Hôm nay,  

Cổng Nhà Tù​

09/07/201810:47:00(Xem: 10904)
CỔNG  NHÀ  TÙ
                                                                                                    
Hồi ký PT. Nguyễn Mạnh San
  
Trên toàn quốc Hoa Kỳ, Linh Mục Bùi Phong và tôi Phó Tế là 2 người Việt Nam duy nhất, đã tốt nghiệp Khóa Huấn Luyện Các Tân Tuyên Úy Trại tù Liên Bang Hoa Kỳ (New Federal Prison Chaplains) vào ngày 14-09-1998, tại Trung Tâm Huấn Luyện Hành Chánh Liên Bang Hoa Kỳ ( US Administration Training Center), tại tỉnh Aurora của tiểu bang Colorado. Nhưng hiện nay cả hai chúng tôi đã về hưu và trước đây Linh Mục Bùi Phong chính thức làm Tuyên Úy cho một trại tù liên bang, còn riêng tôi được Tổng Giám Mục Công Giáo Oklahoma City, chỉ định tôi làm Tuyên Úy Trại Tù tình nguyện, không lãnh lương, vào những ngày nghỉ cuối tuần, liên tục trên 21 năm qua, để phục vụ các anh chị em tù nhân, không phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo và màu da. Ngoài nhiệm vụ chính là rao giảng Tin Mừng và trao Mình Thánh Chúa cho anh chị em tù nhân ra, tôi còn tư vấn cho họ về các vấn đề thủ tục pháp lý (Legal Procedures), chẵng hạn như giải thích cho họ biết rõ những quyền lợi pháp lý căn bản (Basically Legal benefits) đối với một tù nhân hình sự (Criminal Prisoner), mà tù nhân có quyền đòi hỏi chính quyền chỉ định một luật sư công (Public Defender) miễn phí, đứng ra bênh vực tội trạng cho họ trước phiên tòa xử án, nếu tù nhân không có tiền thuê mướn luật sư tư, để bênh vực cho tội trạng của họ trước tòa án.
 
N
ói tóm lại, bất cứ những điều gì họ thắc mắc có liên quan đến vấn đề quyên lợi của họ, trong l
úc họ bị tạm giam hay bị ở tù, mà họ không hay biết hoặc không  hiểu rõ tường tận những quyền lợi của họ, họ có thể yêu cầu ​tôi giải thích cho họ hiểu rõ những quyền lợi đó; có một điều tôi không được quyền tư vấn về pháp luật hình sự (Criminal Law) cho họ nghe, như là một​ luật sư có bằng hành nghề tranh tụng (Bar License) trước tòa. Sở dĩ tôi có quyền tư vấn cho họ những vấn đề quyền lợi hay những thủ tục pháp lý (Legal Procedures), vì tôi đang phục vụ trong ngành tư pháp Hoa Kỳ, nên tôi rất am tường những quyền lợi qua các thủ tục hành chánh pháp lý dành cho các tù nhân, trong khi họ bị tạm giam hay đang ở trong tù; do đó tôi tình nguyện chỉ dẫn và giải thích cho họ hiểu rõ những quyền lợi này, để họ có thể yêu cầu chính quyền cho họ được thụ hưởng những quyền lợi dành cho một can phạm (inmate) đang bị tạm giam để chờ ngày ra tòa xét xử hoặc xin được thụ hưởng những quyền lợi cho một tù nhân (Prisoner) đã lãnh án ở tù (Imprisonment) và đang ở trong nhà tù.
  
Trong suốt hơn 21 năm liên tục, tôi được phục vụ anh chị em tù nhân, có 5 vụ án đặc biệt nhất, mà trong đời tôi không bao giờ có thể quên được, vì tôi đến thăm nom họ trực tiếp trong các trại tạm giam (Jails) hay trong các trại tù (Prisons), vào những ngày nghỉ cuối tuần, nên tôi có dịp tư vấn cho họ về vấn đề thủ tục pháp lý. Đó là 4 vụ án tử hình (Death Sentence): Gồm có 2 người Mỹ và 2 người Việt Nam. Ngoài ra tôi có dịp tư vấn cho 2 vụ án chung thân (Life Sentence) cộng thêm với điều kiện khắc nghiệt, là mãn đời sống chết trong tù đều là người Việt Nam, gồm 1 người nam và 1 người nữ VN duy nhất tại tiểu bang Oklahoma. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ xin thuật lại một cách tổng quát, hoàn toàn khách quan về câu truyện của một nữ tù nhân Việt Nam duy nhất, lãnh án tù chung thân với điều kiện khắc nghiệt mà tôi mới vừa kể trên đây, với mục đích truyền thông tin tức về vụ án này đến công luận, để người Việt chúng ta tự mình nên cảnh giác và đề phòng một tai nạn có liên quan đến pháp lý có thể xẩy ra cho bản thân mình, sẽ bị pháp luật Hoa Kỳ buộc vào tội giết con nít (Baby Killer), dù chỉ là hành động vô tình hay bất cẩn gây ra tai nạn chết người, để cho em bé bị té xuống đất, bị vỡ đầu dập óc, chết vì thương tích quá nặng, nhưng đứng trước pháp luật vẫn bị coi là tình ngay mà lý gian, nên người trông giữ em nhỏ, nếu em nhỏ này chết, có thể bị lãnh án chung thân (Life Sentence) hoặc có thể bị lãnh án tử hình (Death Sentence) ở những tiểu bang nào có luật tử hình. Vậy, đối với những ai đang trông giữ trẻ em (Baby Sit) tại nhà, cần nên lưu ý đến tai nạn này có thể xẩy ra, mà hầu như dưới thời VNCH trước 1975 tại quê nhà, không hề thấy có sự việc này xẩy ra, mà nếu có xẩy ra thì được coi là vô tình gây ra tai nạn và chỉ phải bồi thường cho nạn nhân theo luật dân sự (Civil Law) mà thôi, chứ không bị Công Tố Viên truy tố ra tòa về tội giết người. Do đó người Việt chúng ta đang sinh sống tại Hoa Kỳ nói riêng, những ai đang trông nom săn sóc trẻ em tại tư gia, cần nên lưu ý đến khía cạnh pháp lý trong câu truyện được kể lại dưới đây,  chứ hoàn toàn chúng tôi không hề có ý xét đoán hay bênh vực bất cứ một nhân vật nào trong câu truyện này.
  
Vị nữ tù nhân chung thân người Việt duy nhất này, lãnh án tù chung thân suốt đời cho đến ngày chết trong tù, vì bị buộc tội cố sát, bẳng hành động ném em bé xuống sàn nhà, làm cho em bé bị dập óc trong đầu, ít giờ sau em bé tắt thở chết trong nhà thương và theo đúng những gì bản cáo trạng đã ghi, được Công Tố Viên (Prosecutor) đọc lên trước phiên tòa xét xử. Tiếp theo ngay sau đó, bị cáo khai trước tòa là đương sự tình nguyện trông giữ em bé không lấy tiền công, vì em bé là cháu gái ruột của chồng chị và chị nói là không hề ném em bé xuống sàn nhà. Cuối cùng toà tuyên án phạt bị cáo bằng bản án chung thân ở trong tù đời đời về tội cồ sát (First Murder) một em bé
  
Trong hơn 2 năm liên tiếp đương sụ nằm trong trại tạm giam (Jail), để chờ đợi phán quyết ​cuối cùng của tòa tuyên án, hàng tuần tôi vào thăm nom an ủi đương sự. Mẹ của đương sự là người Việt, Bố của đương sự là người Parkistan, nên đương sự tự động theo đạo Hồi Giáo của Bố từ khi mới sanh ra. Tất cả những ai quen biết đương sự, đều cho rằng bản án chung thân dành cho đương sự thì quá khắc nghiệt, nghĩa là đương sự sẽ phải ở trong tù cho đến chết, không bao giờ được hưởng qui chế ân xá hay tiểu xá, để có thể trở về nhà trong tương lai, vì tất cả những ai quen biết đương sự, đều không ai tin rằng với bản chất hiền lành dễ mến của đương sự đối với mọi người, lại có thể nào nhẫn tâm ném một em bé vô tội xuống sàn nhà, gây tử thương cho em bé, họ nghĩ em bé này chết vì có thể đương sự bị trượt tay, làm rớt em bé xuống sàn nhà, gây ra trọng thương trong đầu của em bé, làm cho em bé bị dập óc chết trong vài tiếng đồng hồ sau, chứ không đời nào lại cố tình ném em bé xuống sàn nhà. Đã thế, vừa mới bị lãnh bản án chung thân cay nghiệt này, thì vài tháng sau đó, người chồng của đương sự nạp đơn xin ly dị đương sự và cưới vợ khác, trong lúc đứa con trai duy nhất 7 tuổi của đương sự với người chồng này, tòa phán quyết người chồng này không được quyền nuôi đứa con và tòa ra lệnh đem đứa con trai của hai vợ chồng đương sự cho cha mẹ nuôi (Foster Parents) nuôi dưỡng, điều này lại làm cho đương sự càng thêm đau khổ. 


Mặc dầu tôi biết rõ đương sự theo đạo Hồi Giáo, nhưng mỗi lần tôi vào thăm nom đương sự trong trại tạm giam, tôi đều rao giảng Lời Chúa cho​ ​đương sự nghe và chỉ sau vài năm ở trong tù, đương sự đã tình nguyện xin được rửa tội để trở thành con cái Chúa và đương sự cho biết nhờ thế, đương sự được sống an bình trong tay Chúa trong nhà tù. ​Sở​ dĩ ​tô​i đ​í​nh kèm​ lá ​thư​ của​ đươ​ng sự​ ​​​​​​​​​​​​​​viế​t tay ​​​gử​i cho tô​i​​ dư​ớ​i đ​â​y, là​ mụ​c đ​í​ch đ​ể​ giúp​ cho đ​ộ​c​ giả​ ​​​​​​​​​hiểu​ rõ​ thê​m ​nhữ​ng sinh hoạt​ ​​​​​​trong nhà​ ​​tù​ của​ ​phái​ nữ​ ​​và tôi đã dùng đầu đề lá thư ​củ​a​​ đương sự​ viế​t​​ tay gử​i cho tô​i​​​​​,​ ​​​​là​m​​ đ​ầu​ đ​ề​ bài viết này​.​ ​​​​​


blank
blank
blank
blank
blank
blank

.
  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.