Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đọc Đặng Phú Phong Với Bên Kia Con Chữ & Nghệ Thuật

26/01/201600:00:00(Xem: 4587)

Mỗi nhà văn đều có những kiểu riêng trong cách viết, nói theo nhà văn Mai Thảo là “những bàn viết riêng.” Chúng ta đọc, và cảm nhận về mỗi tác giả khác nhau. Có thể những ấn tượng của chúng ta về các tác giả không chính xác, nhưng hiển lộ của từng người viết trên các dòng chữ vẫn là những nét riêng, mang cả những bầu trời rất riêng. Thí dụ, chúng ta đọc thơ Quách Tấn và nhận ra phong thái một nhà Nho cẩn trọng từng chữ một, trong khi dòng thơ Bùi Giáng hiện ra bát ngát, chuyển động như thác lũ cuồn cuộn như dường bất tận.

Đặng Phú Phong cũng hiển lộ một nét rất riêng: như dường không có biên giới trong đam mê sáng tác của ông. Họ Đặng làm thơ, viết truyện, nhận định về hội họa, phỏng vấn các tác giả, viết báo… Như thể rằng Đặng Phú Phong muốn sống gấp nhiều lần trong một kiếp người. Và hiển nhiên rằng, kiếp người quá ngắn, nhưng các dòng chữ của Đặng Phú Phong rồi sẽ có một sinh mệnh riêng, sẽ lưu giữ những suy nghĩ và ước mơ của anh cho những độc giả nhiều thế hệ sau. Rồi tương tự, qua chữ của họ Đặng, các họa sĩ và các nhà văn dưới ngòi bút phê bình của ông cũng sẽ xuất hiện trước mắt độc giả đời sau.

Nhà văn Bích Huyền nhận ra động cơ cầm bút đó, và gọi trên một bài viết năm 2010 ở Đài VOA là “Đặng Phú Phong và nỗi buồn lưu lạc.”

blank
Đặng Phú Phong trong buổi ra mắt ra mắt CD Thiền Ca Hoa Bay Khắp Trởi của nhạc sĩ Trần Chí Phúc hát thơ Phan Tấn Hải.

Nhà văn Bích Huyền ghi nhận về Đặng Phú Phong, trích:

“…Sau 1975 bị tù đến cuối 1982 mới được phóng thích. Ông suýt chết trong tù vì đau bệnh thương hàn, người ta đã toan đem bỏ vào nhà xác của trại giam, nhưng phép lạ đã cứu ông sống lại, sau đó bị bại liệt cả hai chân, phải chống nạng đi lê lết cho đến ngày ra trại.”(hết trích)

Bạn hãy hình dung về một Đặng Phú Phong, một thời mấy thập niên trước, đã phải chống nạng để tìm cơ sống lại, và bây giờ, ông lại cầm bút để làm hiển lộ những thế giới ẩn mật trong tranh, trong thơ, trong truyện… Tác phẩm “Bên Kia Con Chữ & Nghệ Thuât” của Đặng Phú Phong đã xuất hiện như thế đó -- từ một người bẻ nạng để cầm bút.

Tuyển tập gồm 2 phần, nơi Phần 2 là nhận định về nhiều họa sĩ và thế giới họa phẩm của họ, nơi Phần 1 là phỏng vấn, nhận định, nói chuyện với các nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ.

Mỗi bài viết trong tuyển tập của Đặng Phú Phong là riêng về một tác giả.

Trong Phần 1, tác giả họ Đặng viết về, hoặc phỏng vấn Du Tử Lê, Đặng Thơ Thơ, Đào Hiếu, Lê Văn Khoa, Nga Mi & Lãng Minh, Nguyễn Viện, Nhã Thyên, Nguyễn Tôn Nhan, Song Chi, Thảo Trường.

Chúng ta nhận ra rằng trong Phần 1, có nhà thơ, nhà văn, nhạc trưởng, nhạc sĩ, ca sĩ, nhà biên khảo Hán Nôm, nhà đạo diễn… Nghĩa là, đa dạng.

Trong Phần 2, Đặng Phú Phong viết về các họa sĩ: Ann Phong, Cao Bá Minh, Du Tử Lê, Dương Văn Hùng (điêu khắc), Đào Hải Triều, Đinh Cường, Khánh Trường, Nguyên Khai, Nguyễn Đình Thuần, Nguyễn Văn Trung, Rừng, Thanh Trí, Trịnh Cung, Trương Thị Thịnh.

Cần ghi nhận rằng, Du Tử Lê trên Phần 1 là nhà thơ, và rồi xuất hiện như họa sĩ nơi Phần 2. Và đặc biệt, bìa của tuyển tập “Bên Kia Con Chữ & Nghệ Thuật” là tấm tranh “Treo mình trên giá vẽ” của Trịnh Cung, một họa phẩm sơn dầu trông như hình ảnh Chúa Jesus bị đóng đinh, nhưng nơi đây có nghĩa là họa sĩ mỗi lần sáng tác là một lần treo mình trên giá vẽ và “nâng hội họa thành tôn giáo” (trang 278).

Tuyển tập dày 312 trang, in thuần trên giấy dày, tất cả đều hình màu -- và rất nhiều tranh của các họa sĩ được in màu nơi đây để giữ trung thực các màu sắc. Đây là một tuyển tập cần có trong tủ sách những người quan tâm về văn học và hội họa.

Sở trường của tác giả là phê bình hội họa, do vậy, nơi đây chúng ta sẽ chọn trích đoạn một số nhận định của Đặng Phú Phong về một số họa sĩ quen thuộc trong cộng đồng.

Trong bài “Khánh Trường và... phục sinh” – Đặng Phú Phong viết nơi trang 222-223, về loạt tranh triển lãm năm 2006, trích như sau:

“Hãy nhìn. Màu sắc trong loạt tranh Phục Sinh như nhẹ ra, mặc dù màu vàng đất là màu Khánh Trường thủ đắc, bố cục tưởng như chểnh mảng nhưng là một chểnh mảng lọc lừa khiến người xem dễ dàng đồng ý với tác giả, phó mặc cho màu sắc dẫn dắt đi vào không gian thật rộng của từng bức họa. Cảm giác của người xem sẽ là một cảm giác vui, lâng lâng, nhẹ nhàng, chừng như cái đẹp trong tranh của anh có đôi mắt thật trong thật sáng và nụ cười thật trẻ thơ luôn luôn mời gọi.

Sự tự tin đã giúp Khánh Trường vượt thoát. Sự đam mê đã giúp anh gặp gỡ được cái đẹp của hội họa. Đó là những điều nổi bật của Khánh Trường. Anh có nhiều cá tính rất mãnh liệt và cũng rất dại khờ tình si nên cuộc đời anh phảng phất dáng vẻ nhân vật Alexis Zorba của Nikos Kazanzaki, anh chàng chịu chơi với chất ngất đam mê, yêu đời, yêu cái đẹp, yêu phụ nữ cho đến lúc cận kề cái chết. Alexis Khánh Trường!” (hết trích)

Trong bài “Nguyễn Đình Thuần: Thế giới của những hang động thạch nhũ,” họ Đặng viết nơi trang 238, trích:

“...Có lần khi xem tranh của Nguyễn Đình Thuần sau khi uống vài ly rượu, tôi chợt nhận ra rằng sự thống khoái của mấy ly rượu cộng với không khí của những bức tranh làm cho tôi thích tranh của anh lạ lùng. Không gian trong tranh bây giờ là không gian của kính vạn hoa luôn luôn biến đổi. Sự sống của những bức tranh như đâm chồi, trổi dậy theo chiều cao, trườn chảy ra theo chiều sâu bằng những vết, mảng màu phi hình dạng sáng, tối, đậm đặc và sung mãn.”(hết trích)

Trong bài “Đinh Cường, màu xanh miên viễn,” Đặng Phú Phong viết nơi trang 212, trích:

“...Đinh Cường là một trong nhiều họa sĩ Việt Nam ảnh hưởng lối vẽ thiếu nữ của Modigliani. Nhưng, Đinh Cường đã Việt hóa người thiếu nữ trong tranh của Modigliani. Hay nói đúng hơn những tiêu chuẩn về người nữ của Modigliani được Đinh Cường thay đổi cho phù hợp với người Việt hơn. Gương mặt hơi ngắn lại, bầu ngực không to không căng tròn, mái tóc buông dài, chiếc áo dài thướt tha. Những chi tiết này kết hợp với thân hình “gầy guộc” “xanh xao” (mượn chữ Trịnh Công Sơn) để trở thành vóc dáng một cô gái Huế quả là một cái đẹp hết sức thanh tân. Về điểm này tôi cho rằng những cô gái Huế đã nợ Đinh Cường (cũng cần thêm họa sĩ Nguyên Khai nữa) một món nợ tinh thần rất lớn. Thiếu nữ trong tranh Đinh Cường là thiếu nữ Huế!”(hết trích)

Trong bài “Thanh Trí và triển lãm Đôi Bờ,” Đặng Phú Phong nơi trang 266 viết, trích:

“...Mùa thu: vàng.. Vui thì ửng đỏ và lấp lóe đâu đó chút xanh biên biếc. Buồn thì vàng đen, vàng nâu, vàng đất, vàng …đá. Ít thấy họa sĩ nào diễn tả mùa thu mạnh và đầy góc cạnh như Họa sĩ Thanh Trí. Mạnh nhưng không thô, cái mạnh của lực tạo hóa. Góc cạnh vì cái nhìn, cảm nhận đa chiều đối với một không gian xơ cứng, trầm uất. Mùa thu có trọng lượng, sức nặng ở những chiếc lá rơi, ở những giọt sương làm trĩu những chiếc lá sen già nua. Ngắm những bức tranh mùa thu của Họa sĩ Thanh Trí, người xem thấy được những hang hóc hoang vu sổng người lên chịu đựng đám lá mục thời gian qua những nhát cọ khá hào phóng. Điều nầy càng dễ thấy hơn qua bức tranh Hành Trình Của Đá. Trong những hình khối đa dạng, chập chùng đè lẫn lên nhau tạo nên ấn tượng hổn mang của thời hoang sơ lập địa, mời gọi người xem hòa mình vào cảnh trí của bức tranh, để cùng bước theo hành trình của đá. Có hành trình của đá thì cũng sẽ có giấc mơ của đá. Đá cũng là tôi là anh là mọi người.”(ngưng trích)

Trong bài “Nguyên Khai, chất Huế trong tranh,” Đặng Phú Phong nơi trang 233 viết, trích:

“Có người cho tranh Nguyên Khai nhuốm sắc buồn, nhưng với tôi, tranh Nguyên Khai phàn ánh tâm hồn hiền hòa, chân chất của anh, phản ánh cái êm đềm, thơ mộng của Đất Thần Kinh. Sự nghiệp hội họa của Nguyên Khai gắn liền với xứ Huế, dù cho anh có ở bất cứ phương trời nào và vẽ bất cứ dưới chủ đề nào, chất Huế vẫn cứ bàng bạc trong tranh. Nói thậm xưng một chút thì ngôn ngữ trong tranh của Nguyên Khai là ngôn ngữ của một cô gái Huế nhỏ nhẹ thầm thì, khiến mọi người phải tĩnh lặng lắng tai thả hồn vào cung bậc du dương mật ngọt.”(hết trích)

Trong bài “Rừng, gã du tử trên đại lộ màu sắc,” Đặng Phú Phong nơi trang 257 viết, trích:

“...Có lẽ vì quá cưu mang và tự trang bị cho mình sự dấn thân ở từng mảng đời trong sư phi lý và đầy kịch tính của xã hội nên tranh của Rừng thường dùng màu thật nóng, thật mạnh và thật nhiều hình tượng khiến cho những hình tượng ấy thiếu không gian để thở, khiến cho người xem cũng ngộp thở theo. Cùng với một số hoạ sĩ cùng thời, hay các hoạ sĩ trong hội Hoạ Sĩ Trẻ,mà anh là một thành viên, đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm khá thành công thành công. Ở mỗi cuộc triển lãm tranh của anh đều có sắc thái riêng biệt, rất Rừng, và nhất là sự thay đổi trong chiều hướng sáng tác. Điều đó chứng tỏ Rừng rất chịu khó tư duy, luôn đi tìm cái mới cho tác phẩm của mình. Anh quan niệm con đường sáng tạo về nghệ thuật của anh như một con đường tu tập có nhiều thời kỳ và trong mỗi thời kỳ đều có nguyên nhân nội tại cùng với sự đưa đẩy của cơ duyên.”(hết trích)

Trong bài “Cao Bá Minh: màu xanh trôi trong ký ức,” Đặng Phú Phong nơi trang 182 viết, trích:

“Một nét rất đặc biệt, rất Cao Bá Minh là nếu ai đã từng gặp mặt anh thì sẽ dễ dàng nhận ra những tranh chân dung, dù là chân dung tự họa hay chân dung của thiếu nữ, của mùa xuân, hay của ai đó đi chăng nữa đều là sự thể hiện chân dung của chính anh, nhưng không bức nào giống bức nào, không lập đi lập lại chủ đề. Đó chính là sáng tác là khám phá cái mới. Và cũng qua những bức chân dung này ta khẳng định được chất đông phương trong tranh Cao Bá Minh với những màu sắc lãng mạn, sâu lắng, huê dạng như những hang động thạch nhũ lấp lánh muôn màu dưới ánh sáng xanh nhẹ nhàng quí phái. Dù anh vẽ sự mộng mơ, sự bình an, những điều tốt đẹp hay sự hủy diệt, sự thất vọng, sự đau khổ vân vân và vân vân nghĩa là anh vẽ bất cứ điều gì, chúng ta đều phải có cùng một nhật xét là tranh Cao Bá Minh rất sang cả.”(hết trích)

Trong bài “Ann Phong, biển, mãi gọi tên,” Đặng Phú Phong nơi trang 171 viết, trích:

“Biển đã giúp Ann Phong vượt thoát, nhưng cũng chính biển cày sâu vào tâm thức chị. Khi trốn chạy, Ann Phong mong đi qua biển thật nhanh, qua được rồi, nhiều năm sau nước biển vẫn còn “thấm trên da thịt” (chữ của Ann Phong). Biển đã trở thành một khúc quành thiết thân của đời mình, thế nên chị đã quay lại biển. Nhưng lần này Ann Phong không dùng thuyền máy mà dùng cọ vẽ làm cột bườm, kết màu sắc thành thuyền, ung ung ra khơi. Hai chuyến đi có khác về phương cách nhưng có cùng một mục đích thăng hoa; một thăng hoa cho đời sống, một thăng hoa cho nghệ thuật của mình...”

Tác phẩm mới của Đặng Phú Phong trong tận cùng cũng là nguồn tài liệu phong phú về 23 tác giả, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà đạo diễn – cũng ghi lại một thời kỳ sáng tác của nhiều nghệ sĩ trong một thời đại có rất nhiều chuyển biến cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Tập biên khảo “Bên Kia Con Chữ & Nghệ Thuật” dày 312 trang với hơn 70 trang màu in những bức tranh đẹp của các họa sĩ VN. Ấn phí 30 Mỹ kim. Muốn nhận sách có chữ ký của tác giả xin liên lạc: dpp653@yahoo.com.

Phan Tấn Hải

GHI CHÚ: Sách “Bên Kia Con Chữ & Nghệ Thuật” của Đặng Phú Phong, sẽ ra mắt tại Việt Báo, 14841 Moran St., Westminster, CA. 92683 từ 1 giờ 30 Chủ nhật 31/1/2016. Các diễn giả: Nhà thơ Du Tử Lê. Họa sĩ Trịnh Cung, Nhà văn Đặng Thơ Thơ. MC: nhà văn Trịnh Thanh Thủy. Văn nghệ: nhạc sĩ Trần Chí Phúc. Vào cửa tự do.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.