Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Albert Camus, “Người Xa Lạ”

07/11/201812:38:00(Xem: 4643)
blank
 

Albert Camus, “Người Xa Lạ”

 

Cao Đắc Vinh

 

Sáng nay, một ngày giữa thu đầu tháng 11, ngoài khung cửa sương thu la đà rơi lưng trời tạo nên cảnh u buồn hoài cảm.

Khu phố vẫn ngái ngủ, mặt trời chưa thức dậy, hơi lạnh ban khuya còn bao phủ căn phòng, tôi pha hai ly cà phê nóng rồi ngồi đối diện với người đàn bà mà tuổi đôi mươi đã qua từ mấy thập niên. Nàng cắt tóc ngắn, đôi mắt to tô điểm vội vàng cố tình làm mờ dấu thời gian, chiếc lưng thẳng nối dài tấm thân mảnh khảnh ngẫu nhiên bồi thêm nét thanh tú yêu kiều... Một vẻ đẹp mùa thu trước mắt tôi.

Hớp một ngụm đắng, mùi cà phê tan vào khứu giác làm bay bổng tâm hồn, tôi cao hứng bắt đầu trò truyện:

- Đố em ai đã viết “mùa thu là mùa xuân thứ hai khi mỗi chiếc lá là một cánh hoa”?

- Anh nói đi... Em không biết!

- Camus... anh nghĩ đến câu ấy vì mùa xuân thứ hai đang ở trước mặt anh.

Nói xong tôi nhìn nàng say đắm... Cảm thấy mất tự nhiên, nàng vội nâng ly cà phê nóng ôm giữa lòng bàn tay như để khỏa lấp sự ngượng ngùng rồi vuốt nhẹ mái tóc ra phía sau, mỉm cười bâng quơ, một nụ cười điềm đạm không hé môi. Tôi hỏi tiếp:

- Những năm ở College, em đã đọc “The Stranger” của Camus chưa?

- Có nhưng... không hiểu!

- Vậy em thử đoán hôm nay là ngày gì?

- Ngày gì hả anh?

- Ngày sinh của Camus nên anh sẽ kể triết lý “phi lý” Camus cho em nghe nhé!

Nàng gật đầu, đôi mắt long lanh nhìn tôi chờ đợi.

- “The Stranger” (Người Lạ Mặt) là cuốn tiểu thuyết đầu tay cùng với “The Myth of Sisyphus” (Huyền Thoại Sisyphus) là hai tác phẩm chính của Camus vừa xác định vừa phủ định rồi nhận định một hướng đi đối với sự phi lý trong đời người.

- Em nhớ... cuộc đời Camus cũng nghèo khổ, phi lý và thăng trầm giống như văn chương của ông.

- Đúng vậy! Nói đến triết lý phi lý của Camus thì không thể nào bỏ quên tiểu sử. Để anh kể em nghe từ đầu...
 

Albert Camus sinh ngày 7 tháng 11 năm 1913 ở Mondovi (ngày nay gọi là tỉnh Dréan) xứ Algérie Bắc Phi. Cha ông là Lucien Camus, thợ Pháp trồng nho, bị thương nặng trong trận Marne năm 1914 khi thế chiến thứ I bùng nổ rồi chết ở quân y viện St Brieuc do đó ông không biết mặt cha. Mẹ ông là Catherine Sintès gốc Tây Ban Nha giúp việc nội trợ để nuôi hai con. Nơi đây, Camus sống với ông ngoại bản chất nghiêm khắc độc tài, ông cậu chuyên nghề bán thịt và người mẹ tuy thương yêu con nhưng vừa điếc vừa mù chữ nên ít chuyện trò. Sau khi chồng chết, vì nghèo bà Sintes mang các con về vùng ngoại ô Belcourt ở chung với mẹ và người chú bị tê liệt. Camus sống cô đơn, ngoài giờ học, lang thang với đám bạn bè đá banh, phơi nắng, tắm biển trong khu chung cư bình dân tạp nhạp đủ hạng người. Thuở bé, Camus mắc bệnh lao nên thường phải nhập viện. Nằm nhà thương, ông luôn bị ám ảnh bởi sự chết và nghèo khổ! Năm 1930 ông đậu Tú tài và để có tiền ăn học, ông làm đủ thứ việc... thư ký cho sở khí tượng, tiệm bán đồ phụ tùng xe hơi rồi công ty gởi hàng hoá. Công việc nhàm chán “sáng sách ô đi, tối sách về” đã ảnh hưởng vào tư tưởng phi lý của ông sau này. Lên Đại học, Camus theo môn triết và đỗ cử nhân năm 1935, cao học 1936 ở Algeria. Tuy gốc “chân đen” (pieds noirs) yêu quê hương miền biển sa mạc nhưng bản chất nhân từ, ông viết báo, hoạt động đòi công bằng, bác ái cho dân bản xứ Hồi giáo chống chính quyền thuộc địa. Báo bị đóng cửa không tìm ra việc nên Camus phải rời về Paris. Ông ra nhập đảng Cộng Sản năm 1934 và 3 năm sau 1937 bỏ đảng. Đó là thân thế Camus và từ đó con người đi vào tác phẩm.

- Còn cuốn tiểu thuyết “The Stranger” ra sao? Anh kể cho em đi...
 blank

Tôi chậm rãi hớp một ngụm cà phê trước khi nói tiếp:

- Anh sẽ bắt đầu tóm tắt cốt truyện “Người Xa Lạ” cho em nghe. Tuy nhiên đây là cuốn tiểu thuyết tự truyện của chàng thanh niên Meursault vì thế để thêm phần hào hứng, anh sẽ nói như chính anh ta kể chuyện với em... Bắt đầu là mấy dòng chữ như thế này:

Mẹ chết hôm nay. Cũng có thể hôm qua. Tôi không biết! Nhận được tờ điện tín từ viện dưỡng lão: “Mẹ qua đời. Tang lễ ngày mai. Trân trọng.” Quả tình nó chẳng nghĩa lý gì cả. Có thể sự việc đã xảy ra hôm qua?

Viện ở Marengo cách Algiers 80 cây số, coi như mất 2 tiếng đi bằng xe buýt. Hôm nay thứ Năm, vì đang làm việc ở công ty gởi hàng nên tôi xin phép ông chủ nghỉ 2 ngày. Ông ấy tỏ vẻ khó chịu nên tôi phải lên tiếng xác định: “Không phải lỗi tôi nếu viện muốn an táng vào ngày thứ Sáu!”

Tôi rời văn phòng đến tiệm Celeste’s ăn trưa. Celeste là chủ tiệm, chỗ quen biết vì tôi thường đến đây dùng bữa. Xong xuôi, tôi đón xe buýt dự trù sẽ đến Marengo vào buổi chiều nhưng từ làng Marengo lại phải cuốc bộ khoảng 2 cây số mới tới viện dưỡng lão mà trời thì rất oi bức.

Đến nơi, gặp quản gia, ông ấy dắt tôi vào nhà xác và cắt nghĩa về cái nắng mùa hè nên phải gấp rút việc chôn cất. Đứng bên quan tài, tôi thấy nắp hòm còn khép hờ. Quản gia ôn tồn hỏi tôi có muốn xem mặt mẹ? Tôi trả lời “không cần thiết” vì sau mấy tiếng đồng hồ dưới ánh nắng chói chang, tôi thấy khó chịu, mồ hôi toát ra ướt đẫm. Sau lời từ chối, ông ấy lộ vẻ ngạc nhiên. Cái mệt cùng với không gian hư vô u buồn của nhà xác làm tôi thèm hút thuốc và uống cà phê cho tỉnh ngủ.

Gặp vị giám đốc sau đó, ông ta cũng hỏi tôi muốn nhìn mặt mẹ lần cuối trước khi đóng đinh quan tài? Tôi cũng nói “không” ngắn gọn!

Đêm hôm ấy, tôi gặp những cụ già sống ở đây một thời quen biết mẹ. Họ ngồi ngay hàng thẳng lối để tưởng niệm và cầu kinh nhưng luôn luôn kín đáo nhìn tôi dò xét qua từng cử chỉ. Ở hàng ghế phía sau, bỗng có tiếng khóc thút thít. Lão quản gia ghé tai tôi nói nhỏ... “đó là bà cụ thân với mẹ tôi, họ thường ngồi bên nhau tâm tình bây giờ mẹ tôi đi thì cụ ấy cảm thấy cô đơn”. Ngoài ra ngày mai còn một cụ ông sẽ được phép tiễn đưa trong tang lễ... cụ Thomas Perez thương yêu mẹ tôi đến nỗi ở đây họ bảo đó là “fiancé” của mẹ.

Sáng thứ Sáu mặt trời vừa lên, ánh nắng chói chang báo trước một ngày đẹp nhưng rất oi bức. Tôi đi sau quan tài dĩ nhiên có cả cụ Perez. Nhìn cụ khoác bộ áo màu đen, tay chống ba toong, chân đi khập khiễng trong cái nóng gay gắt mà ái ngại. Cụ lê từng bước trên con đường đất đỏ nên không sao theo kịp đám tang. Sau cùng, thấy cụ đi tắt, ngang qua cánh đồng để có thể nhập vào tang lễ. Mắt cụ đỏ vì khóc, mồ hôi đổ giọt đọng trên má từng hàng ở những nếp nhăn.

Đã lâu tôi không có dịp về miền quê như hôm nay nên phong cảnh quang đãng, không khí trong lành, không gian thanh tịnh cho tôi cái hạnh phúc khoan khoái nếu quên đi ngày chôn cất mẹ.

Nhìn mồ hôi lấm tấm trên mặt tôi, cô y tá phân trần: “Nếu chúng ta đi chậm dưới ánh mặt trời gay gắt, sẽ dễ bị say nắng nhưng nếu đi nhanh, mồ hôi toát ra lại sinh cảm lạnh lúc bước vào nhà thờ.” Tôi thấy cô ấy có lý... không lối thoát ở mọi hoàn cảnh!

Trưa thứ Bảy về nhà, thế là tôi được 4 ngày nghỉ. Bây giờ tôi hiểu tại sao ông chủ không hài lòng lúc tôi xin phép nhưng thôi... ổng nghĩ sao cũng được, tôi bất cần!

Nhìn nắng nóng chan hoà, tôi dự tính trưa nay sẽ đi bơi. Rồi lang thang ở bờ biển, tình cờ tôi gặp lại Maria Cardona, cô thư ký làm cùng hãng khi xưa. Nhìn Marie, thấy cô ta đẹp!

Biển lặng sóng, nàng nằm ngửa trên chiếc phao, tôi gối đầu trên bụng nàng du dương với những va chạm xác thịt. Sau bữa tối ở Celeste’s, chúng tôi xem ciné, tuần này họ chiếu phim vui nhộn của Fernandel. Ngồi trong rạp, nôn nao vì bộ ngực hấp dẫn, tôi mơn trớn cặp vú của nàng. Marie chỉ rên qua làn hơi nhẹ, tôi mạnh bạo với người sang hôn nàng trong bóng tối nhưng nụ hôn ấy không mấy tuyệt hảo vì những tiếng cười xung quanh. Tôi rủ Marie về nhà làm tình rồi ngủ qua đêm.

Sáng Chủ nhật, Marie rời nhà trước khi tôi thức dậy. Mùi da thịt của nàng còn vương trên chăn gối đêm qua càng làm tôi ngây ngất! Ghét ngày Chủ nhật vì chẳng biết làm gì, tôi đành đứng ở ban công nhìn người qua lại dưới phố. Có anh lính bước vội trên đường ngước nhìn tôi, vẫy tay chào. Mấy ông bà dạo phố cũng khoác tay về phía tôi miệng cười toe toét. Tôi vô tư chỉ thấy vẻ đẹp thiên nhiên hữu tình cùng mặt trời và biển mặn.

Sáng thứ Hai, tôi đi làm. Ông chủ vui vẻ hỏi tôi về tuổi của mẹ. Tôi nói khoảng “sáu mươi” vì không biết con số chính xác. Buổi trưa tôi lại đến tiệm Celeste’s ăn, uống rượu, hút thuốc rồi về ngủ sau đó mới trở lại sở làm. Chiều nay, trên đường về tự dưng tôi muốn nấu khoai tây luộc ăn bữa tối.

Vừa lên cầu thang, tôi gặp Salamano với con chó spaniel. Hàng xóm lâu năm, từ lúc mẹ tôi ở đây và vợ ông ta còn sống. Vợ chết, Salamano cô đơn xem spaniel như bạn tri kỷ nhưng mỗi khi con chó vô tình làm phiền thì tức khắc Salamano đánh đập và chửi rủa thậm tệ. Ngày nào cũng thế và cảnh tượng này giống đời sống của vợ chồng Salamano khi xưa.

Sau Salamano, tôi gặp Raymond Sintes, anh ta rủ tôi ăn tối với dồi heo và rượu đỏ. Tôi đồng ý! Chè chén xong, Raymond nhờ tôi viết cho cô bạn gái Ả rập Moorish mà anh yêu nhưng phụ tình nên anh đánh, cô ấy giận không đến nữa. Anh mê Moorish và muốn trả thù... dụ cô ấy trở lại để làm tình rồi phút chót sẽ nhổ nước miếng vào mặt, đuổi cô ấy đi! Tôi không thấy lý do gì từ chối nên nhận lời viết. Raymond nói chiều nay vừa đánh lộn với thằng Ả rập, anh của con nhỏ đó nên đau tay phải băng bó.

Cuối tuần lễ sau, Marie đến thăm. Sau những giờ phút ái ân, nàng hỏi tôi có yêu nàng không? Tôi trả lời “không” vì điều đó vô nghĩa. Yêu tôi nên Marie hỏi có muốn cưới nàng làm vợ không? Tôi lại phải nói rằng hôn nhân chẳng phải là điều quan trọng nhưng nếu nàng muốn thì chúng mình cưới nhau. Marie lộ vẻ buồn nhưng chỉ vài phút sau lại cười nói và hôn tôi. Nàng bảo yêu tôi vì những điều kỳ cục đó.

Masson là bạn của Raymond có căn nhà ngay bờ biển nên họ mời chúng tôi đến chơi và ở đây vô tình đã xảy ra án mạng... Hai người Ả rập theo chúng tôi đến bờ biển. Raymond đánh lộn bị họ dùng dao chém rách miệng phải vào nhà thương. Tôi phải giữ cây súng của Raymond để khỏi xảy ra án mạng một cách bất ngờ nhưng không may chính tôi lại là kẻ sát nhân.
 

- Câu truyện còn dài mà mặt trời đã lên cao nên anh tạm ngừng ở đây nghe em.

“Người Xa Lạ” của Camus đặt thân phận con người vào tính phi lý và vì đời người phi lý nên xã hội tìm mọi cách cho nó những niềm tin như tôn giáo hay quy ước gia đình, xã hội chẳng hạn.

Meursault sống trung thực, nghĩ sao nói vậy, mọi hành động đều có tính thiên nhiên và tự nhiên. Ở phần Hai, Meursault phải đối mặt với tù tội nhưng nhất định không theo Chúa và anh ta chấp nhận chết. An ủi rằng cái chết chắc chắn trong đời người và con người chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc khi ý thức cái thực tại ở ngay hôm nay... Hãy quên đi thiên đàng, địa ngục với kiếp sau.

Thôi chúng mình tạm ngừng ở đây. Hẹn em nói chuyên tiếp vào một buổi sáng khác đẹp trời bên ly cà phê.

 

11/07/2018

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Vụ «khủng hoảng thế kỷ» xảy ra đột ngột và gay gắt qua vụ tàu lặn Pháp-Úc tưởng chừng như khó mà hàn gắn lại được tình đồng minh kỳ cụu xưa nay nhưng rồi cũng thấy nhiều dấu hiệu tích cực để tin chắc trời sẽ lại sáng.
Nguyễn Khải, Nguyễn Mộng Giác, Võ Phiến đều đã đi vào cõi vĩnh hằng. Lớp người Việt kế tiếp, đám thường dân Bốn Thôi cỡ như thì sống cũng không khác xưa là mấy. Tuy không còn phải “né viên đạn của bên này, tránh viên đạn của bên kia, đỡ ngọn roi của bên nọ” như trong thời chiến nhưng cuộc sống của họ (xem ra) cũng không được an lành hay yên ổn gì cho cho lắm
Như vậy là bao trùm mọi lĩnh vực quốc phòng, an ninh xã hội có nhiệm vụ bảo vệ đảng và chế độ bằng mọi giá. Nhưng tại sao, giữa lúc tệ nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái đạo đức, lối sống và tình trạng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn ngổng ngang thì lại xẩy ra chuyện cán bộ nội chính lừng khừng trong nhiệm vụ?
Nhật báo Washington Post của Mỹ ghi nhận là: “Tổng thống Pháp Macron vốn dĩ đã rất tức giận khi được tham vấn tối thiểu trước khi Mỹ rút khỏi Afghanistan. Điều đó bây giờ đã tăng lên. Chính quyền Biden nên xem xét sự không hài lòng của Pháp một cách nghiêm túc. Hoa Kỳ cần các đối tác xuyên Đại Tây Dương vì đang ngày càng tập trung chính sách đối ngoại vào cuộc cạnh tranh cường quốc với Trung Quốc. Và trong số này, Pháp được cho là có khả năng quân sự cao nhất.
Sau khi tấm ảnh người đàn ông đi xe máy chở người chết cuốn chiếu, chạy qua đường phố của tỉnh Sơn La (vào hôm 12 tháng 9 năm 2016 ) được lưu truyền trên mạng, Thời Báo – Canada đã kêu gọi độc giả góp tay ủng hộ gia đình của nạn nhân. Số tiền nhận được là 1,800.00 Gia Kim, và đã được những thân hữu của toà soạn – ở VN – mang đến tận tay gia đình của người xấu số, ở Sơn La.
Công bằng mà nói, ngày càng có nhiều sự đồng thuận là chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa để ngăn chặn các hành động của Trung Quốc trong khu vực. Sự răn đe đòi hỏi những khả năng đáng tin cậy. Liên minh mới này phù hợp với lý luận đó.
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.