạn văn ở xa về thủ đô nhỏ, thường đều "hú" Thành Tôn, anh rất vui vẻ, hạnh phúc gặp lại bạn và thường hẹn nhau chiêu đãi cà phê hay "lai rai ba sợi". Anh rất hào phóng với tất cả anh em văn nghệ, dù có "hao".

Phan Xuân Sinh từ Houston qua gọi Thành Tôn, Đức Phổ từ Georgia qua gọi Thành Tôn, Luân Hoán, Hoàng Xuân Sơn, Nam Dao... từ Canada qua gọi Thành Tôn, Nguyễn Xuân Thiệp, Trần Doãn Nho từ Dallas qua gọi Thành Tôn, Nguyễn Thanh Châu (nhờ tôi) gọi Thành Tôn, Đông Nghi (nhờ tôi) gọi Thành Tôn, Phan Nguyên, Từ Hoài Tấn, Lữ Kiều, Hạ Đình Thao, từ VN qua Mỹ, cũng gọi Thành Tôn. 

Được ngồi cà phê hay "lai rai" với anh đều rất vui, đều nhận thấy cái thực lòng ở anh....Nghĩa là tiếng lành đồn xa...như ngày xưa bên Tàu, có ông Mạnh Thường Quân, ông là một người giàu có, lại có lòng nghĩa hiệp, thích chiêu hiền đãi sĩ, văn cũng như võ trong nhà lúc nào cũng tiếp đãi đến vài nghìn tân khách (theo wikipedia). Thành Tôn thì không giàu, anh đã về hưu, nhưng tấm lòng anh cũng na ná như vậy. Không biết Mạnh Thường Quân xưa có cầu cho được "tiếng" hay không, nhưng với Thành Tôn, tôi biết, anh chỉ mong mọi bạn bè "vui thôi mà" (lời Bùi Giáng).

Những ngày trước, khi nhóm năm người chúng tôi còn sinh hoạt, trước khi cà phê, thường lai rai ba sợi, ở quán Hợp hay đâu đó, rồi mới qua cà phê. Khi đã có chút hơi cay vào, Thành Tôn ăn nói cũng "lớn tiếng" lắm. Lớn tiếng chỉ thuần theo nghĩa đen, nghĩa là giọng anh còn rặt giọng Quảng Nam, nên anh nói thường to hơn người khác. Những lúc đó, anh vui kể chuyện, những giai thoại Bùi Giáng ở quê, ngày còn nhỏ. Bùi Giáng là lứa tuổi với cha anh, nhưng lại muốn kết bạn với anh. Rồi những "tật" của Bùi Giáng, trong đời thường và trong thơ văn, anh lại đọc mấy câu thơ của Bùi Giáng...Giọng Thành Tôn to, lớn, câu chuyện kể khá hấp dẫn khiến ai cũng muốn nghe...Nhiều người ngồi bàn bên, có thể không hiểu, tưởng là anh đang cải lộn. Nhưng không, đó là anh thể hiện tính ăn to nói lớn của người Quảng Nam thôi.

Anh hiền, rất hiền. Anh chơi với ai cũng được, chưa bao giờ làm mất lòng ai. Đã nhiều lần anh nói: "Chơi với bạn, mình chỉ nhìn vào cái tốt của bạn đó thôi." Nên anh hoàn toàn là bạn của tất cả anh em văn nghệ. 

Nhiều lúc ngồi với nhau cà phê hay "lai rai ba sợi", Thành Tôn kể về những ngày lính tráng của anh. 

Tôi đã nghe và xin ghi lại sau:

Chuyện đi lính của anh cũng rất hấp dẫn, hồi hộp và mang tính giai thoại.

Hồi đó khoảng những năm 1965, 66...Thành Tôn đang dạy học ở trường Phan Thanh Giản, Đà Nẵng. Đi dạy nhưng anh cư trú không ổn định, thường thay đổi địa chỉ nên Giấy Gọi Đi Thủ Đức theo lệnh Động Viên không đến tay anh. Một hôm xong buổi dạy ra về, thì anh gặp một toán cảnh sát đang đón đường hỏi giấy tờ quân dịch của thanh niên. Thành Tôn bị chận hỏi và bị "hốt" ngay, vì lứa tuổi anh đúng ra là phải bị động viên vào Thủ Đức khóa trước, sao còn ở ngoài đi dạy tà tà vậy. Anh bị đưa vào trại Nhập Ngũ số 1, để đi thụ huấn tân binh quân dịch, vì anh thuộc diện không tuân hành lệnh Tổng Động Viên.

Anh bị đưa vào Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, thụ huấn 9 tuần để ra làm tân binh, deuxieme cùi bắp (binh nhì). May nhờ có nhà văn Trần Phong Giao, lúc này làm Tổng Thơ Ký Tạp chí Văn, khi biết tin Thành Tôn "bị nạn", liền viết đơn lên Nha Động Viên Bộ Quốc Phòng, giải thích sự việc, là vì địa chỉ anh thay đổi nên không nhận được lệnh gọi đi Thủ Đức, chứ không phải anh trốn lính. Lúc này Nha Động Viên do Thiếu tướng Bùi Đình Đạm làm Tổng Giám Đốc, biết được nỗi oan ức của Thành Tôn, nên ra lệnh chuyển anh qua tiếp tục Khóa 2... Thủ Đức...Thế là Thành Tôn trở thành Sĩ Quan, và khi ra trường, xin về phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Tín. Thành Tôn làm ở đây đến tháng 3.1975.

Thành Tôn làm ở Khối CTCT/TK Quảng Tín, sau đó vì tính cần mẫn, thật thà và uy tín, rất được mọi người kính phục. 

Đại tá tiểu khu trưởng kiêm tỉnh trưởng Quảng Tín, biết anh, nên bổ nhiệm anh làm bí thư. Anh làm chức vụ này trong hai đời tỉnh trưởng...Với vị đại tá sau, có lần Thành Tôn, đã đập bàn cải lộn với xếp, và Thành Tôn tự xin phép rời khỏi chức vụ bí thư, với đơn xin sẽ làm việc ở bất kỳ đơn vị nào...Cuối cùng Thành Tôn trở về lại Khối CTCT/TK Quảng Tín.

Thời gian này, ngoài công việc là sĩ quan quân đội, Thành Tôn còn là người đứng ra phát hành sách cho các nhà xuất bản như Lá Bối, An Tiêm, Giữ Thơm Quê Mẹ...

Anh là người yêu sách, và là bạn với các chủ nhà xuất bản trên, anh đã đứng ra phát hành sách đến các tiệm sách ở Tam Kỳ,  Quảng Tín, Quảng Nam, Hội An, Đà Nẵng...nhiều khi ra đến tận Huế. Những chủ nhà xuất bản này đều tin cậy Thành Tôn.

Sau này, qua Mỹ, anh có gặp lại các ông Thanh Tuệ (chủ nhà xuất bản An Tiêm...từ Pháp qua, và bị bịnh mất ở Mỹ), ông Võ Thắng Tiết, chủ nhà xuất bản Lá Bối trước 1975, và Văn Nghệ ở Mỹ (Nam Cali). Tình thân của anh với ông Võ Thắng Tiết rất đậm đà. Những buổi cà phê của chúng tôi, đôi khi Thành Tôn mời ông Võ Thắng Tiết cùng tham dự. Nhưng sau, ông Tiết vốn là một tu sĩ Phật giáo, nên ông ít cà phê, ít la cà, nên những buổi cà phê với ông cũng ít dần. Tuy nhiên, khi ông Võ Thắng Tiết bịnh nằm ở bịnh viện viện Fountain Valley, thì Thành Tôn cũng rủ tôi và anh Phạm Phú Minh đến thăm...tình cảm rất chân thành. Sự liên lạc, thăm hỏi nhau với ông Võ Thắng Tiết, Thành Tôn vẫn giữ đến tận bây giờ

Đến nhà Thành Tôn, một căn Apt nhỏ, 1 phòng, cho hai vợ chồng. Nhà anh đúng là một thư viện sách. Ngoài sách ra, trên kệ cao, anh còn lập một bàn thờ, thờ ba người bạn văn quá cố, đã có một thời gắn bó với Thành Tôn. Đó là nhà thơ Bùi Giáng, nhà văn Võ Phiến và Họa sĩ Đinh Cường.


Chuyện tình.


Phải nói là chuyện vợ chồng của Thành Tôn và chị Phan Thị Trinh đã hơn sáu mươi năm qua, một tình yêu, một người yêu...suốt trong thời gian dài như vậy, không suy suyển. Trung Thành và Duy Nhất. Một và chỉ Một mà thôi. 

Chuyện này, nói thì dễ, nhưng thực hành rất khó, nhất là đàn ông ở tuổi thanh niên, trung niên...có chức có quyền một tí, lại là nhà thơ nổi tiếng nữa...ai cũng có chút tình ngoài luồng...Nhưng với Thành Tôn và Phan Thị Trinh thì đúng là một và chỉ một mà thôi.

Hai người yêu nhau từ ngày còn là học sinh, cùng lớp, cùng trường. Yêu nhau rồi lấy nhau và gắn bó với nhau suốt gần sáu mươi năm. Khi đi lính, chàng đóng ở một phương, Tam Kỳ, nàng làm công chức ở Đà Nẵng, nên chỉ gặp nhau cuối tuần hay một, hai tuần mới về thăm nhau một lần. Rồi đến ngày chàng đi cải tạo, chàng ở tù ròng rả suốt gần chín năm ngoài Bắc, còn nàng ở nhà lo làm ăn, nuôi con, nuôi chồng, cơm đùm cơm gói thăm nuôi. Mãi sau 9 năm xa cách, vợ chồng mới đoàn tụ. (theo Thành Tôn, những ngày đi tù ngoài bắc, đi đốn gỗ, anh bị cây ngã đè bị thương ở đầu và tay, nên bây giờ tay anh viết bị run, đầu anh không tập trung, nhớ cái được cái mất, nên anh không làm thơ nữa là vì vậy).

Anh chị có ba người con, hai gái, một trai. Cô con gái đầu tốt nghiệp bác sĩ Nhi Khoa thuộc loại xuất sắc ở VN, và đi tu nghiệp ở Pháp, với những công trình nghiên cứu lâm sàng, được giới y khoa Pháp công nhận và được báo chí Pháp viết bài khen ngợi. 

Hai người con còn lại cũng tốt nghiệp đại học và hiện đang có công việc tốt, hiện cư ngụ gần anh (CA).

Viết bài này tôi muốn không đề cập đến chuyện Thơ, nhưng khi nói đến tình yêu, thì cũng nên nói chuyện thơ của chàng một tí.

Bài thơ Nói Với Cô Bé Ngồi Quán của Thành Tôn, trong tập Thắp Tình như sau:


Vào đây, ghế quạnh, khuya người 

Quán như địa phủ, nhạc đời nhân gian 

Quầy trơ, mắt bé ngỡ ngàng 

Thuyền ai đổ bến, lòng nàng bâng khuâng


Hồn ta trải gió đầy sân 

Tình ta, mây cũng mấy lần thu nao 

Vào đây bàn nhẵn, câu chào 

Quen như thân thể, lạ nào chén ly


Đời nhau, khói thuốc quên đi 

Bên tai cổ nhạc lầm lỳ canh tân 

Trên kia dáng bé tần ngần 

Lời yêu chậm nói, tình gần tay trao

 

Vào đây đèn đủ hanh hao 

Bóng ai theo đến kẻ nào quay lui 

Cúi đời trên chén ly, khuya 

Mắt nhau một hướng, tình chia mấy trùng

 

Ngồi thầm, góc quán mông lung 

Xa nghe lời kẻ, gần chùng dáng ai 

Vào đây nhạc đĩa đầy vai 

Vòng quay nhịp lặp, kim mài giọng quen

 

Mòn hao sợi tóc trăm năm 

Khuya, mưng máu chậm. Tình, bầm tim mau 

Ngậm lòng, quán vắng, ơn nhau 

Ly trơ ghế nóng, bé chau mắt nhìn

  

Vào đây như một đức tin 

Khói tan đốm thuốc, đời vin tay nào 

Miệng cười kín nụ lao đao 

Tình chia nghĩa sớt, câu chào riêng ai 

 

Trách gì ý lỡ, lời sai 

Cho nhau góc quán đêm dài dung thân 

Thôi em trả đó tình gần 

Ta xin bóng chiếc, đời cần nhau, đâu ?

 

Vào đây, ghế quạnh, khuya nhàu 

Tình như cổ tích đời sau kể thầm.


Bài thơ này, theo như chị Phan Thị Trinh,  (chị Thành Tôn) nói là, anh làm cho một người con gái nữ sinh Tam Kỳ, sắc nước hương trời thời đó, là cô T. Cô vừa là nữ sinh, vừa là con chủ quán cà phê và Mì LK. Cô này đẹp nổi tiếng ở TK. Cô có đôi mắt đẹp như thuyền, đôi môi không thoa son mà luôn đỏ như son. Cô là "cây đinh" ở đây, nên nhiều nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, sĩ quan quân đội đi hành quân về Tam Kỳ, thường ghé quán cô ăn mì, uống cà phê, để được diện kiến dung nhan cô. 

Nhưng theo Thành Tôn, là không phải, đây chỉ là hình ảnh cô bé bán quán cà phê ở gần Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Tín, nơi anh làm việc  thôi. Đó là những buổi trực khuya cùng bạn lính, rủ nhau đi cà phê, vào ngồi quán này. Cái rung động với cô bé ngồi quán trong bài thơ, chỉ là rung động tự nhiên về vẻ đẹp của thiếu nữ...Chứ không phải cho một người con gái nào hiện thực cả...

Đây là một bài lục bát hay, rất hay, theo tôi. Thành Tôn dùng từ lạ, ý lạ (ghế quạnh, khuya người, nhạc đời nhân gian, quày trơ, trải gió, đủ hanh hao, cúi đời, mưng máu chậm, bừng tim gan, khuya nhàu...). Cách chấm câu, dấu phếch, rất mới (vào những năm 1968 - 1969...mà dùng từ như thế này thì quá mới). 

Tôi rất thích bài thơ này, và có thể nói rằng, đây là một trong những bài lục bát hay nhất VN.


*


Dài dòng quá cũng đến lúc dừng lại. Tôi xin kết ở đây.

Chúc mừng nhà thơ Thành Tôn, nay là thời điểm cuối tháng 8 - 2019, anh suýt soát tám mươi, qua một trận bịnh trầm kha, anh đã khỏe lại, da thịt anh hồng hào, lời nói sang sảng, đi đứng vững vàng, tai còn nghe rất rõ, mắt còn nhìn rất tinh tường...

Anh lại (còn) làm việc chuyên cần, là hằng ngày, đọc các Web văn nghệ, tin tức, sách, và Facebook của bạn bè, (dù anh không có Fb), nên có tin gì của anh em văn nghệ, anh đều biết...Rồi anh bỏ thời gian scan, copy hàng chục ngàn trang sách. Tất cả những số của tạp chí Thế Kỷ 21, Hợp Lưu đều do một tay anh làm, rồi chuyển cho Nguyễn Vũ bỏ lên ebooks...

Anh cũng vì thương bạn bè, nên anh đã tự thực hiện những tác phẩm về Thơ của bạn, như tập thơ Con Cá Lưu Vong của Đạm Thạch, Thơ Trần Văn Nam...Những bạn văn ở xa thích đọc sách, như Lưu Vỹ Bửu ở OH, bạn văn cùng quê, anh đã scan và đóng thành tập cuốn "Những truyện ngắn hay nhất quê hương ta (cả trên 6, 7 trăm trang)" do Nguyễn Đông Ngạc sưu tầm và xuất bản, gởi biếu Lưu Vỹ Bửu. Huy Tưởng tận bên Úc cũng nhận được sách do Thành Tôn thực hiện và gởi biếu. (Rất nhiều bạn văn được anh biếu sách...không kể hết được.)

Hay là sách của tôi, tôi nhờ anh là anh gật đầu đồng ý giúp ngay, anh scan cả 5 tác phẩm, truyện ngắn, truyện dài, thơ, của tôi lên cả hơn ngàn trang...để đưa lên ebooks, cực thế mà anh vẫn vui vẻ làm... 

Xin anh chân cứng đá mềm, sức khỏe mãi, để vui cùng với tình bạn văn, cùng sách vở, và cùng với  gia đình anh, vợ, con, cháu anh...

Xin nói thêm chút xíu, là anh có những đứa con rất ngoan, rất hiếu thảo, nhất là có cô con dâu rất tốt, rất thương anh. Cô con dâu  thường đem đồ ăn, rượu, bia, đến cho ba uống trong những buổi chiều. Nhiều buổi chiều, nhìn thấy anh ngồi uống một mình, buồn, nên cô con dâu cũng xin cụng ly với ba, vài ngụm...để ba vui. 

Mong anh sẽ còn thời gian...mười, hai mươi, ba mươi năm vui nữa, nhé anh. 


Trần Yên Hòa



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.