Hôm nay,  

HÀNG XÓM

16/02/201812:27:00(Xem: 13430)

HÀNG XÓM

 

Lưu Na

 

Xếp các thức vừa mua ở chợ vào bếp xong, cô vào thay quần áo.  Điện thoại reo, nhưng là điện thoại của lão Khọm sát vách.  Cô chạy ra sát cửa patio vểnh tai nghe. 

-…

-Này Trấn Văn Vương, chiều nay qua nhà tớ, có món đặc biệt.

-…

-Thì cúng buổi trưa cho xong rồi qua.  Mình rước ông bà về ăn Tết buổi trưa mới có xe đò, chứ chiều tà các cụ ngại!!

-…

-Nhớ khều lão mắt kiếng, mà khều cho sớm vì lão khệnh khạng lắm cơ.

-…

-Yên chí, nếu dở tớ đền, đền món khác dở hơn.

-…

-Dở hơn, mà có dở hơi cũng cứ là được thôi!

-…

-Nhớ nghen, giờ nào cũng được miễn có mặt.

 

A ha, sắp có cuộc vui.  Vào bếp, cô sắp đặt xôi, bánh mứt, và trái cây sẵn vào đĩa, rồi quay sang lau bàn thờ.  Bát nhang đầy cứng, bụi bặm phủ mặt tủ bám cả vào khuôn hình và chân nến.  Mấy cái chung đồng đã xỉn màu, thôi lần này phải thay chung sứ cho dễ rửa.  Cô đứng trên cái ghế đẩu con con, mân mê những bức hình đen trắng đã ngả màu.  Ông ngoại áo vét tóc rẽ lệch ngôi, bà ngoại khăn vấn nhung đen nụ cười phúc hậu, cậu cũng chỉ là một thanh niên hiền lành.  Ba thì hình ảnh đã màu sắc hiện đại, nền xanh lơ với nụ cười mím chi chừng mực.  Cô chợt thót bụng nhớ ra, mãi đến bây giờ vẫn chưa in hình em trai để lên bàn thờ.  Nhà cô ngày một rộng mà bàn thờ ngày một chật, cô thẫn thờ lau dọn lòng vương vấn những năm tháng êm đềm xưa của tuổi ngây thơ.  Khói nhang muôn đời vẫn một mùi êm ấm nhẹ nhàng, mà lòng người chuyển nhanh như mây.

Bây giờ cô quay sang cắm hoa vào bình.  Ba muốn cúng lay ơn đỏ ngày Tết, nhưng má và cô thích huệ trắng ngà thơm ngát nhà lúc về đêm.  Không sao cả, hai bình lay ơn đỏ sẽ ngự trên bàn thờ, bình huệ với thật nhiều rong xanh mướt đệm thêm những cành cúc trắng li ti sẽ đứng giữa bàn ăn.  Bó cúc vạn thọ dành cho bàn cúng giao thừa, còn bó mai rừng sẽ đứng gần lò sưởi.  Chỉ hoa không thôi đã tốn bạc trăm, nhưng cô mừng mình vẫn được sống như một người Việt dù đã muôn trùng xa cách.

Cô sắp hoa trái bánh mứt lên bàn thờ rồi vào bếp sửa soạn mâm cơm cúng bữa chiều.  Tỉa hoa củ cà rốt để sắt mỏng, cắt xéo từng miếng xu hào, tước xơ các trái đậu tuyết, cô xào các thứ đã cắt với lòng gà và bóng, đã sẵn từng miếng trắng nõn đang ngâm nước nóng.  Cô lấy miến và măng đã ngâm sẵn từ tối qua để nấu bát canh với gà luộc ban sáng.  Bày thêm đĩa thịt quay, mâm cỗ của cô kể như hoàn tất.  Cô xoa tay hài lòng nhưng tưởng như ba trên bàn thờ đang bĩu môi: quí gì cái thứ đi mua về!!!  Không sao, ba, quí ở tấm lòng mà _ cái câu này cô vẫn dùng thường xuyên nói không vấp váp không ngượng miệng!

Đã 4 giờ chiều, cô xếp dọn các thức ăn lên bàn thờ.  Cái bàn thờ bé tí, xếp đủ thứ món lên là cả một kỳ công, cô loay hoay gần nửa tiếng mới xong.  Đốt hai ngọn nến, thắp ba nén nhang, cô thầm khấn nguyện mà thực sự chả có lời khấn nguyện nào ra hồn, bởi mấy mươi năm sống nơi này cô đã quên bài bản khấn khứa!  Cô vái như gà mổ thóc.  Ra bàn ăn ngồi chờ nhang tàn, cô hóng tai nghe động tịnh nhà bên mà sao thấy im ắng, có “nhậu” không đây hay lại “xù” nhau rồi?

Ngồi không thấy ngày như đứng lại, chán quá chả biết làm gì cứ chốc chốc cô ra sát cửa patio mong nghe được một điều gì mà mặt trận hàng xóm vẫn yên tĩnh.  Quái, lão khọm đi đâu chăng?  May, nhang đã tàn, cô vờ cái lệ 2 tuần nhang của ba khi xưa, leo lên ghế đẩu con thổi tắt nến.  Thức ăn cứ để đó, giờ cô phải vào nhà dưỡng lão với má vì đã đến giờ cơm chiều của bà.

Tưởng chỉ có phố Bolsa nghẹt người vì chợ Tết, nhưng xa lộ còn kẹt hơn nữa với những hàng xe nối đuôi chờ vào ra ở hai ngõ Brookhurst và Magnolia.  Cô sốt ruột quay đầu xe đi luồn vào những con lộ nhỏ.  Đường dài hơn nhưng ít kẹt xe, thời gian chậm trễ không bao nhiêu.  Cô vào đến nơi nhân viên đã cho bà ăn được nửa bữa, vừa thấy cô mụ điều dưỡng viên đứng phắt dậy cười toe nhường chỗ.  Bà cụ nắm chặt lấy tay cô: “trời ơi, thấy con Mẹ mừng quá, sao mãi lâu con chẳng vào thăm mẹ…”  Người chung quanh cười ồ.  Cái bịnh nhớ quên lẫn lộn chốn này chỉ là chuyện vui, không ai còn ái ngại.  Cô rủ rỉ, hôm nay 30 Tết, ngày mai sẽ có tiệc đầu năm, má mặc áo dài nha.  Ui giời, cái đó là dĩ nhiên rồi.  Con lấy cho mẹ bộ áo dài nhung đỏ có thêu cúc trắng và đôi giầy màu kem nhá.  Bố mày đâu, hay lại qua nhà con vợ bé.  Lại cười ầm.  Mất ký ức nhiều khi là điều may mắn, má đâu còn biết đau lòng.  Cô đút cơm liền tay sợ dần dà bà chán không chịu ăn.  Rồi lại hát, lại múa men, lại dóc lác, lại bế vào giường thay tã đắp chăn…  Ngày tháng của các cụ không có bốn mùa chẳng nắng chẳng mưa.  Cô ra về, cũng chẳng còn thấy vui buồn.

Nhà bên đèn sáng rực ồn ào.  Các đại ca đã đến!!

Cô rút vào nhà thay quần áo, thu dọn các thức cúng xuống bàn ăn rồi tự làm cho mình một đĩa.  Bên kia lão khọm đang thao thao cái món đặc biệt của lão.

-Này nhớ, tớ đâu có cho bà nhà tớ mua giò heo cắt khúc sẵn.  Phải để nguyên cái mà nướng hơi khét rồi mới cạo sạch cho vàng đều thì da sẽ thơm mà khói không ám vào thịt vào xương.  Ai chặt à, thì còn ai vào đây, bà nhà tớ có con dao phay to lắm kia.  Phải ra ga ra chặt mới khỏi lo dây ra bếp.  Mà, cái công đoạn băm riềng mới là vất vả, vì riềng nó cứng hơn đá.

-Còn ông chỉ là củ nghệ đập cái bép là xong.  Tiếng Bắc, giọng lừng khừng cà khịa, chắc lão mắt kiếng.

-Tép tỏi không?  Giọng Trấn Văn Vương.

-Không, tỏi thơm tho gia vị chứ nghệ thì nhẽo nhoét nhạt phèo.  Chỉ được cái vàng ệch thuốc Bắc.

Cô chồm người dí sát mặt vào cửa patio nhìn xuyên kính cửa sổ nhà bên để đọ tiếng với người.  Lão mắt kiếng là đây.  Ông này bộ dạng nghiêm chỉnh ngay ngắn vuông vắn, từ cái mắt kiếng đến khuôn mặt và đôi vai, ngồi đâu góc Trấn Văn Vương.  Lão khọm lờ những lời cà khịa, nhẩn nha kể lể tiếp. 

-“Đặc sản” là món mẻ, của nhà gầy chứ không mua đâu nhớ.  Giả cầy mà lại dùng me, dùng ya ua, dùng cà ry thì… tặc tặc… lạc quẻ.

-Cơm thiu nuôi thành mẻ, cũng như vang xấu để lâu thành dấm chứ có gì mà khoe um!  Lão mắt kiếng vẫn nhẩn nha châm chọc. 

Bây giờ lão khọm đứng lên giúp phu nhân dọn thức ăn ra bàn nên tạm ngưng đấu khẩu.  Góc trong Trấn Văn Vương đang lim dim mắt cười ruồi cũng chồm lên phụ một tay chuyển thức ăn đặt vào giữa bàn.  Xong.  Tam nhân đồng hành cùng nhau nâng chén, đầu bên này các phu nhân cũng rủ rỉ chén đũa mời nhau.  Lão khọm gắp một miếng giò heo vàng nâu bóng bẩy vào chén.  Lão lại tiếp tục cái món giả cầy gia truyền ngon hơn cầy thiệt.

-Ướp mắm tôm riềng mẻ độ một giờ rồi mới phi hành tỏi cho thơm mà đảo.  Xăn thịt rồi mới thêm nước và chỗ riềng còn lại vào nồi để lửa liu riu.  Lâu lâu phải nếm lại xem đã vừa mắm muối, khi nào thấy sền sệt là giò heo đã mềm, có thể tắt bếp, nhưng chớ ăn ngay.

-Ủa, không phải ăn nóng mới ngon sao?  Trấn Văn Vương phu nhân buột miệng hỏi, Khọm phu nhân vẫn củ mỉ cù mì nín thinh. 

-Thế, thế các cụ mới bảo có của còn phải biết dùng, món ngon còn phải người sành thưởng thức.

-Chứ lúc nào mới ăn, chả lẽ chờ nguội lạnh?

-Không phải vậy.  Múc ra tô, hành lá một dúm bên trên cho thơm tho đẹp mầu, độ năm phút sau giả cầy nguội bớt thì nước mới sánh mà chan vào bún.

-Lão này vẫn quen ăn độn ông ạ.  Mắt kiếng quyết không tha.  Trấn Văn Vương tà tà gặm giò heo không ý kiến. 

Độ mươi phút ngưng chiến, chỉ nghe chén đũa lanh canh, rồi là ly cạn với ly đầy.  Bên này cô cũng tì tì gặm cánh gà chân gà cùng 3 chung rượu cúng.  Cô nhớ cái cảnh bếp núc ngày Tết khi xưa mà ớn.  Có một con gà làm đủ thứ món, rồi là bóc tôm, thái thịt bò thịt heo cho những món khác sao cho đủ bốn đĩa bốn tô.  Xôi phải nén vào chén trước khi úp ra đĩa cho tròn, chả quế phải cắt con thoi bầy như hoa 6 cánh…  Tất cả những công việc đó đều không đến tay cô vì má bảo cô đoảng.  Cô chỉ có một gióp là rửa dọn, trên đời này chả có gì sướng bằng vung tay làm bếp và có kẻ theo hầu, chả có gì khổ bằng phụ bếp hết cả hơi không chút công lao.  Ớn, nhưng giờ đây cô có muốn làm con sen cũng đâu còn dịp, những tiếng cười vang dưới ánh đèn bên lão khọm như khúc phim dĩ vãng nhắc cô những phút giây ấm cúng thuở nào.  Cô thở dài, ăn nốt bát canh măng miến và dọn luôn đĩa xào vào bụng.  Ba chung rượu làm cô nóng bừng, cô mở cửa patio bước ra cho thoáng.  Nhưng mới đứng chưa nóng chỗ, thì tiếng ồn ào đã dồn ra ngay bên nách, lão khọm đã rủ các đại ca ra sân.   Lão ngâm liền một khi: điếu thuốc lào nâng cao sĩ diện, thơm mồm bổ phổi diệt trùng lao, tay bật lửa tanh tách.  Cô lật đật rút.  Cô biết, bây giờ lão sẽ huơ đao chém gió mà vẽ ra những là tràng giang đại hải bài cùng sách, chữ cũng văn.  Cô biết, qua ngày mai lão sẽ ra lò công trình biên soạn cả năm dài một ngày 10 tiếng thành bộ sách 20 cuốn.  Cô biết, lão sẽ…

-Ủa, khi nãy mình quên dĩa lá mơ!!  Tiếng Khọm phu nhân nhỏ nhẹ vọng ra. 

-Trời cao đất dầy.  Lão khọm kêu một tiếng thảm thiết.

-Thì bây giờ vào ăn, mọi thức đều gặp nhau trong bao tử mà, Trấn Văn Vương cười cợt. 

Lão khọm dường tức tối, lão phun khói mịt mờ mặt cứ đần ra.

-Thì năm sau làm cầy thiệt nhậu bù.  Năm cầy cậy nhầu khỏi lạc quẻ!  Mắt kiếng chúm chím, lão khọm gườm gườm lẩm bẩm,

-Năm sau, năm sau, …

-Ối!!! Về cúng giao thừa. A ha, Mắt Kiếng phu nhân.  Trấn Văn Vương phu nhân cười khanh khách. 

Ba chàng ngự lâm pháo thủ tan hàng không pháo lệnh, hai bên sân bỗng bặt tiếng.  Cô vù xuống bếp sắp hoa quả bát nhang, chỉ còn một giờ là qua ngày mai.

Mang ly nước lạnh ra bàn cúng cô bật cười.  Ngày mai đã là năm sau, KHỌ..ỌM.

 

Lưu Na

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.