Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ

17/05/201812:51:00(Xem: 3177)

Trần Yên Hòa

hơn năm mươi lăm năm thơ

Tôi không nhớ rõ tôi yêu thơ từ khi nào. Có thể khoảng 10, 11 tuổi cũng nên. Đó là thời gian tôi học lớp nhì, lớp nhất trường tiểu học Kỳ Mỹ, Tam Kỳ, Quảng Nam.

Tuổi con nít mà, tôi thích nghe những điệu hò dân dã của quê mình, đó là môn "hát nhơn ngãi". Lối hát và lời hát này là của các nam thanh nữ tú quê tôi tự đặt ra, những chàng trai quê, những cô gái quê, đi cấy, đi gặt lúa, hay đi đập lúa trong những đêm sáng trăng, trời trong xanh vằng vặc. Những câu hát huê tình, chọc ghẹo nhau (tán) nhau  giữa nam nữ. Nhiều câu đối đáp, thật hay, thường là bằng thơ lục bát hay 7 chữ, có khi là một câu dài tự do. Đối đáp để trả lời bên kia làm sao cho vừa hay, vừa thật tài tình,....để đối phương cảm động, xao xuyến tâm hồn. Nhờ thế mà có nhiều cặp sau này thành vợ thành chồng. Chữ Nhơn Ngãi này ai đặt ra nghe thấm thía quá.

blank

Từ những câu hát đó, kèm theo, cha tôi, người cũng mê thơ. Ông có làm thơ đường, thơ thất ngôn bát cú, hay họa lại với các ông chú, ông bác trong làng xóm. Hay mẹ tôi, thường hát ru tôi bằng những câu ca dao thắm đượm mùi vị quê hương, tình yêu trai gái, nên tôi thấm sâu vào lòng những âm thanh ấy, để mà sau này tôi yêu thơ và làm thơ, cũng nên.

Lại một người nữa là chị Khiêm tôi, người chị đầu duy nhất, chị cũng mang trong lòng một "bụng" thơ. Ngày còn nhỏ, trong những buổi trưa hè, hay trong những đêm trăng sáng, chị thường nằm trên võng hay ngâm nga những bài thơ, đoạn thơ, trong tác phẩm như "Đồi Thông Hai Mộ" (không biết tác giả là ai). Tác phẩm này có từ đâu, mà chị hai tôi đã chép tay lại, thành một tập.

 

Một đoạn thơ tiêu biểu như:

 

Anh Đinh Lăng của em đâu nhỉ?

Anh của em yêu quý suốt đời

Anh đi mù mịt xa khơi

Phượng hoàng tung cánh chim trời nào hay.

 

Hay những đoạn thơ trong "Lỡ Bước Sang Ngang" của Nguyễn Bính:

 

Em ơi! Em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi một bước trăm đường xót xa
Cậy em, em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương

 

Những câu thơ này tự nhiên đã thấm vào hồn tôi lúc nào không hay, và từ đó tôi yêu thơ (văn) nhiều hơn, và quyết tâm theo đuổi "nghiệp" thơ, dù nghĩ rằng chặng đường đi tới, chắc là khó khăn và nhiêu khê lắm.

(Hồi đó, có những chuyện viết tay, không biết xuất phát từ đâu, mà được chuyền từ học sinh này đến học sinh kia, nam sinh (kể cả nữ sinh), cũng thi nhau lén lút đọc, trong đó có truyện "7 đêm khoái lạc", một chuyện mà đứa nào trong lũ chúng tôi cũng đọc, vừa đọc, vừa đỏ mặt lên, cười rúc rích, khoái chí, dù "chuyện người lớn" này, chúng tôi chưa biết mô tê, ất giáp ra răng cả.

Năm mười hai tuổi, tôi bắt đầu tập tễnh làm thơ. Những tập vở mẹ tôi mua cho đi học lớp đệ thất ở trường trung học, tôi dở những trang vở sau cùng ra làm nháp những bài thơ. Suốt cả một niên khóa vậy, tôi làm cũng được mấy chục bài, tôi chép tay lại trên giấy va luya, và đóng thành tập.

Tập thơ đầu tiên này có tên là "Lạnh Ngập Bờ Vai". Đúng là, nhớ lại, theo trí nhớ thôi chứ tôi không còn nhớ bài nào, vì sau đó, chiến tranh tấp đến, xô đẩy tôi bỏ xứ mà đi, nên mất hết, đâu còn giữ được gì. Nay, nhớ  vài đoạn, tôi thấy cách hành văn, câu chữ, thật là con nít, vừa sến, vừa không thơ chút nào, nghe mà "ớn lạnh xương sống".

 

Ví dụ một đoạn mà tôi nhớ nhất:

 

Gió lạnh chiều nay thổi rạt rào

Ân tình mộng đẹp biết nói sao

Nhìn hoa tôi thấy màu tan tác

Gió lạnh bên đường biết biết bao

 

Nhưng dù gì, cái giấc mộng thơ văn cũng vẫn luôn tồn tại trong tôi. Trong suốt thời gian trung học đệ nhất cấp, tôi làm nhiều bài thơ nữa, rồi lại xé đi, nay không còn dấu vết.

Mãi đến năm 1964, nhân lúc tình hình chinh trị trong cả nước rối ren, các tướng lãnh thi nhau chỉnh lý, đảo chánh loạn cả lên. Trường tôi theo học, học sinh biểu tình bãi khóa liên miên, Phật giáo tranh đấu khắp nơi. Lúc đó Tỉnh hội Phật giáo Quảng Tín có xuất bản một tập san lấy tên là Hoa Đàm, không biết do ai giới thiệu mà tôi có gởi đến Tập San này 2 bài viết, một thơ, một truyện. Sau khi báo phát hành, tôi thấy truyện ngắn và bài thơ của tôi xuất hiện ở đây, tôi nghe sướng "rên", hạnh phúc tràn đầy như được uống một ly rượu say, 2 bài của tôi đều lấy bút hiệu là Thùy Phương Linh, đọc lên nghe như tên con gái, chả ai biết là của tôi cả.


Và những năm sau đó, còn tuổi học trò, tôi vẫn mãi miết làm thơ, khi hứng, khi rảnh. Tôi gởi thơ tôi đến các báo ở Sài Gòn. Những tờ tuần san hạn trung như Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tuần San Thứ Tư, Tiểu Thuyết Thứ Bảy...Nhưng thực ra, tôi gởi đi cho vui, chứ tôi không có phương tiện để mua những tờ báo đó đọc, vì còn học sinh nên không có tiền, nhiều khi ra tiệm sách đọc ké những tờ báo, nếu có bài mình được đăng thì vui lắm, tưởng mình "vĩ đại" lắm. Tôi nghĩ thế thôi và tự thấy làm mản nguyện với chính mình, vui với chính mình, hạnh phúc với chính mình (nay có từ là "tự sướng").

 

Tháng ngày này tôi còn non choẹt, thơ cũng non choẹt, chưa yêu ai và chưa ai yêu tôi. Hình bóng con gái - gái quê, gái phố, nữ sinh, sinh viên, gái ngân hàng, tiếp viên hàng không, nữ ca sĩ, cô giáo...chỉ là những bóng dáng viễn mơ của tôi, tưởng tượng trong tâm hồn và làm thơ một chiều. Không có bóng dáng nào chắc chắn, không có hình, có bóng. Suốt những năm trung học, thật ra mà nói, tôi chưa yêu ai, chưa có tình yêu với một người con gái nào, nếu có là trong thơ, là mơ mộng viễn vông. Và tôi cũng chỉ làm thơ một mình, tự mình mình biết, tự mình mình hay, không có kết bạn văn thơ với ai. Hình như trong suốt những năm trung học, tôi đăng đâu được khoảng 20 bài thơ trên các báo Sài Gòn, những tờ báo "thường thường bậc trung" kể trên.

 

Đến khi vào đại học - tôi đậu tú tài hai, ban B, nên nghĩ mình có thể theo Đại Học Khoa Học. Tôi ghi danh vào Chứng chỉ MPC, tức Toán Lý Hóa. Học chỉ được hai tháng là tôi thấy mình không theo nổi, nên tôi bỏ MPC và ghi tên qua Luật...

Dù một lòng quyết chí lập công danh bằng con đường học vấn, nhưng chuyện thơ văn vẫn âm thầm theo đuổi tôi hằng giờ, hằng ngày. Lúc này tôi đang trọ học ở một căn gác nhỏ ở đường Lê Văn Duyệt, đối diện xéo xéo rạp ciné Thanh Vân.

Ở đây, có người bạn cùng quê với tôi tên Hãn, người bạn vào Sài Gòn, vừa đi học, vừa đi làm. Hãn làm ở Nhà Tổng Phát Hành Nam Cường, với công việc là lựa báo và bỏ báo. Hãn thức dậy rất sớm, khoảng 5 giờ sáng, đi làm và khoảng 3 giờ chiều đã về rồi. Anh về, hàng ngày, anh đem về cơ mang nào là sách, báo. Có rất nhiều báo hàng ngày như Chính Luận, Công Luận, Dân Ta...Còn tuần báo thì có Tuần san Thứ thư, Tiểu thuyết thứ năm, Tiểu thuyết thứ bảy, Phụ nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Ngày Mai, Điện Ảnh...Tôi tha hồ đọc và làm thơ gởi các báo này, và được đăng nhiều hơn, (nhưng tuyệt nhiên không có những tờ văn học lớn như Bách Khoa, Văn, Văn Học, Tư Tưởng, Giữ Thơm Quê Mẹ...)

Ở chung phòng trọ với tôi, trước đó đã có Minh. Minh là học sinh học trường tư thục Tân Văn ở đường Trần Quí Cáp, Sài Gòn. Minh thấy tôi hay làm thơ, viết văn, nên rủ tôi gặp những người bạn của Minh cùng học lớp với Minh ở trường đó. Những người bạn này, theo Minh nói "cũng làm thơ hay lắm, muốn gặp tôi nói chuyện". Thế là tôi hẹn gặp. Những chàng này còn là học sinh, nhỏ hơn tôi một vài tuổi, thích văn thơ.

Trước đó, họ đã lập ra một Thi Văn Đoàn lấy tên là Mây Trời Việt. Cái tên nghe cũng kêu ghê. Những người bạn thơ mới đó, có những bút danh như một cậu ở Quảng Ngãi lấy tên là Trà Ấn Tường Vân, một cậu là hội trưởng cũ lấy tên là Mặt Trời Hoang. Có một cậu nói mình là nhạc sĩ và tự giới thiệu là cháu của nhạc sĩ Mạc Thế Nhân...Đám choai choai đó, có lẽ qua giới thiệu của Minh, và cũng có đọc mấy bài thơ tôi đăng ở các báo, nên trong một buổi "họp" đầu tiên, họ đề cử tôi làm Hội trưởng. Hội trưởng Thi Văn Đoàn Mây Trời Việt. Nghe cũng "oách xì xằng" lắm.

Hội cũng có nội quy đàng hoàng, có thể lệ gia nhập hội, có lịch sinh hoạt, có con dấu đỏ tròn ghi tên Hội, để mỗi khi Hội trưởng ký một văn bản nào đó thì đóng con dấu đỏ lên.

Tôi cũng mê cái Hội này, nên cứ thứ bảy chủ nhật là tôi vác cây đờn Guitar của Minh (tôi mượn, vì Minh không gia nhập hội, không làm thơ). Tôi thấy tôi như là tay đàn cừ lắm, thật ra tôi không biết đàn, ca cũng dỡ ẹt, vì không có hơi.

Sau này, tôi nghĩ thêm ra rằng, cái gì thuộc về Văn Học Nghệ Thuật mà không có năng khiếu bẩm sinh, thì cố gắng đến đâu cũng thua, cũng không làm ra một bài thơ hay, một truyện hay, một bản nhạc hay. (dĩ nhiên trong số này cũng có một số rất ít, có được năng khiếu bẩm sinh).

Những ngày ở Sài gòn, tôi chẳng làm được gì cả, dù ôm trong bụng một trời thơ ca, nhưng không gây nên một tiếng vang gì, dù làm Hội Trưởng Thi Văn Đoàn Mây Trời Việt. Từ đó tôi mới nhận chân ra rằng, cái cốt lỏi của nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ là tác phẩm của mình.

Tôi kể lại chuyện này coi như là một kỷ niệm vui hồi còn tuổi trẻ mà thôi.

 

Cho đến những năm tôi đi lính, khoảng năm 68, 69, 70, tôi mới có những bài thơ (và truyện ngắn) ra hồn, đăng trên Khởi Hành, Tuổi Ngọc, Thế Đứng, Nhật báo Tiền Tuyến...Lúc đó, tôi thấy thấy mình trưởng thành hơn một chút.

 

Khi qua hải ngoại, tôi vẫn ôm mộng tưởng thơ, văn. Bài tôi viết được đăng ở các báo văn học có giá trị như Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21, Sóng Văn...trên các nhật báo như Người Việt, Viễn Đông, Việt báo, Saigon nhỏ...hay các báo tuần như Sàigòn nhỏ, Hồn Việt, Trẻ Magazine, Phụ Nữ Diễn Đàn, Chí Linh và các trang mạng như Văn Chương Việt, Du Tử Lê, Luân Hoán, Phạm Cao Hòang, Sáng Tạo, Phố Văn, Học Xá...Và tôi đã thực hiện, chủ trương Trang mạng Văn Học Nghệ Thuật "Bạn Văn Nghệ", cũng được nhiều bạn đọc viếng thăm.

 

Tôi cứ thế tiếp tục.

 

Mãi đến bây giờ. Thế mà cũng (tròm trèm) hơn năm mươi lăm năm, từ năm 1962 đến nay là 2018 (năm xuất bản tập thơ này) là 56 năm. Một chặng đường khá dài. Coi như chiếm hết cả cuộc đời tôi, và có thế nói, khi tập thơ này in ra, tôi cũng sẽ còn làm thơ nữa, vì tôi nghĩ, bây giờ, thơ, văn là môn giải trí quí giá nhất của tôi. Có thể để làm cho mình đỡ cô đơn, xóa đi những phút giây trống rỗng, ở Mỹ, với cuộc đời đầy trầm luân, bầm dập của tôi. 


Nếu nói, thơ văn là nghiệp mà tôi đã vướng vào thì cũng đúng, vì hầu như suốt đời, tôi lúc nào tôi cũng nghĩ đến nó...

 

 

Xin cảm ơn bạn đọc khắp nơi, bạn văn khắp nơi, dù quen biết hay không quen biết.

Tôi luôn luôn thương quí và trân trọng các bạn. Như tự thương quí tôi.

 

Trần Yên Hòa

             
*


tuyển tập thơ
hơn năm mươi lăm năm thơ
Trần Yên Hòa
bìa: uyên nguyên
lay out, gởi in trên amazon: lê hân
sửa tổng quát: thành tôn

Bạn Văn Nghệ
xuất bản 2018

350 trang. giấy vàng tốt. bìa láng.

giá: $20.00

phát hành trên hệ thống Amazon toàn cầu

*

muốn đặt mua ở amazon xin vào:

 

vào www.amazon.com 

 

đánh máy chữ:

hon nam muoi lam nam tho


hay liên lạc email:

tran_hao47@yahoo.com

nxb Bạn Văn Nghệ

trân trọng giới thiệu




Kính Mời

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973 tại Paris, gồm có 9 chương và 23 điều khoản. Nội dung mà Chính phủ Hoa Kỳ, Chính phủ VNDCCH, Chính phủ VNCH và Chính phủ CMLTMNVN đồng thuận không phải là thoả hiệp giữa hai phe thắng và thua, mà nhằm quy định việc ngưng mọi cuộc giao tranh, Hoa Kỳ rút quân trong vòng 60 ngày ra khỏi Việt Nam, QĐNDVN được ở lại miền Nam; bù lại, Hà Nội trao trả các tù binh Hoa Kỳ, VNCH và MTGPMN cùng hoạt động trên lãnh thổ của mình...
Tại sao rất ít người Việt đọc sách Việt? Tôi muốn nói đến sách văn chương, sách triết học, sách khoa học. Đây là ba nguồn kiến thức, tư tưởng lớn của nhân loại. Nếu lấy ra hết ba loại hiểu biết này, con người chỉ là đàn bò nhai lại và tranh cãi. Nếu một người không có hiểu biết nào từ ba nguồn cung cấp trên, người đó không thể khác hơn con bò. Tuy nhiên, việc này không bao giờ xảy ra.
Hôm thứ Sáu 13/1/2023 vừa qua, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden tiếp Thủ tướng Kishida Fumio của Nhật Bản tại phòng Bầu Dục Tòa Bạch Ốc. Chương trình nghị sự của hai nguyên thủ quốc gia hẳn phải đề cập đến hiểm họa an ninh từ Trung quốc, mà cả hai quốc gia trong thời gian những năm gần đây đều đặt lên trọng tâm hàng đầu
Làm sao để giữ vững tư tưởng trong Quân đội và Công an là vấn đề sống còn năm 2023 của đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN). Lý do vì năm con Mèo (Quý Mão) có Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ Khóa đảng XIII, dự trù vào khoảng tháng Sáu, để bỏ phiếu tín nhiệm các cấp Lãnh đạo từ Trung ương xuống địa phương. Cuộc bỏ phiếu này sẽ là cơ hội cho các cấp tranh đua, chạy chức, chiếm quyền lãnh đạo. Và kết quả cuộc bỏ phiếu này sẽ đặt nền tảng cho Đại hội đảng khóa XIV để bầu lên Tổng Bí thư và Bộ Chính trị mới nhiệm kỳ 2026-2031...
Chứ chả lẽ cái chết thảm thiết của bà Cát Hanh Long và của hàng bao nhiêu triệu lương dân khác nữa (ở khắp ba miền đất nước, từ hơn nửa thế kỷ nay) thì đất/trời có thể dung tha được hay sao?
✱ Lê Đức Thọ: Bây giờ về phần thỏa thuận chúng tôi đã đồng ý, chúng ta sẽ tiến hành như thế nào? ✱ Kissinger: Để tránh nhầm lẫn, chúng tôi sẽ đánh máy lại từ tiếng Anh của chúng tôi và ông có một bản sao của bản văn. Chúng tôi sẽ nỗ lực tận tâm nhất để đảm bảo rằng mọi thứ chúng ta đã đồng ý đều được hợp nhất. ✱ TT Thiệu: Nếu chúng tôi không thể ký thỏa hiệp này trước cuộc bầu cử, thời liệu Hoa Kỳ có cần phải công bố cho người dân biết rằng họ vẫn có ý định ký kết thỏa hiệp này không? ✱ TT Nixon: Tôi phải có câu trả lời của ông (TT Thiệu) trước 1200 giờ Washington, ngày 21 tháng 1 năm 1973...
Sau 13 năm, cuối cùng thì Bác sĩ David Sinclair và các đồng nghiệp đã tìm được câu trả lời cho câu hỏi: Điều gì thúc đẩy quá trình lão hóa? Trong một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Cell vào ngày 12 tháng 1 năm 2023, Sinclair, giáo sư di truyền học và đồng giám đốc của Paul F. Glenn Center for Biology of Aging Research tại Trường Y Harvard (Harvard Medical School), đã phác họa ra một chiếc đồng hồ lão hóa, khi ta vặn chiều kim là có thể đẩy nhanh hoặc đảo ngược quá trình lão hóa của các tế bào.
Lời báo động muộn màng này cũng đã giúp tôi hiểu ra lý do mà sư Minh Trí – sau khi xuất gia, từ bỏ mọi hoạt động chính trị, đã hết lòng tận tụy chăm lo cho những lớp học Việt Ngữ, ở Kampuchea, cho đến… hơi thở cuối!
Trong bài viết sau đây, Henry Kissinger đã cảnh báo về một cuộc thế chiến mới có thể xảy ra và phương cách tốt nhất là tìm cách tạo cho Nga một cơ hội đàm phán trong danh dự. Ý kiến của Kissinger còn nhiều điểm chưa thuyết phục, cần được thảo luận sâu xa hơn...
Trong hơn ba năm - chính xác là 1,016 ngày - Trung Quốc đã đóng cửa với cả thế giới. Hầu hết sinh viên nước ngoài rời khỏi đất nước khi bắt đầu đại dịch. Khách du lịch đã ngừng đến tham quan. Các nhà khoa học Trung Quốc đã ngừng tham dự các hội nghị nước ngoài. Các giám đốc điều hành người nước ngoài bị cấm quay trở lại công việc kinh doanh của họ ở Trung Quốc. Vì vậy, khi Trung Quốc mở cửa biên giới vào ngày 8 tháng 1, từ bỏ những tàn tích cuối cùng của chính sách “không covid”, việc đổi mới tiếp xúc thương mại, trí tuệ và văn hóa sẽ có những hậu quả to lớn, mà phần nhiều là lành tính.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.