Hôm nay,  

Nợ….

26/09/201500:01:00(Xem: 19751)
Nợ….

Đoàn H. Quốc

Nợ vốn đã đau đầu, nhưng nợ nhà nước lại càng phức tạp hơn do các con số và bị những nhà kinh tế đánh hỏa mù...


Nhưng có thể lấy thí dụ cho dễ hiểu: một nước đang phát triễn như sinh viên mới ra trường, trong khi quốc gia công nghiệp giống như người lớn tuổi đã có sự nghiệp. Tất nhiên thanh niên trẻ cần mượn tiền gia đình hay ngân hàng để mua xe tậu nhà lập gia đình tạo nên sự nghiệp, tương tợ như nước mới phát triển phải mượn nợ đầu tư vào đường xá, điện nước, phi trường, hải cảng, giáo dục, y tế v.v… Hạ tầng tốt tạo điều kiện cho kinh tế phát triển chẳng khác các cặp vợ chồng trẻ đặt nền móng chuẩn bị cho tương lai.


Nhưng rồi có người khi đồng tiền ra vào lại tiêu xài bậy bạ thay vì lo cho mai sau, cũng giống như các món nợ đầu tư lảng phí theo kiểu xây dựng tượng đài, phi trường, công trình hoành tráng nhưng kém hiệu quả kinh tế. Lại có kẻ mới đi làm có đồng lương nhưng không biết quản lý tiền bạc nên bị bạn xấu bòn rút, chẳng khác gì một nước mới phát triển nhưng tài nguyên công quỹ bị tham nhũng đục khoét. Theo một số nghiên cứu thì khi đầu tư hạ tầng chiếm trên 40% GDP là lúc một quốc gia đang mở mang đánh mất dần khả năng kiểm soát khiến đầu tư trở nên lảng phí.


Sinh viên mới ra đời tuy ít của cải nhưng lương bổng tăng nhanh so với người trưởng thành lương tăng chậm nhưng nhà cửa tài sản tích tụ đã nhiều. GDP của Trung Quốc trong vòng 20 năm tăng trưởng 10% thường niên trong khi của Hoa Kỳ chỉ tăng 2-4%, nhưng tài sản của nước Mỹ nhiều hơn Tàu đến 9 lần. Cho nên có người lý luận cho rằng ngay cả khi GDP của Tàu qua mặt Mỹ - tức là lương Trung Quốc vượt hơn lương của Hoa Kỳ nếu tính trên quốc gia chớ không bằng lợi tức đầu người – thì Mỹ vẫn giàu hơn Tàu.


Nợ có thể vay mượn từ gia đình hay bên ngoài, giống như nhà nước có thể vay mượn từ trong nước hay ngoại quốc. Trong nội địa chính quyền có hai khoảng thu nhập là thuế và nợ công. Nhà nước vay mượn trong nước bằng cách trực tiếp bán công trái cho dân chúng hoặc ngân hàng, các quỹ đầu tư và bảo hiểm tức là những nơi giữ tiền do dân chúng thác gởi. Sau đó chính quyền dùng tiền để xây cầu đường hay tài trợ cho các công trình địa phương và công ty nhà nước. Con cái bòn rút cha mẹ rồi đến khi túng thiếu năng nỉ để gia hạn hay tha nợ, huống hồ gì nhà nước là cha mẹ thì quịt nợ dân chúng còn dễ hơn. Một cách để trả nợ là tăng thuế; hay ấn hành nợ mới; hoặc bắt các ngân hàng xoá nợ; hay in bạc để trả nợ, bởi vì nhà nước có quyền in đồng tiền nội địa. Nhưng trên đời có vay có trả, dù chọn lựa cách nào thì cũng phải có bên thua lổ hoặc do thuế má lên cao, hay lạm phát tăng vì tiền mất giá, hoặc ngân hàng lổ lã nên không cho doanh nghiệp và tư nhân vay mượn. Nói cách khác phù phép cách gì đi chăng nửa dân chúng và khu vực tư nhân cũng lãnh hậu quả.


Nhân đây cũng nên nói về lạm phát: chủ nợ và người tiết kiệm lo tiền mất giá trong khi nhà nước cùng các con nợ lại trông vào lạm phát để cho nợ bốc hơi. Nói cách khác thì lạm phát chính là một thứ thuế vô hình để móc túi người dân.


Nợ nước ngoài mượn bằng đô-la trả bằng đô-la cho nên nhà nước không thể in thêm tiền nội địa để trả nợ. Đến kỳ hạn thì phải rút ngoại tệ dự trữ ra trả. Trong nhà còn đóng cửa dạy nhau, nhưng mượn tiền người ngoài nếu chậm trể thì bị kêu réo um sùm khó dấu. Khi dự trữ ngoại tệ xuống thấp khiến các doanh nghiệp cần buôn bán với nước ngoài khó đổi tiền đô-la thì họ phải mua ngoại tệ với giá chợ đen khiến tiền nội địa càng thêm mất giá. Tiền cũng có thể bị phá giá để cạnh tranh với các nước khác như trường hợp Việt Nam và Trung Quốc mới xảy ra gần đây. Các nhà đầu tư thấy tiền mất giá thì vội đổi sang đô-la để không bị thiệt thòi, rồi rút tiền về Mỹ hay các nơi an toàn khác như Âu-Nhật dẫn đến tình trạng tư bản tháo chạy gọi là capital flight.


Hai nền kinh tế lớn hàng nhì và ba trên thế giới là Trung Quốc và Nhật Bản đều mang nợ khoảng 200% GDP nhưng đa số là nợ trong nước, cộng thêm các khoảng dự trữ ngoại tệ khổng lồ nên nạn tư bản chảy ra nước ngoài không đe dọa thị trường tài chánh đến mức mất kiểm soát giá trị đồng bạc. Nga trước đây tích tụ ngoại tệ nhờ giá dầu tăng vọt nên có thể chống chọi 1-2 năm cho dù đồng rúp đến nay đã rơi giá thê thảm vì dầu hạ giá. Còn lại các nước đang mở mang như Brazil, Argentina, các nước vùng Trung và Đông Nam Á không có khoảng dự trữ lớn trong khi mua bán với Trung Quốc chậm lại nên đang phập phòng không biết tình trạng tư bản tháo chạy có sẽ xảy ra hay không.


Đối với cá nhân thì người trưởng thành thường không mượn nợ vì tài sản nhà cửa đã có, nhưng đối với các quốc gia công nghiệp hiện lại mang nhiều nợ hơn các nước đang mở mang. Một phần như tại Nhật dân số già nên nhà nưóc chi ra cho hưu bổng nhiều hơn thu vào từ thuế lợi tức và tiêu thụ; phần khác vì chính sách xã hội quá hậu hỉ như Châu Âu; hay vung tay tiêu xài vì … mượn nợ quá dễ như Hoa Kỳ. Các nước đang phát triển như Trung Quốc hay những quốc gia dầu hỏa vùng Trung Đông gởi tiền cho khối công nghiệp vay mượn, một phần vì họ cần giúp cho thị trường các quốc gia công nghiệp mua hàng hóa xuất cảng do đây là những khách hàng xộp, phần khác bởi tiền giữ trong nước sợ bốc hơi, giống như vợ chồng trẻ sợ tiền để trong nhà mang ra đánh bài nên đem gởi ông hàng xóm nhà giàu cho chắc ăn.


Nước mang nợ nhiều nhất thế giới là Hoa Kỳ thì phải xem là… ngoại hạng (exorbitant privilege). Mỹ mượn nợ bằng đô-la nên kẹt lắm in tiền đô-la để trả nên cho Hoa Kỳ vay mượn không thể mất vốn. Ngân Hàng Trung Ương đã in 4000 tỷ USD từ năm 2008 đến nay nhằm vực dậy nền kinh tế, theo lẽ thường lạm phát phải tăng và đô-la mất giá; nhưng ngược lại lạm phát tại Mỹ vẫn dưới 1% còn giá đô-la lại tăng nhanh tức trái hẳn với các quy luật kinh tế nhập môn. Đã có vô số bài viết tranh luận về sự kiện này kể cả trong các cuộc bầu cử Tổng Thống, nhưng thực tế vẫn là thế giới tiếp tục cho Hoa Kỳ mượn với tiền lời rẻ mạt 1%. Cho nên có nhiều kinh tế gia đòi Hoa  Kỳ không nên giảm mà phải tăng nợ, vay mượn nhiều hơn nửa trong khi lãi suất còn thấp nhằm đầu tư vào hạ tầng và thúc đẩy nền kinh tế khi phát triển còn chậm chạp.


Để hiểu lập luận này nên mường tượng ra hai cách trả nợ: hoặc bớt tiêu xài thắt lưng buộc bụng trả nợ theo kiểu Hy Lạp, nhưng rồi nghèo lại nghèo thêm; hay cứ mượn thêm nợ để đầu tư, đầu tư tăng giúp thu nhập tăng thì gánh nợ teo lại. Khuấy nước thành hồ hay mượn đầu heo nấu cháo cách nào cũng được cho nên nợ công là một vấn đề vô cùng phức tạp mà các kinh tế gia không bao giờ đồng ý với nhau.










.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.