Hôm nay,  

Kế Hoạch Rút Quân Khỏi Việt Nam Của Kennedy Là Một Sự Kiện Chứ Không Phải Một Suy Đoán

05/06/201611:11:00(Xem: 10116)

KẾ HOẠCH RÚT QUÂN KHỎI VIỆT NAM CỦA KENNEDY

LÀ MỘT SỰ KIỆN CHỨ KHÔNG PHẢI MỘT SUY ĐOÁN

JFK’s Vietnam Withdrawal Plan Is a Fact, Not Speculation

 

James K. Galbraith

 

blank

 

LỜI GIỚI THIỆU - Có một số người cho rằng Mỹ đã lật đổ ông Diệm vì ông Diệm không “chấp thuận” cho quân Mỹ vào Việt Nam. Và như một hệ luận, họ cũng cho rằng sau chính biến 1-11-1963, sự kiện quân đội Mỹ ào ạt đến Việt Nam tuy đã mở rộng chiến tranh nhưng cuối cùng Việt Nam Cọng Hòa vẫn  sụp đổ vào tháng 4 năm 1975, đã chứng minh rằng chọn lựa “không cho quân Mỹ vào” của ông Diệm là đúng,  mà phải như thế mới có thể thắng được quân đội của Cọng sản Bắc Việt, để  bây giờ không phải “tị nạn”tại Mỹ! “Còn Cụ thì không mất nước”, họ cố thuyết phục nhau như thế!

 

Điều này là không đúng. Sự thật là Mỹ không muốn đưa thêm quân vào VN, nơi họ đã có 17.000 “cố vấn”. Ngược lại là khác, từ đầu tháng 10-1963, sau thất bại chính trị-quân sự thê thảm tại Vịnh Con Heo (Cuba, 1961) và trước bầu cử Tổng thống Mỹ  (1964), ứng viên Tổng thống tương lai John F. Kennedy đã không muốn lao vào một cuộc phiêu lưu chính trị-quân sự viễn chinh nào nữa, nên đã chấp thuận một kế hoạch rút quân ra khỏi Việt Nam, mà đợt đầu là 1,000 “cố vấn” vào ngay cuối năm 1963 đó.

 

Thật vậy, trong các tài liệu của chính phủ Mỹ được giải mật, có một Biên bản buổi  họp (minutes of the meeting [1]) và một cuộn băng ghi âm (tape [2]) chi tiết nội dung buổi họp nầy tại Phòng Bầu dục tòa Bạch Ốc vào ngày 5 tháng 10 năm 1963. Cả hai chứng liệu nầy đã chứng minh là vào ngày đó, TT Kennedy đã chấp thuận kế hoạch rút quân khỏi Việt Nam, mà cụ thể là bắt đầu rút 1,000 “cố vấn” vào tháng 12 cùng năm, với lý do vì không còn cần thiết nữa (“… they are no longer needed.”). Như vậy, kế hoạch rút quân đã được Tổng thống Mỹ chuẫn thuận gần một tháng trước khi có cuộc chính biến lật đổ ông Diệm xảy ra. Tiếc rằng kế hoạch đó chưa được triển khai thì TT. Kennedy đã bị ám sát.

Mỹ đã rút quân ra thì ông Diệm có lý do gì mà “chống Mỹ đổ quân vào đến nỗi bị Mỹ lật đổ”? Do đó, nếu ông bà Nhu có chống Mỹ thì cũng chỉ là chống ngoài miệng thôi, để che dấu và phục vụ cho một ý đồ khác vốn đã bắt đầu, ít nhất, từ đầu năm1963, trước cả biến cố cấm treo Phật kỳ vào dịp Phật Đản tại Huế!

 

Ngoài ra, trong quá trình truy tầm nguyên nhân dẫn đến chính biến 1963, luận điểm của những người cho rằng “ông Diệm chống Mỹ nên bị Mỹ lật đổ” đã cố tình bỏ qua những yếu tố nội bộ của Việt Nam (như sự chống đối càng lúc càng quyết liệt và lan rộng của đảng phái, của quân đội, của Phật giáo, như tình hình an ninh suy thoái, như ý đồ thỏa hiệp với Hà Nội, …) mà chỉ xoáy mạnh vào mỗi cái gọi là “yếu tố Mỹ” mà thôi vốn nó đã là một luận điểm phi logic, sai  lịch sử và không lương thiện rồi. Nay thì chính “yếu tố Mỹ” què quặt độc nhất đó cũng chỉ là một ngụy tạo không hơn không kém thì luận điểm đó còn có giá trị gì nữa!

 

Tuy nhiên, nếu phải đưa ra một giả thuyết để lý giải thái độ chống Mỹ khó hiểu của anh em ông Diệm lúc đó thì phải là hành động nầy được phát động để phối hợp với (và tiếp sức cho) một kế hoạch thỏa hiệp với Hà Nội đang được xúc tiến. Thật vậy, sau Tết Nguyên đán năm1963 với cành đào của ông Hồ Chí Minh gửi tặng ông Diệm, ông Nhu gặp Phạm Hùng và/hoặc Trần Độ; giữa tháng 5, ông Nhu tuyên bố với UPI muốn Mỹ rút một số cố vấn; rồi những vận động của Đại sứ Pháp Lalouette, Đại sứ Ấn Độ Goburdhun và Khâm mạng Tòa Thánh Salvatore d’Asta để 3 tháng sau, ngày 25-8-1963, ông Nhu gặp Đại diện Ba Lan Mieczyslaw Maneli, người đóng vai trò trung gian giữa Hà Nội và Sài Gòn, mở đầu cho một ý đồ thỏa hiệp dang dỡ vì bị chính biến 1-11-1963 đập tan.

Dùng Mỹ tháu cáy Hà Nội, lại dùng Hà Nội để dọa Mỹ, ván bài “xì tố” xảo trá của anh em ông Diệm, đơn phương bí mật chơi tay ba với “đồng minh” và “kẻ thù”, bất chấp Hiến Pháp VNCH, bất chấp 700 nghìn tín đồ Công giáo di cư vào Nam, và bất chấp lập trường chống Cọng của quân dân miền Nam, cuối cùng đã quật ngược lại gia đình họ Ngô.

Giả thuyết nầy logic hơn, bám sát thực tế lịch sử hơn, và lương thiện hơn cái luận điệu ông Diệm “chống Mỹ đổ quân” rất nhiều.

-- o0o --

 

Năm 2003, sau khi thu thập và đối chiếu tất cả các tài liệu đã được giải mật, nhất là phát hiện ra nội dung của buổi họp tại Phòng Bầu dục ngày 5-8-1963, Giáo sư James Galbraith đã viết một tiểu luận hơn 8,000 từ chứng minh rằng trong năm 1963, TT Kennedy đã có kế hoạch rút quân khỏi Việt Nam. Tựa đề bài tiểu luận là “Exit Strategy: In 1963, JFK ordered a complete withdrawal from Vietnam(Chiến lược Rút ra: Năm 1963, JFK đã ra lệnh rút hết toàn bộ khỏi Việt Nam), đăng trên tạp chí Boston Review, số tháng October/November, năm 2003.

 

Tiểu luận nầy được nhiều học giả phản hồi, đồng ý cũng nhiều nhưng có một số không đồng ý. Sau mười năm, tưởng vấn đề đã được giải tỏa, nhưng vào ngày 21-11-2013, The Nation lại đăng một bài của nhà báo Rick Perlstein, tựa đề là “Kennedy Week: JFK’s Uncertain Path in Vietnam” và đặt câu hỏi: “Did Kennedy intend to bring an end to the Vietnam War after his re-election?”(Ông Kennedy có định chấm dứt chiến tranh Việt Nam sau khi được tái đắc cử không?) để phản biện lập luận và chứng cớ của Giáo sư Galbraith.

Ngay ngày hôm sau, Giáo sư Galbraith trả lời bằng bài viết dưới đây.

 

[Kevin Trần dịch từ JFK’s Vietnam Withdrawal Plan Is a Fact, Not Speculation - A response to Rick Perlstein, The Nation, November 22, 2013:

http://www.thenation.com/article/jfks-vietnam-withdrawal-plan-fact-not-speculation/  ]

 

KẾ HOẠCH RÚT QUÂN KHỎI VIỆT NAM CỦA KENNEDY

LÀ MỘT SỰ KIỆN CHỨ KHÔNG PHẢI MỘT SUY ĐOÁN

Trả Lời Rick Perlstein

 

blank

 

Mười năm sau những bài viết của tôi về quyết định của JFK vào tháng Mười năm 1963 để rút quân lực Mỹ ra khỏi Việt Nam, Rick Perlstein đã ráng đưa ra một phản biện. Kỷ thuật của ông ta là thừa nhận luận điểm, nhưng rồi trình bày sai bối cảnh, phủ nhận tầm quan trọng và vấy bùn lên đống lộn xộn đó bằng những câu văn đầy khinh miệt.

 

Tiểu luận của tôi trên Boston Review [“Exit Strategy…] và Salon xác lập rằng đã có kế hoạch rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam vào cuối năm 1965. Và rằng Tổng thống Kennedy đã quyết định thực hiện kế hoạch đó. Vào năm 2003, sự xác lập nầy đã gây nhiều tranh cải. Nhiểu sử gia phủ nhận nó. Ngoại trừ Peter Dale Scott, John Newman, và Arthur Schlesinger. Ba vị nầy đã đúng, và những tài liệu và băng ghi âm được giải mật nhờ đạo luật JFK Records Act cũng chứng tỏ rằng họ đã đúng.  Vấn đề đã được giải quyết vào đầu năm 2008 khi Francis Bator, vốn là Phó Cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng thống Johnson, mở đầu thư trả lời lá thư của tôi đăng trên New York Review of Books với những dòng chữ như sau:   

 

Giáo sư Galbraith đã viết đúng [xem mục Letters, New York Review, ngày 6-12-2007] rằng “đã có một kế hoạch rút quân Mỹ khỏi Việt Nam, bắt đầu với một nghìn quân vào tháng Mười Hai 1963, và rút hầu như tất cả quân còn lại vào cuối năm 1965 …Tổng thống Kennedy đã chấp thuận kế hoạch nầy. Đó đã là chính sách chính thức của nước Mỹ cho đến ngày Kennedy chết”.

 

Batow còn viết thêm  một điều kiện, mà chính Perlstein lập lại:

 

Nhưng … kế hoạch đó phải tùy thuộc một cách rõ ràng bởi “sự thẩm định của Bộ trưởng McNamara và Tướng Taylor rằng phần lớn nhiệm vụ của quân đội Mỹ có thể hoàn tất vào cuối năm 1965” và “rằng chương trình dài hạn để thay thế nhân sự Mỹ bằng nhân sự Việt Nam được huấn luyện thành thục [có thể tiến hành] mà không làm suy yếu nỗ lực chiến tranh”.     

 

Chúng tôi không đồng ý với nhau về điểm nầy, nhất là ý nghĩa của đoạn “phần lớn nhiệm vụ của quân đội Mỹ”. Trong băng ghi âm ở Toà Bạch ốc ba ngày trước đó, ngày 2 tháng 10, Robert McNamara và Tướng Taylor khác nhau về chuyện liệu có toàn thắng vào năm 1965 hay không. Thay vì vậy, McNamara nói rằng “Nhưng tôi chắc rằng nếu chúng ta không hoàn tất đúng vào những ngày đó trong cái nghĩa chấm dứt những chiến dịch quân sự lớn, thì chúng ta dù sao vẫn có thể rút đi phần lớn lực lượng Mỹ theo đúng thời biểu mà chúng ta đã thiết kế, đã thi hành, vì chúng ta có thể huấn luyện cho người Việt tự làm lấy”. Bản ghi nhớ của Tướng Taylor gửi cho  Ủy ban Liên Quân ngày 4 tháng 10 năm 1963 để chuyển đạt quyết định thì không chứa đựng kế hoạch nào để đối phó với tình hình bất ngờ. Sẽ phải rút quân. “Mọi quy hoach” đều phải căn cứ trên quyết định nầy.

 

Huấn luyện sẽ xong. Yểm trợ cho Nam Việt Nam sẽ tiếp tục. Họ có một đội quân trên 200.000 người. Ngày tàn của cuộc chiến còn xa. Sau năm 1965, ngay cả theo kế hoạch rút quân, 1.500 lính Mỹ sẽ được cử ở lại để lo về tiếp liệu. Nhưng lúc đó thì cuộc chiến là của người Việt mà thôi, và không có khả năng trở thành một cuộc chiến của Mỹ trong nhiệm kỳ Kennedy.

 

Liệu Kennedy có tin rằng ta sẽ chiến thắng hay không? Perlstein kết tội tôi đã không chú ý đến câu hỏi nầy; thật ra thì tôi đã dành gần hai nghìn từ của tiểu luận trên Boston Review cho câu hỏi nầy. Sau đây là tổng kết của McNamara về buổi họp ngày 2 tháng 10 năm 1963, lời bình luận của tôi, và trình bày của McNamara về kết luận cuả buổi họp:

 

Một phe thì tin rằng quân đội có tiến bộ tốt và huấn luyện cũng tiến triễn đến độ chúng ta có thể bắt đầu rút quân. Phe thứ nhì không thấy chiến tranh có tiến triễn tốt lắm và không thấy quân đội Nam Việt Nam chứng tỏ đã được huấn luyện thành công. Nhưng phe nầy cũng đồng ý rằng chúng ta nên bắt đầu rút quân … Phe thứ ba đại diện cho đa số, cho rằng quân đội Nam Việt Nam thì có thể huấn luyện được nhưng tin rằng kế hoạch huấn luyện của chúng ta chưa được triển khai đủ lâu để đạt kết quả tốt và, do đó, chúng ta nên tiếp tục như ở mức độ hiện tại.

Như trong lịch sử bằng lời năm 1986 của McNamara, được lưu trữ tại thư viện Lyndon Baines Johnson, đã nói rõ (nhưng sách của ông ta thì không viết ra), McNamara thuộc phe thứ nhì, ủng hộ sự rút quân mà không chiến thắng – không cần thiết phải thừa nhận hay thậm chí tiên đoán thất bại, nhưng chấp nhận chuyện không chắc chắn điều gì sẽ xãy ra. Kết luận đến rất nhanh sau đó: Sau nhiều tranh luận, Tổng thống tán thành khuyến nghị rút 1.000 lính trể nhất là 31-12-1963 của chúng tôi. Tôi nhớ lại rằng Tổng thống quyết định như thế mà không cho biết lý do vì sao. Dù sao, vì có nhiều sự phản đối gay gắt và vì tôi ngờ rằng người khác có thể cố gắng làm cho Tổng thống đảo ngược quyết định, nên tôi đã thúc giục Tổng thống tuyên bố quyết định nầy một cách công khai. Điều nầy sẽ làm cho quyết định trở nên không thay đổi được … Cuối cùng, Tổng thống đồng ý, và lời tuyên bố đã được Pierre Salinger thông báo sau buổi họp. 

 

Vào ngày Kennedy qua đời, tiến trình của chính sách đã được sắp đặt. Đây không phải là suy đoán về một tâm trạng. Đây là một tuyên bố thực tế về một quyết định.

Nếu Kennedy còn sống, kế hoạch rút quân vẫn được duy trì theo chính sách, và số quân Mỹ ở Việt Nam sẽ giảm thiểu, ngoại trừ và cho đến lúc chính sách đó thay đổi. Liệu trong tiến trình đó có lúc nào Kennedy “đảo ngược lại quyết định” không? Dĩ nhiên là có thể có. Nhưng chúng ta không có chứng cớ nào cho thấy Kennedy định làm như thế cả.

 

Thiếu bằng chứng, Perlstein trôi vật vờ trong mớ bình luận ấu trĩ về phong cách “nam tính mạnh mẽ “ (“machismo”) của JFK và hình ảnh của một “tuổi trẻ cường tráng”. Chống lại phong cách và hình ảnh đó, Perlstein gợi lên những cụm từ không biểu lộ được gì cả ngoài chính tâm chất của ông ta: “kế hoạch điên rồ”, “… vừa chạy vừa run”, “… sợ són đái ra quần”. Và Perlstein giả bộ cho rằng vấn đề có thể gói trong hai từ, là liệu Tổng thống Kennedy có phải là một “closet peacenik” [“tên chủ hòa dấu mặt”] không.  

Bạn hãy đoán xem ý nghĩa của biệt danh giả-Nga “peacenik” đó. Hay ý nghĩa của từ “closet”.         

[Rồi] Một cách chính xác – theo ý bạn - những từ nầy làm cho bạn nghĩ đến điều gì ?

 

James Kenneth Galbraith (sinh ngày 29-1-1952) hiện là Giáo sư tại trường Lyndon B. Johnson School of Public Affairs và tại Phân khoa Department of Government, của đại học  University of Texas at Austin. Ông cũng là Học giả cao cấp (Senior Scholar) tại Viện Levy Economics Institute của Bard College và là thành viên của Ủy ban Điều hành của Hiệp hội World Economics Association (Theo Wikipedia).

 

■ CƯỚC CHÚ của Lời Giới Thiệu:

 

[1] Vào ngày 5 tháng 10, Kennedy lấy quyết định chính thức, Newman trích lại từ biên bản buổi họp ngày hôm đó:

Tổng thống cũng nói rằng quyết định của chúng ta rút 1.000 cố vấn Mỹ vào tháng Mười Hai năm nay không cần phải chính thức nêu lên với Diệm. Thay vào đó, động thái nầy cần dược tiến hành một cách bình thường như là một phần của tư thế chung của chúng ta là rút bớt người khi họ  không còn cần thiết nữa. - Nhấn mạnh của tác giả

[On October 5, Kennedy made his formal decision. Newman quotes the minutes of the meeting that day:

The President also said that our decision to remove 1,000 U.S. advisors by December of this year should not be raised formally with Diem. Instead the action should be carried out routinely as part of our general posture of withdrawing people when they are no longer needed. (Emphasis added.)]

 

[2]  Tuy nhiên, trên cuộn băng ghi âm lại buổi họp ngày 5-10-1963, người ta có thể nghe một giọng nói – có thể là của McNamara hay McGeorge Bundy - hỏi xin Tồng thống John F. Kennedy “chính thức chấp thuận” các “đề mục Một, Hai và Ba” đọc từ một tờ giấy dĩ nhiên trước mặt họ. Rõ ràng rằng một trong những đề mục nầy là khuyến cáo rút 1.000 lính vào cuối năm 1963, với lý do là không còn cần đến họ nữa. Không nhầm lẫn vào đâu được, cuộc trao đổi ngắn nầy là một lời yêu cầu xin một quyết định chính thức của Tổng thống về những khuyến cáo của McNamara và Taylor. Sau một lúc thảo luận ngắn về tác động chính trị tại Việt Nam của quyết định nầy, ta có thể nghe rõ ràng giọng nói của J.F.K. “Hãy tiến hành và làm đi” và theo sau là một vài tiếng mà sử gia George Eliades giải đoán là “nhưng đừng tuyên bố công khai về chuyện nầy

[“However, on the tape of the meeting of October 5, 1963, one can clearly hear a voice — it may be Robert McNamara or McGeorge Bundy—asking President John F. Kennedy for “formal approval” of “items one, two, and three” on a paper evidently in front of them. It is clear that one of these items is the recommendation to withdraw 1,000 men by the end of 1963, the rationale being that they are no longer needed. This short exchange is thus unmistakably a request for a formal presidential decision concerning the McNamara-Taylor recommendations. After a short discussion of the possible political effect in Vietnam of announcing this decision, the voice of JFK can be clearly heard: “Let’s go on ahead and do it,” followed by a few words deciphered by historian George Eliades as “without making a public statement about it.”]

 

[1][2]  Trích từ: James Galbraith, Exit Strategy: In 1963, JFK ordered a complete withdrawal from Vietnam,  Boston Review, October/November 2003:

http://www.bostonreview.net/us/galbraith-exit-strategy-vietnam

 

 

 .

 

 

JFK’s Vietnam Withdrawal Plan Is a Fact, Not Speculation

 

A response to Rick Perlstein.

By James K. Galbraith

 

NOVEMBER 22, 2013

 

blank

 

Ten years after my articles on JFK's October 1963 decision to withdraw US forces from Vietnam, Rick Perlstein attempts a rebuttal. His technique is to concede the point, but then to misstate the context, deny the importance and spatter the mess with scornful phrases.

 

My essays in Boston Review and Salon established that the plan to withdraw US forces from Vietnam by the end of 1965 existed. And that President Kennedy had decided to implement that plan. In 2003, this was controversial. Many historians had denied it. Peter Dale Scott, John Newman, and Arthur Schlesinger were exceptions. They were right, and documents and tapes released under the JFK Records Act proved them right. The issue was resolved by early 2008 when Francis Bator, who had been President Johnson's Deputy National Security Adviser, opened his reply to my letter in the New York Review of Books with these words:

Professor Galbraith is correct [Letters, NYR, December 6, 2007] that “there was a plan to withdraw US forces from Vietnam, beginning with the first thousand by December 1963, and almost all of the rest by the end of 1965…. President Kennedy had approved that plan. It was the actual policy of the United States on the day Kennedy died.

 

Bator followed with a qualification, which Perlstein repeats:

But… that plan was explicitly conditioned on Secretary McNamara’s and General Taylor’s 'judgment that the major part of the US military task can be completed by the end of 1965…,' that 'the long term program to replace US personnel with trained Vietnamese [could go forward]without impairment of the war effort[emphasis added].

We disagree on this point, specifically on what the phrase “the major part of the US military task” meant. On the White House tapes of October 2, Robert McNamara differs with General Taylor on whether the war can be won by 1965. Instead he says: “But I am sure that if we don’t meet those dates in the sense of ending the major military campaigns, we nonetheless can withdraw the bulk of our US forces according to the schedule we’ve laid out, worked out, because we can train the Vietnamese to do the job.” [emphasis added]. Taylor's memorandum to the Joint Chiefs on October 4, 1963, which conveys the decision, contains no contingency. The troops were to be withdrawn. “All planning” would be based on that decision.

 

Training would end. Support for South Vietnam would continue. They had an army of over 200,000. The end of the war was not in sight. After the end of 1965, even under the withdrawal plan, 1,500 US troops were slated to remain, for supply purposes. But the war would then be Vietnamese only, with no possibility of it becoming an American war on Kennedy's watch.

Did Kennedy believe the war was being won? Perlstein accuses me of neglecting this question; in fact I devoted almost two thousand words of my Boston Review essay to it. Here is Robert McNamara's summary of the October 2, 1963 meeting, my comment, and his description of the outcome:

One faction believed military progress had been good and training had progressed to the point where we could begin to withdraw. A second faction did not see the war as progressing well and did not see the South Vietnamese showing evidence of successful training. But they, too, agreed that we should begin to withdraw. . . . The third faction, representing the majority, considered the South Vietnamese trainable but believed our training had not been in place long enough to achieve results and, therefore, should continue at current levels.

As McNamara’s 1986 oral history, on deposit at the Lyndon Baines Johnson Library, makes clear (but his book does not), he was himself in the second group, who favored withdrawal without victory—not necessarily admitting or even predicting defeat, but accepting uncertainty as to what would follow. The denouement came shortly thereafter:

After much debate, the president endorsed our recommendation to withdraw 1,000 men by December 31, 1963. He did so, I recall, without indicating his reasoning. In any event, because objections had been so intense and because I suspected others might try to get him to reverse the decision, I urged him to announce it publicly. That would set it in concrete. . . . The president finally agreed, and the announcement was released by Pierre Salinger after the meeting.'

On the day Kennedy died, the course of policy had been set. This is not speculation about a state of mind. It is a statement of fact about a decision.

Had Kennedy lived, the withdrawal plan would have remained policy, and the numbers of US troops in Vietnam would have declined, unless and until policy changed. Might Kennedy still have “reversed the decision” at some point? Of course he might have. But there is no evidence that he intended to do so.

 

Lacking evidence, Perlstein drifts off into puerile commentary on JFK's “machismo” and image of “youthful vigor.” Against these, he conjures phrases that reveal nothing except his own state of mind: “Bugout plans.” “…cutting and running.” “…pants-pissing fears.” And he pretends that the issue turns, in two words, on whether President John F. Kennedy was a “closet peacenik.”

 

Just consider the connotations of that pseudo-Russian epithet. Or those of the word “closet.” What— exactly— do you suppose— was that intended to bring to mind?

 

James K. Galbraith is author of The Predator State: How Conservatives Abandoned the Free Market and Why Liberals Should Too (Free Press, August 5, 2008). He teaches at The University of Texas at Austin.

 

Source: http://www.bostonreview.net/us/galbraith-exit-strategy-vietnam


.
.

Ý kiến bạn đọc
05/06/201623:24:52
Khách
Bây giờ người ta muốn nói gì để che dấu đi cái tội ác đã thảm sát hai anh em ông Diệm và ông Nhu thì người đã chết đã không thể tự biện hộ .

Nhiều tác giả khác đã chỉ ra điều chỉ vì chống lại việc Kennedy muốn gửi lính chiến đấu Mỹ vào Việt nam mà tổng thống Ngô Đình Diệm đã bị Kennedy xúi giục đám tướng tá miền Nam làm đảo chánh . Đơn cử vài nguồn dưới đây:

***Sách "Cuộc Chiến Việt Nam 1945-1975"- Long Điền: Kennedy tuyên bố:“Nếu chúng ta cần phải chiến-đấu ở Đông-Nam-Á vậy thì hãy chiến-đấu ngay ở Việt-Nam. Ít ra ở đó người Việt-Nam còn có quyết-tâm và ý-chí chiến đấu để tiêu diệt cộng-sản. Có đến một triệu người tị-nạn Cộng-sản đang ở tại miền Nam. Việt-Nam chính là nơi mà chúng ta muốn ".

***Trong cuốn sách “Vì sao tôi bắt đầu dạy về cuộc chiến Việt Nam “- Keith W Taylor - giáo sư Đại học Cornell, và là tác giả nhiều bài và sách về Việt Nam, trong đó có quyển "The Birth of Vietnam" - phê bình về những sai lầm của Kennedy như sau:

“Ta có thể kể ra dễ dàng những quyết định sai lầm nổi bật nhất: Quyết định đàm phán vấn đề trung lập hóa Lào của Kennedy năm 1961, nhượng bộ cho địch thủ những khu sào huyệt an toàn dọc theo biên giới, và tuyến truyền thông nội địa để sau đó Mỹ phải nhận lãnh thiệt hại chiến lược trong suốt chiều dài cuộc chiến. Quyết định tăng cường lực lượng quân sự Mỹ ở Việt Nam của Kennedy “.
***06/11/2013 - Trích từ nguồn Christian Science Monitor, tác giả Trường Giang viết rằng người em Robert Kennedy vào năm 1964 từng nói “John F Kennedy chưa bao giờ nghĩ chuyện rút quân ra khỏi VN và đinh ninh quân đội Mỹ cần hiện diện ở nam VN để ngăn chận đà bành trướng của Liên Xô”.

*** Nhà biên khảo Trần Đông Phong -tác giả của nhiều cuốn sách giá trị viết về lịch sử chiến tranh Việt Nam :" Người Mỹ dự định đưa quân bộ chiến vào Việt Nam đã khởi sự từ đầu thập niên 1960 dưới thời Tổng Thống John F. Kennedy, tuy nhiên Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã chống lại việc này ".

*** Bùi Tín, cựu Đại Tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, phó Tổng biên tập báo Nhân Dân : Giờ đây chúng ta đã có những bằng chứng về lập trường của ông Ngô Đình Diệm: "Chống thực dân Pháp, giành lại quyền nội trị đầy đủ, không muốn Hoa kỳ can thiệp sâu, chống lại việc ồ ạt đưa quân chiến đấu Mỹ và nước ngoài vào. Ông đã phải trả giá bằng cả sinh mạng mình cho lập trường dân tộc ấy ".
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.