Hôm nay,  

Đa Thê Ngay Ở Mỹ

29/11/201700:00:00(Xem: 9815)
TT Thành, WA

 
Trước đây khi nghe ai nói có chuyện đa thê ở Mỹ này tôi liền cươì lớn và nói là, thôi đi ông, thôi xạo vừa vừa chứ!  Mới hôm qua đây tôi mới thấy là mình đúng là “ ếch ngồi đáy giếng … Mỹ”!

Số là mỗi ngày tôi thường vào thư viện để lên internet để xem tin tức, đọc và trả lời emails.  Lần nào tôi cũng đi đến góc thư viện nơi những người hảo tâm đến bỏ những sách báo cũ mình đã đọc rồi để người khác tìm đọc.  Hôm đó tôi thấy có một chồng nguyệt san rất uy tín của Hội Điạ lý Quốc gia, National Geographic Society, tôi liền xem qua coi có số nào có đề tài mình thích đọc không.  Mắt tôi sáng lên khi tìm thấy số tháng Hai năm 2010, có bài viết với tựa đề là “Polygamy in America” (xin tạm dịch là “Đa thê ở Mỹ”) do ký giả Scott Anderson và nữ nhiếp ảnh gia Stephanie Sinclair bỏ ra cả năm trời sống trong cộng đồng của giáo phái này cung cấp chính xác với những hình ảnh và dữ liệu.  Nhìn hình bìa của một trưởng lão giáo phái tám mươi tám tuổi tên Joe Jessop chụp với năm bà vợ và 46 đứa con và 239 [hai trăm ba mươi chín] cháu chắt, tôi đem về đọc ngay.

Trước tiên xin phép được nói sơ qua về giáo phái cho phép đa thê này.  Trong khoản những năm 1840 thì giáo chủ sáng lập ra “đạo Mormon” ( Latter-Day Saints  hay LDS) [người Việt ta có người gọi là “”đạo Mặc môn”) tên là Joseph Smith  ở tiểu bang Utah với chủ trương đa thê để theo lời dạy của Bề  Trên là  cưới nhiều vợ  để  “nhân nhân số, làm sinh sôi con người trên trái đất.”  Sau đó ông Smith bị những người chống đối giết chết.  Người giáo chủ kế tiếp là ông Brigham Young có 5 người vợ và 57 đứa con.  Vì bị luật pháp cấm đoán và có biện pháp mạnh nên đạo Mormon từ bỏ chế độ đa thê.  Tuy nhiên có một nhóm tín đồ ly khai và thành lập chi phái gọi tên là Fundamentalists Latter –Day Saints hay FLDS ( xin tạm dịch là Những Người nồng cốt của các Vị Thánh Ngày sau) và vẫn giữ chế độ đa thê.

Vai trò của đàn ông trong cộng đồng của giáo phái này rất khiêm nhường kém hẵn so với các bà.  Trong một gia đình có ba bà thì bà thứ nhứt lo việc nấu ăn, bà nhì lo dạy học cho con cái (trẻ con thường được dạy học tại nhà không đến trường), bà thứ ba thì lo việc may vá.  Phụ nữ ăn mặc rất giản dị và theo cung cách cổ kính, váy dài tới gót, không kiểu cọ, tóc thì phía mái trước chảy bồng ngược lên phía trên theo kiểu thời xưa.  Trẻ con cũng ra đồng trồng trọt, không cho xem tv, không ăn qùa vặt và không bị ảnh hưởng bởi những xu hướng của xã hội bên ngoài.  Họ có tinh thần tương trợ rất cao.  Đám tang của một người sẽ được cả ngàn người đến dự dù đó là đám của một trẻ em.  Đám tang của người vợ đầu của giáo chủ Merril Jessop có đến năm ngàn tín hữu đến dự tại Colorado City.  Họ cùng giúp nhau xây dựng một căn nhà mới từ nền đến nóc chỉ trong một ngày.  Có người chỉ trích lối sống này là “lạc hậu”, là thụt lùi và bị áp lực chi phối của những người cầm đầu.  Nhà cầm quyền đã từng bố ráp trang trại tên là FYX Ranch của giáo phái này và giải tán  cộng đồng ở đó. Giáo chủ kế tiếp là ông Merille Jessop đã từng tuyên bố là: “Tuân theo luật đa thê để xây dựng Vương Quốc của Thượng Đế.”  Ở cộng đồng Hilldale Colorado, các tín đồ sinh sống bằng việc tự trồng các loại cây ăn trái, có người sống bằng nghề điều hành khách sạn hay làm việc trong các nhà máy chế tạo.


Trong cộng đồng kép kín này và theo chế độ đa thê này người đàn bà chấp nhận vai trò của mình vì theo họ thì  “đây là thử thách của Bề Trên” để họ vượt qua sự ganh ghét và lòng kiêu hãnh đối với các bà vợ khác của chồng mình.  Tuy nhiên không phải là không có sự xung đột ngấm ngầm trong nội tâm của họ.  Dù vậy rất hiếm có người ly khai khỏi cộng đồng này để ra ngoài xã hội.  Lý do là họ đã quen cách sống và sinh hoạt vốn được tổ chức chặt chẽ của cộng đồng giáo phái.  Người “bỏ đạo” khi ra ngoài xã hội sẽ bị đặt vào vị thế như bị lạc vào một hành tinh khác vì không quen với những  lề lối và qui luật của xã hội bên ngoài.  Họ sẽ không biết cách nào để tìm việc vì thiếu khả năng chuyên môn.  Có người, theo tác giả bài khào cứu, còn chưa biết cách cân bằng tạp chi phiếu ngân hàng là như thế nào!

 Ông bà  ta thường nói là: “Một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ thì ra chuồng heo mà nằm!”  Câu này nếu đem ra áp dụng cho các “sư phụ có râu dê” của giáo phái đa thê này này thì coi như là sai bét!  Tôi tự nhủ là dù cho mình nay sức yếu , tuổi già, tài chánh eo hẹp nhưng thế nào cũng rán một ngày nào đó đế viếng thăm cộng đồng đa thê này.  Tôi sẽ tìm cách gặp các “sư phụ” để học bí quyết làm sao có được nhiều vợ vì có lẽ các ông này đã tìm được phương thuốc hay hơn toa thuốc của vua Minh Mạng ta!  Dù có thế nào đi nữa thì khi nằm liệt giường sẽ có được mấy bà xúm nhau khóc và mầy chục đứa con, hàng lới cháu chắt quỳ mọp kế bên.  Nghỉ ra cho cùng thì có thể nói là giáo phái này đã thực hành đúng như lơì các cụ đã từng xác định là “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng”.  Ở khía cạnh này ta thấy tư tưởng Mỹ và Việt đã tay bắt mặt mừng, tâm đầu ý hợp  gặp nhau, có phải vậy không các bạn.  Hồi tối đêm qua mình còn nằm chiêm bao là đã “lên lớp” bà xã là : “ Em thấy không? Mỹ mà họ còn cho có nhiều vợ nữa đó!”  Bả liền nhéo bắt đùi non của mình một cái đau thấu trơì và nói: “Đừng có già mà ham!  Có mình tôi mà ông lo chưa xong bổn phận …bộ muốn lên chầu Trời  sớm phải hông!?”

Nếu bạn nào cùng tuổi và có cùng… chí hướng như mình thì xin liên lạc ngay với mình  đề chúng ta cùng “hành hương” đến miền cực lạc của các “sư phụ” kẻo trể!  Bởi vì:

Trăm năm nào có là bao

Chỉ có một vợ uổng đời nam nhi. /.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.