Hôm nay,  

Trang Sử Việt: Bùi Viện

03/06/201600:01:00(Xem: 5527)
BÙI  VIỆN
 (1839 - 1878)
.
Bùi Viện hiệu Mạnh Dực, quê huyện Trực Định, tỉnh Nam Định (nay huyện Tiền Hải, Thái Bình), đỗ Cử nhân năm 1868. 
    Năm 1871, tại miền Bắc quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc, Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh quấy rối, vua Tự Đức phái Tham tri Bộ lễ Lê Tuấn ra Bắc dẹp loạn. Lê Tuấn không hiểu nhiều về đất Bắc, Quốc tế tửu Võ Duy Thanh tiến cử Bùi Viện giúp sức, nhờ có Bùi Viện, Lê Tuấn dẹp loạn được sớm và từ đó mà Triều đình biết tài của Bùi Viện. Sau đấy, Doanh điền sứ Doãn Tuấn, mời ông hợp tác mở bến Ninh Hải mà ngày nay là hải cảng Hải Phòng nhộn nhịp.
.
Khi vua Tự Đức nghị triều bàn bạc việc phòng thủ và canh tân đất nước. Nhóm tân tiến: Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ, Hoàng Phan Thái, Phạm Tư Giản... tranh luận gay gắt với nhóm quan lại thủ cựu, vua Tự Đức tỉnh ngộ, đề cử Bùi Viện làm trưởng phái đoàn đi Mỹ, nhờ Mỹ giúp đánh Pháp. Thời ấy, việc xuất ngoại rất khó khăn vì di chuyển phải dùng thuyền để vượt biển. Trước khi đi, Bùi Viện từ giã nhà vua và các quan, ông đã cảm tác bài thơ ngũ ngôn bát cú:
.
Nguyên văn                                  Nghĩa là
 .
Quý phụ minh triều sỉ                   Mang tiếng sống trên đời
Phiên tòng hải quốc du                Ngàn trùng vượt biển khơi
Bình sơn hồng nhật cận               Ánh hồng đầu non chiếu
Côi lĩnh bạch vân phù                   Mây trắng non Côi phơi
Thân thế cương thường trọng      Thể diện cương thường giữ
Thê hang bạt thiệp du                  Vượt sóng nỗi đầy vơi
Hoàng linh phong lãng thiếp        Ơn vua đời yên ổn                       
Thu thuỷ nhất hàn chu                 Nước thu mát mẻ bơi
 .
Rời Huế vào tháng 7 năm Quý Dậu (tháng 8-1873), sứ đoàn lênh đênh trên biển khoảng 2 tháng thì tới Hương Cảng (Hongkong) là thuộc địa nước Anh, rồi rời Hương Cảng đến phố Hoành Tân (Yokohama: tỉnh Kanagawa) của Nhật Bản, nghỉ tạm ở đấy một thời gian. Bùi Viện gặp vị lãnh sự Mỹ ở Nhật, ông bày tỏ hiện tình của nước Việt và mục đích ông xuất dương, vị lãnh sự Mỹ cảm thông và mến Bùi Viện, nên đã hướng dẫn về đời sống và xã giao của nước Mỹ. Sứ đoàn tiếp tục đi Cựu Kim Sơn (San Francisco) và đến Mỹ năm 1873. Có người nói Bùi Viện là người Việt đến Mỹ đầu tiên, nhưng người Việt đến Mỹ đầu tiên vào năm 1849 trước Bùi Viện 24 năm (1873-l849) là Trần Trọng Khiêm (xem link: https://vietbao.com/a251775/trang-su-viet-tran-trong-khiem). 
.
Bùi Viện nơi đất lạ quê người, tìm cách để yết kiến Tổng thống Mỹ tại Hoa Thịnh Đốn (Washington DC). Ông đôn đáo tại Mỹ nhiều tháng, mới được Tổng thống Ulysses Simpson Grant (nhiệm kỳ 1868-1876) cho tiếp kiến. Lúc này Pháp và Mỹ đang thù địch bởi chiến tranh ở Mexico, nên Mỹ có ý muốn giúp Việt Nam để chống Pháp, nhưng không có giác thư (quốc thư, thư ngoại giao của chính phủ nước này gởi nước khác), ông phải trở về nước. Năm 1875, ông đến Mỹ lần thứ hai, có giác thư thì Tổng thống Ulysse S. Grant đang lo nội chiến (civil war: 1869-1877) nên không tiếp kiến được.
.
      Trên đường về nước, khi đến Hoành Tân (Nhật Bản), ông lại nghe tin mẹ mất, nơi đất khách quê người, ông nghẹn ngào làm điếu văn tế mẹ rất thống thiết, nỗi niềm mẫu tử thâm sâu, mắt đẫm lệ! Khi về nước, vua Tự Đức nói:“Trẫm chưa ban thưởng điều ân gì cho nhà ngươi, nhưng ngươi đã lo việc nước như việc nhà, ắt quỉ thần hiểu được”. Vua phong Bùi Viện làm Thương chính Tham biện, ông xin tổ chức lực lượng tuần dương để trừ giặc cướp biển, vua chuẩn tấu. 
Ông thành lập lực lượng hải quân đầu tiên ở Việt Nam, đội tuần dương này được huấn luyện và trang bị đầy đủ. Nhà vua thấy vậy rất hoan hỷ, phong ông là Tuần tải Nha chánh Quản đốc (tương đương Đô đốc Hải quân hàng hải). Nhờ lực lượng tuần dương của ông, mà tàu thuyền buôn và tàu của triều đình đi lại mới được an toàn trên biển khơi.
.
 *- Thiết nghĩ: Năm 1858, liên quân Pháp và Tây Ban Nha đánh chiếm bán đảo Sơn Trà ở Đà Nẵng, năm 1861 bị mất Định Tường, Biên Hòa. Hòa ước năm 1862, triều đình Huế nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông. Năm 1867, Việt Nam mất hoàn toàn 6 tỉnh miền Nam. Trước cảnh tổ quốc lâm nguy, các danh sĩ có tinh thần cấp tiến, có đầu óc thực tiễn, có lòng yêu nước nồng nàn, đấy là: Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Lộ Trạch... , muốn đem những tri thức của mình để canh tân xứ sở, để cứu đất nước trước cảnh nguy nan bởi thực dân Pháp.
.
     Sau nhiều lần tấu trình và tranh luận về việc cần học hỏi những tiến bộ của Âu Mỹ, để canh tân nước ta về Kinh tế, giáo dục, quân sự, xã hội... Lúc đầu bị triều đình Huế lơ là hay bác bỏ, mãi sau mới được chấp thuận việc “canh tân đất nước” là điều thiết yếu không thể lơ là. Trong số những vị cấp tiến, Bùi Viện đáng được xem là một nhà kinh bang tế thế, nhà ngoại giao xuất sắc, nên triều đình Huế cử sang Hoa Kỳ để đặt quan hệ chính thức và mong được viện trợ kỹ thuật, vũ khí để chống thực dân Pháp. Bùi Viện là nhà ngoại giao Việt Nam đến Hoa Kỳ đầu tiên, tuy sứ mệnh không thành nhưng thời đấy phương tiện di chuyển bằng đường biển còn thô sơ mà ông đã thực hiện được chuyến đi vĩ đại, thật là một thành công lớn lao vì đã khiến cho một cường quốc biết đến nước ta, mến mộ nước ta. Và nó đã mở đường cho sự bang giao hữu hảo giữa Việt Nam và Hoa Kỳ sau này. 
.
     Sau đấy, Bùi Viện đã tấu trình lên vua Tự Đức xin lập đội hải quân: Đội hải quân này sẽ đi tuần khắp miền duyên hải nước ta, đồng thời có ba trọng trách: Vận tải lương tiền của quốc gia, bảo vệ cho các thương thuyền và diệt trừ những giặc biển hiện đang hoành hành ở biển Đông. Được vua Tự Đức chấp thuận, ông lập ra “Tuần dương quân” (hải quân thường trực) gồm 200 chiến thuyền và 2.000 thủy quân thiện chiến và lập ra hệ thống thương điếm ở khắp các tỉnh ven biển Việt Nam. Bùi Viện là người có công lớn trong việc xây dựng hải cảng Hải Phòng và mở đô thị mới ở đấy. Đồng bào thành phố Hải Phòng vĩnh viễn nhớ công ơn của ông.  
.
Cảm bội: Bùi  Viện
 .
Bùi Viện, lo toan cảnh núi sông!
Sứ đoàn vượt biển, dãi dầu trông!
Trông chờ tiếp kiến, bồn chồn dạ
Mẹ mất ngậm ngùi, đau đớn lòng!
Mở cảng Hải Phòng, lo lắng nghĩ
Tuần phòng biển cả, giữ gìn mong
Sắt son tâm huyết, tròn trung hiếu 
Bùi Viện, đời đời nhung nhớ công!  
.
Nguyễn Lộc Yên 


.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thứ Bảy 24/2/2024 đánh dấu hai năm kể từ khi Nga phát động cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện nước Ukraine. Cuộc xung đột đang lâm vào tình trạng bế tắc và ngày càng tàn khốc. Nhân dịp này ông Nick Schifrin, một phát thanh viên của kênh truyền hình PBS, đã tổ chức một buổi thảo luận bàn tròn về hiện tình của cuộc chiến, nó có thể đi đến đâu và chính sách của Hoa Kỳ đối với Ukraine sẽ ra sao. Hiện diện trong buổi thảo luận có các ông Michael Kofman, John Mearsheimer và bà Rebeccah Heinrichs...
Đôi lời từ tác giả: “Sẽ có nhiều người không thích bài viết này. Họ sẽ cảm thấy bị công kích và rằng thật bất công. Phản ứng càng mạnh mẽ càng cho thấy nỗi sợ hãi về chủng tộc đã cắm rễ sâu vào nền chính trị Hoa Kỳ, và sẽ tồn tại mãi.” Tầm quan trọng của vấn đề chủng tộc trong nền chính trị của chúng ta được thể hiện rõ ràng qua chiến dịch tranh cử tổng thống hiện tại. Khẩu hiệu (slogan) đình đám nhất là từ chiến dịch tranh cử của Donald Trump: “MAGA” – Make America Great Again (Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại). Ý của slogan này là Hoa Kỳ đã từng rất vĩ đại, nhưng đã và đang đánh mất hào quang của mình.
Sau 11 năm chống Tham nhũng (2013-2024) nhưng Tham nhũng cứ trơ ra cười vào mũi Đảng là tại sao?
Thời gian gần đây, những người thương vay khóc mướn ở Việt Nam thường đem vấn đề Chủ nghĩa Xã hội và đảng có quyền một mình lãnh đạo ra hù họa dư luận. Tuy nhiên, càng vênh váo và cù nhầy bao nhiêu lại càng lâm vào thế bí. Những bài viết không trả lời được câu hỏi: Ai đã trao quyền lãnh đạo cho Đảng, và tại sao Đảng sợ Dân chủ đến thế?
Cận Tết năm Thìn, Marianne Brown (Guardian Weekly) có bài “Vietnam’s parents want a dragon son.” Trời! Tưởng gì, chớ cả Tầu lẫn Ta ai mà không muốn có con trai tuổi Rồng. Nhâm Thìn, tất nhiên, lại càng bảnh dữ nữa. Nam nhâm nữ quí thì sang mà lị. Theo tuviso.com: “Tuổi Nhâm Thìn có nhiều hy vọng tốt đẹp về vấn đề tình duyên và tương lai về cuộc sống, có phần tốt đẹp về tình cảm và tài lộc, vào trung vận và hậu vận thì được nhiều tốt đẹp về hạnh phúc, công danh có phần lên cao.”
Một quan điểm lạc quan đang dấy lên trong hàng ngũ Lãnh đạo đảng CSVN khi bước vào năm 2024, nhưng thực tế tiềm ẩn những khó khăn chưa lường trước được...
Nếu Donald Trump giành lại được Nhà Trắng vào tháng 11, năm nay có thể đánh dấu một bước ngoặt đối với quyền lực của Mỹ. Cuối cùng, nỗi sợ hãi về tình trạng suy tàn đã khiến cho người Mỹ bận tâm kể từ thời thuộc địa sẽ được biện minh. Hầu hết người Mỹ tin rằng, Hoa Kỳ trong tình trạng suy tàn, Donald Trump tuyên bố rằng ông có thể “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”. Nhưng tiền đề của Trump đơn giản là sai, và các biện pháp trị liệu được ông đề xuất đặt ra mối đe dọa lớn nhất đối với nước Mỹ.
Đảng CSVN hay nói “Trí thức là “nguyên khí của quốc gia”, làm hưng thịnh đất nước, rạng rỡ dân tộc*; “Trí thức là vốn liếng quý báu của Dân tộc”; hay “Thanh niên là rường cột của nước nhà” , nhưng tại sao nhiều người vẫn ngại đứng vào hàng ngũ đảng? Lý do vì đảng chỉ muốn gom Trí thức và Thanh niên “vào chung một rọ để nắm tóc”...
Tây Bắc hay Tây Nguyên thì cũng chừng đó vấn đề thôi: đất đai, tôn giáo, chủng tộc… Cả ba đều bị nhũng nhiễu, lũng đoạn tới cùng, và bị áp chế dã man tàn bạo. Ở đâu giới quan chức cũng đều được dung dưỡng, bao che để tiếp tục lộng quyền (thay vì xét sử) nên bi kịch của Tây Nguyên (nói riêng) và Cao Nguyên (nói chung) e sẽ còn dài, nếu chế độ toàn trị hiện hành vẫn còn tồn tại...
Bữa rồi, nhà thơ Inra Sara tâm sự: “Non 30 năm sống đất Sài Gòn, tôi gặp vô số người được cho là thành công, thuộc nhiều ngành nghề, đủ lứa tuổi, thành phần. Lạ, nhìn sâu vào mắt họ, cứ ẩn hiện sự bất an, lo âu.” “Bất an” có lẽ không chỉ là tâm trạng của người Sài Gòn mà dường như là tâm cảm chung của toàn dân Việt – không phân biệt chủng tộc, giới tính hay giai cấp nào ráo trọi – nhất là những kẻ sắp từ giã cõi trần. Di Cảo của Chế Lan Viên và di bút (Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất) của Nguyễn Khải, theo nhận xét của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, chỉ là những tác phẩm “cốt để xếp hàng cả hai cửa. Cửa cũ, các ông chẳng bao giờ từ. Còn nếu tình hình khác đi, có sự đánh giá khác đi, các ông đã có sẵn cục gạch của mình ở bên cửa mới (bạn đọc có sống ở Hà Nội thời bao cấp hẳn nhớ tâm trạng mỗi lần đi xếp hàng và không sao quên được những cục gạch mà có lần nào đó mình đã sử dụng).”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.