Hôm nay,  

Hiệu Ứng Trung Quốc

15/01/201600:00:00(Xem: 7930)

...vấn đề sẽ là những chấn động chính trị từ Á sang Âu.

Vụ cổ phiếu Trung Quốc bị rớt giá trong mấy ngày đầu năm thật ra không đáng ngại bằng nhiều dấu hiệu suy thoái khác của nền kinh tế có sản lượng đứng hạng nhì. Nếu kinh tế xứ này suy sụp dần trong những năm tới thì hậu quả sẽ ra sao cho thế giới? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về hiệu ứng đó qua phần trao đổi với chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa, tư vấn kinh tế của ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do. Xin quý thính giả theo dõi cách Nguyên Lam dẫn vào chuyện….

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Tuần trước, ông trình bày một vòng chân trời về những gập ghềnh của thế giới trong năm 2016. Tuần này chúng tôi xin đề nghị ông tập trung vào hoàn cảnh Trung Quốc với nhiều dấu hiệu trì trệ ngày càng rõ nét, nổi bật là vụ cổ phiếu sụt giá mạnh trong những ngày đầu năm khiến các thị trường tài chính đều bị chấn động. Nếu kinh tế Trung Quốc đi vào chu kỳ sa sút, như ông đã dự báo nhiều lần và khá sớm, thưa ông, tình hình sẽ ra sao cho các nền kinh tế khác?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta sẽ khởi sự với vụ sụt giá cổ phiếu Trung Quốc làm thiên hạ hốt hoảng. Thị trường chứng khoán xứ này mất giá hơn 16% trong có mươi ngày đầu năm nên lôi kéo sự chú ý của các nước, không vì ảnh hưởng tài chính mà vể khả năng ứng xứ rất kém của các cơ quan hữu trách.

- Ảnh hưởng tài chính của vụ chứng khoán sụt giá tại Trung Quốc là yếu tố không đáng kể cho thế giới vì thị trường này vận hành khác và trị giá không nhiều, nếu như có tính ra được kết giá thị trường của các cổ phiểu. Thị trường chứng khoán Trung Quốc không là nơi huy động vốn kinh doanh và cổ phiếu bán ra không cho giới đầu đầu tư quyền tham gia quản lý hay kiểm soát tình hình kinh doanh. Đấy là sòng bạc cho giới đầu cơ muốn có lời mau nên dễ bị lỗ nặng thôi!

- Sau mấy ngày hốt hoảng, thế giới sở dĩ theo dõi thị trường chứng khoán xứ này vì thấy ra vài sự thật. Người ta tưởng Bắc Kinh có viễn kiến lâu dài, làm gì cũng tính toán và có phản ứng đồng bộ dưới sự lãnh đạo tập trung nay càng tập trung hơn. Sự thật thì các cơ quan hữu trách lại thiếu phối hợp, lấy quyết định chủ quan duy ý chí - như đặt ra cầu chì cho cháy để đóng cửa giao dịch nếu giá sụt 5% rồi lại thu hồi sau bốn ngày áp dụng vì gây phản tác dụng. Họ can thiệp vào thị trường ngoại hối mà chẳng có khả năng và thiếu thông tin mạch lạc cho thị trường, rồi sau đó còn đổ lỗi cho người khác. Chính khả năng quản lý kém cỏi này mới gây lo ngại khi kinh tế đi vào chu kỳ suy thoái.

Nguyên Lam: Thưa ông, đâu là những dấu hiệu của sự suy thoái sắp tới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nhẹ nhất, đơn đặt hàng chế biến qua chỉ số PMI của CaiXin sa sút liên tục 10 tháng liền và nhà cầm quyền hạ lãi suất hoặc lại bơm tiền vào kinh tế. Nhiều nơi nói đến nhu cầu bơm ra gần sáu ngàn tỷ đô la nếu muốn kích thích sản xuất như vào năm 2009. Nhưng bơm bao nhiêu và trong bao lâu mới đủ khi núi nợ chất đống đã có thể sụp đổ nay mai?

- Một chỉ dấu khác, năm qua dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc mất một ngạch số tương đương với 513 tỷ đô la và riêng trong Tháng 12 thì mất 108 tỷ, tức là mỗi ngày mất ba tỷ sáu! Tháng Chín vừa qua, chúng ta cũng nhắc đến sự kiện này qua bài “Nếu Bắc Kinh Xuất Khẩu “Đạn?” với ý nghĩa là họ dùng ngoại tệ dự trữ như một võ khí, một loại quyền lực mềm. Điều đáng chú ý là hôm mùng bảy vừa qua, Ngân hàng Trung ương Bắc Kinh đã lần đầu tiên xác nhận chuyện dự trữ hao hụt. Ta phải kết luận là Trung Quốc đang trôi vào chu kỳ suy thoái có thể kéo dài cả chục năm, với hậu qủa bất lường cho mọi người, kể cả lãnh đạo Bắc Kinh nên họ đang có biện pháp đàn áp để ngừa trước.

- Đấy là loại chỉ dấu “phi kinh tế”, như có thái độ hung hăng bất thường về quân sự để chứng tỏ niềm tự tin với quốc tế, hoặc truy tố và bắt cóc hàng loạt đảng viên, doanh gia và nhà báo, hay Chủ tịch Tập Cận Bình có bài diễn văn phê phán quân đội vào dịp cuối năm, là điều chưa từng thấy từ thời Mao….

Nguyên Lam: Ông vừa nói về loại hậu quả bất lường cho lãnh đạo Bắc Kinh, có lẽ vì đặc tính độc tài toàn trị của chế độ. Nhưung với thế giới bên ngoài thì người ta có thể ước tính được những hiệu ứng về kinh tế trong luồng giao dịch toàn cầu, thưa ông, hiệu ứng đó là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin đề nghị là ta nhìn trên toàn cảnh trước khi đi vào mạng lưới giao dịch của các nước với nền kinh tế Trung Quốc.

- Trước hết, thế giới đang sử dụng hai mặt hàng phổ biến có ảnh hưởng toàn cầu là đô la và dầu thô. Người ta quá chú ý đến việc đồng bạc Trung Quốc mất giá nên càng thúc đẩy nạn tẩu tán tư bản. Thật ra, hệ quả trực tiếp của sự kiện này là Mỹ kim lên giá và càng đánh sụt giá thương phẩm. Thí dụ dễ hiểu là doanh nghiệp và khách nợ Trung Quốc sẽ phải bán đồng Nguyên mất giá để mua vào Mỹ kim để đầu tư hay trả nợ. Thứ hai, nói về thương phẩm thì kinh tế Trung Quốc đói ăn và khát dầu, ăn thì khó nhịn chứ dầu khí cho sản xuất sẽ giảm khi sản lượng giảm. Số cầu sút giảm này càng khiến dầu thô sụt giá mạnh năm nay, kéo theo nhiều loại thương phẩm như nguyên nhiên vật liệu và cả nông sản.

Nguyên Lam: Sau khi ông nhắc tới hai mặt hàng có tác dụng chuyển lực từ thị trường này qua thị trường khác là đô la Mỹ và dầu thô đang sụt tới mức đáng ngại và còn có thể sụt nữa, Nguyên Lam xin đề nghị ông nói về hiệu ướng qua mạng lưới giao dịch giữa các nước với Trung Quốc.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Từ 20 năm nay, thế giới cứ sai lầm ngợi ca phép lạ kinh tế Trung Quốc như đã sai lầm và bị bất ngờ về sự kỳ diệu Nhật Bản sau khi Nhật bị suy thoái từ năm 1991. Trong khi ấy, dấu hiệu sa sút của Trung Quốc đã rõ rệt từ năm 2014, cũng là năm dự trữ ngoại tệ xứ này hết tăng mà giảm. Thành thử, các nước bắt đầu đối diện với hiệu ứng suy thoái của Tầu, mà thật ra chưa tìm ra giải pháp thay thế khi ba đầu máy kinh tế mạnh nhất là Âu, Mỹ, Nhật vẫn chưa phục hồi. Bây giờ thì tính nhẩm ta mới thấy quốc gia nào lệ thuộc nhiều nhất vào xuất khẩu sẽ bị hiệu ứng nặng nhất và càng làm giàu vì bán hàng cho Tầu thì lại càng vất vả. Thí dụ hàng đầu là Nam Hàn, Đức, Malaysia hay Saudi Arabia. Đấy là nói chung.

- Đi vào chi tiết thì có mươi nước xuất khẩu nhiều nhất vào Trung Quốc. Theo thứ tự là Nam Hàn, Nhật, Mỹ, Đài Loan, Đức, Úc, Malaysia, Brazil, Saudi Arabia, Nam Phi và Nga. Trong các bạn hàng sẽ lâm nạn khi kinh tế Trung Quốc suy thoái thì ta còn phân biệt loại quốc gia bán thương phẩm là nguyên nhiên vật liệu, kim loại hay nông sản như đậu nành, với loại quốc gia bán hàng công nghiệp chế biến, linh kiện điện tử hay thiết bị cao cấp. Loại bán hàng sơ đẳng thì có Úc, Brazil, Saudi, Nam Phi, Nga và sẽ bị hai lần họa là dầu thô cùng thương phẩm đều sụt giá. Loại bán hàng cao cấp là Nam Hàn, Nhật, Mỹ, Đài Loan và Đức thì tương đối bị nhẹ hơn. Nhẹ nhất và đây là chi tiết lạ, chính là Mỹ và Nhật vì kinh tế thật ra ít lệ thuộc vào xuất khẩu với tỷ trọng xuất khẩu chỉ chiếm 13,5% và 16% mà thôi.

- Có bị nhẹ hơn Úc hay Nam Hàn thì hoàn cảnh của Đức cũng đáng chú ý. Kinh tế xứ này là đầu máy của khối Âu Châu và dù Đức chỉ bán cho Tầu chưa đầy 7% của tổng số xuất khẩu của mình, thị trường Trung Quốc lại ảnh hưởng lớn đến kỹ nghệ xe hơi và phụ tùng xe hơi của Đức và từ đó chi phối cả chuỗi cung ứng của nhiều nước Âu Châu khác. Vì vậy, hiệu ứng Trung Quốc sẽ gây bất lợi cho cả Âu Châu, và bất lợi hơn là cho Hoa Kỳ hay Nhật Bản.

Nguyên Lam: Quả thật là nếu nhìn ra quan hệ chằng chịt của việc mua bán giữa các nước thì ta mới ước tính được hậu quả gần như toàn cầu của sự sa sút kinh tế tại Trung Quốc. Thưa ông, tuần qua khi vụ sụt giá chứng khoán bên Tầu gây chấn động thì tỷ phú Georges Soros báo động rằng thế giới có thể lại bị khủng hoảng như đã từng bị vào năm 2008. Vì ông Soros từng là nhà đầu tư nổi tiếng từ mấy chục năm qua với những thành tích tiên báo khá chính xác, ông Nghĩa nghĩ sao về lời cảnh báo này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng sự thể sẽ còn tệ hơn vậy, nhất là cho Trung Quốc! Trên diễn đàn này, mỗi khi nói đến việc lượng định tình hình, tôi cứ trở lại vụ khủng hoảng năm 2008 với hậu quả là nạn Tổng suy trầm 2008-2009. Thật ra thế giới chưa ra khỏi biến động từ đầu nguồn là 2008.

- Hoa Kỳ là một điển hình với các nhược điểm chưa giải quyết được từ đó và nếu có phục hồi thì cũng chỉ là tương đối mà thôi. Âu Châu là thí dụ rõ rệt hơn với vụ khủng hoảng của đồng Euro từ đó đến nay vẫn còn hoành hành. Thí dụ thứ ba chính là Trung Quốc. Khi khủng hoảng bùng nổ, Bắc Kinh lập tức tăng chi khoảng 586 tỷ đô la và ào ạt bơm tín dụng để kích thích kinh tế vậy mà sản lượng không tăng và lại chất lên một núi nợ rất cao trong khoảng thời gian rất ngắn và từ năm 2014, bắt đầu sa sút. Ngay Việt Nam hay nhiều nước đang phát triển cũng thế, từ năm 2008 đã vay mượn và bị bội chi ngân sách nặng hơn xưa, mà có vẻ như chưa thấy là tình hình nguy ngập!

Nguyên Lam: Nếu như vậy, phải chăng là từ vụ khủng hoảng 2008, thế giới đang bị nhồi thêm vào một biến động khác là hiệu ứng từ Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Từ biến động tài chánh 2008, thế giới rơi vào trạng thái hỗn loạn cộng hưởng bao trùm lên các lĩnh vực xã hội, kinh tế, chính trị và cả an ninh. Đấy là hiện tượng “khủng hoảng niềm tin” chứ không chỉ là khủng hoảng kinh tế. Nó manh nha từ năm 2013 và ngày nay kết tụ vào Âu Châu rồi Trung Quốc. Các nước Âu Châu có tinh thần dân chủ và lý tưởng hòa giải mà còn bị nguy cơ phân hóa, huống hồ Trung Quốc là một khu vực quá rộng lớn với những khác biệt rất khó dung hòa?

- Kết luận ở đây có lẽ mở rộng ra ngoài lĩnh vực kinh tế, là hiện tượng cơ năng rời rạc của hệ thống chính trị Trung Quốc, cứ tưởng như có toàn quyền quyết định với khả năng điều hợp rất cao của một chế độ độc tài. Sự thật như đã thấy trong vụ sụt giá cổ phiếu vừa qua và sẽ thấy trong chu kỳ suy thoái của mấy năm tới, là hệ thống kinh tế chính trị này không thể giải quyết các bài toán quá phức tạp của một thị trường toàn cầu, vận hành với tốc độ cao. Lãnh đạo Bắc Kinh có lên giọng uy hiếp các nước khác thì vẫn khó ứng xử với quá nhiều sức ly tâm ở bên trong. Cho nên vấn đề không chỉ là suy trầm toàn cầu vì hiệu ứng Trung Quốc, vấn đề sẽ là những chấn động chính trị từ Á sang Âu.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do xin cảm tạ ông Nghĩa về bài phân tích này.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.