Hôm nay,  

Nếu Bắc Kinh Xuất Khẩu Đạn?

9/24/201500:00:00(View: 7013)

...ai chẳng mơ chuyện cung trăng, huống hồ lãnh đạo Bắc Kinh!

Từ hai tháng qua, các thị trường tài chính quốc tế đều chứng kiến hiện tượng là khối dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã giảm sút nặng và tính đến Tháng Bảy vừa rồi thì chỉ còn khoảng ba ngàn 560 tỷ đô la. So với đỉnh cao vào Tháng Sáu năm ngoái thì sụt chừng 440 tỷ đô la. Một trong các nguyên nhân của sự kiện ấy là nạn tẩu tán tư bản, hay chuyển tài sản từ dạng nội tệ là đồng Nguyên qua ngoại tệ là đồng đô la Mỹ. Nhưng nếu lãnh đạo Bắc Kinh lại nhân trào lưu ấy mà có chủ đích tung dự trữ để đầu tư ra ngoài thì sao? Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu mặt trái của sự việc này qua phần trao đổi do Nguyên Lam thực hiện sau đây với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, trong chương trình phát thanh vào mùng hai vừa qua, ông nói đến sự kiện khối dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc, được ước lượng là tương đương với bốn ngàn tỷ đô la vào năm ngoái nay đã hao hụt và chỉ còn chừng ba ngàn 560 tỷ tính đến Tháng Bảy. Ông gọi đó là “kho đạn của Bắc Kinh đang cạn dần” trên trận tuyến kinh tế đối ngoại. Kỳ này, chúng tôi xin hỏi ngược rằng nếu Bắc Kinh cố tình tung ngoại tệ ra ngoài trong mục tiêu đầu tư và bành trướng ảnh hưởng thì sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là câu hỏi này rất hay vì cho ta thấy một kịch bản khác về kho dự trữ ngoại tệ như một kho đạn. Có thể gọi kịch bản ấy là “Bắc Kinh xuất khẩu đạn” để sẽ có ngày sử dụng sau này. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về những mục tiêu giả định và khả năng thực hiện kế hoạch này.

- Trước hết, ta nhớ là Trung Quốc học các nước Đông Á khi cải cách kinh tế, lấy đầu tư và xuất khẩu làm lực đẩy, rồi nhà nước thu về một lượng ngoại tệ rất lớn nhờ đạt xuất siêu, là xuất nhiều hơn nhập. Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới 15 năm trước, quả nhiên Bắc Kinh gom về một khối dự trữ rất cao, tính đến Tháng Sáu năm ngoái là lên tới gần bốn ngàn tỷ đô la. Trong số này, họ dùng gần một phần ba, khoảng một ngàn bốn trăm tỷ, để mua tài sản Mỹ, chủ yếu là Công khố phiếu Hoa Kỳ, là cho Mỹ vay tiền. Mà việc cho vay tiền có giảm phân lời đi vay và lãi suất tại Hoa Kỳ nên giúp Trung Quốc dễ xuất khẩu hơn. Một mục tiêu kia của việc cho vay tiền là yêu cầu về an toàn vì thị trường tín dụng Mỹ có đặc tính sâu và rộng hơn năm thị trường lớn nhất đi sau và có tính lưu hoạt cao, là dễ đổi ra tiền mặt đem về.

- Xin nói thêm về bối cảnh hay tương quan trao đổi thì thị trường tiêu thụ Mỹ chỉ có 12% là nhập khẩu mà nhập khẩu từ Trung Quốc chưa bằng gần 1% của Tổng sản lượng Hoa Kỳ trong khi lại là thị trường sinh tử cho kinh tế Trung Quốc. Thứ nữa, thế giới khi đó cứ nói đến việc Trung Quốc là chủ nợ số một của Mỹ mà quên rằng chủ nợ số hai với gần một ngàn ba trăm tỷ là Nhật Bản và nước Nhật không coi Hoa Kỳ là một đối thủ về chính trị. Bây giờ, ta mới bước qua chuyện chính trị ấy.

Nguyên Lam: Trước khi nói đến tương quan chính trị như ông vừa nhắc thì chúng ta thấy một tương quan kinh tế khá bất ngờ. Đó là kinh tế Trung Quốc lại cần thị trường Hoa Kỳ hơn là ngược lại, và sau khi đạt xuất siêu thì cũng đẩy tiền qua cho Mỹ vay để dễ bán hàng vào Mỹ! Thưa ông có phải vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là đúng vậy nhưng tình trạng ấy đã hết sau vụ khủng hoảng tài chính và Tổng suy trầm 2008-2009. Hoa Kỳ giảm nhập khẩu và xuất siêu của Trung Quốc hết tăng. Trong khi ấy, Ngân hàng Trung ương Mỹ lại cắt lãi suất tới gần số không rồi ban hành biện pháp bơm tiền gọi là “tăng mức lưu hoạt có định lượng” hay “quantitative easing” khiến tiền rẻ và nhiều mới tràn ngập các thị trường. Trước sự kiện xuất khẩu vào Mỹ thì giảm mà đô la Mỹ lại rẻ, doanh nghiệp Trung Quốc bèn đi vay bằng đô la. Thực tế thì nhiều quốc gia cũng có động thái tương tự nên tổng cộng các nước đã mắc nợ thêm khoảng chín ngàn tỷ đô la, là một con số không nhỏ.

- Nhưng kinh tế Mỹ đã tạm phục hồi dù chưa mạnh nên từ năm kia, Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ thông báo là giảm dần và chấm dứt việc bơm tiền rồi sẽ có lúc tăng lãi suất để trở về trạng thái bình thường nên từ năm ngoái, đồng Mỹ kim vọt lên giá. Khi đô la lên giá, và sẽ còn lên nếu lãi suất ngắn hạn được nâng khỏi số không, thì các quốc gia hay doanh nghiệp mà vay vào bằng đô la bị gánh nợ cao và đắt hơn. Vì vậy, yêu cầu trả nợ khiến các doanh nghiệp Trung Quốc cần nhiều đô la hơn. Đã thế, vì đoán trước là đô la còn lên giá so với các đồng bạc khác, kể cả đồng Nguyên, giới đầu tư hay các doanh nghiệp và đại gia có tiền bèn nghĩ đến việc bán ra đồng Nguyên để mua vào đô la trước khi tiền Mỹ lên giá.

- Ngần ấy yếu tố mới dẫn đến chuyện đồng Nguyên bị sức ép khiến Bắc Kinh phá giá vào tháng trước rồi dùng khối dự trữ bán ra đồng Nguyên để mua vào đô la nhằm thanh toán nợ nần. Dự trữ ngoại tệ vì vậy bị hao hụt cả trăm tỷ trong có một tháng. Đó là chuyện kho đạn của Bắc Kinh bị bào mỏng.

Nguyên Lam: Nhưng thưa ông, cho dù Bắc Kinh đã mất vài trăm tỷ và sẽ mất thêm thì phần còn lại của khối dự trữ đó cũng có thể là các khoản đầu tư ra ngoài. Huống hồ, như ông vừa phân tích, giới đầu tư hay các doanh nghiệp và đại gia có tiền của họ đều đã đoán trước rằng tiền Mỹ sẽ tăng nên mới bán ra đồng Nguyên để mua trước đô la. Như vậy thì mình có thể nói rằng việc tẩu tán tài sản ấy cũng mang ý nghĩa tích cực là đầu tư ra ngoài được không?


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là chẳng những lãnh đạo Bắc Kinh có mơ điều ấy mà còn nhắm vào nhiều mục tiêu sâu xa hơn. Nhưng họ có thành công hay không lại là chuyện khác.

- Trong trung hạn, theo quy ước chung là từ hai đến năm năm, thì các dự án xây dựng Con Đường Tơ Lụa trên đất liền và ngoài biển hoặc việc thành lập định chế tài chính như Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á Châu AIIB hay Tân Ngân hàng Phát triển của nhóm BRICS đều là loại đầu tư để bành trướng ảnh hưởng kinh tế và chiến lược của Trung Quốc. Bắc Kinh có thể đã dự trù 900 tỷ đô la cho giấc mơ đầu tư ấy và tin là kế hoạch lớn lao này sẽ nâng mức xuất khẩu của các tập đoàn kinh tế nhà nước Trung Quốc về thiết bị hay công nghệ, mà lại còn có lời lớn nếu đầu tư bằng đô la. Lý do là tiền Mỹ càng lên giá thì đồng bạc của các nước đối tác kia càng mất giá và chủ đầu tư là Trung Quốc sẽ thêm lợi.

- Trong dài hạn thì mối lợi ấy còn tăng gấp bội nếu Trung Quốc yêu cầu các nước đối tác thanh toán việc đầu tư hay đi vay bằng đồng Nguyên. Đấy là một cách đưa đồng bạc của họ vào thị trường quốc tế để sẽ thành một ngoại tệ giao hoán phổ biến trong toàn vùng Châu Á. Từ đó, Bắc Kinh tin rằng các nước kia sẽ dùng đồng Nguyên như một ngoại tệ dự trữ.

Nguyên Lam: Tức là Bắc Kinh vẫn có giấc mộng đưa đồng bạc của mình vào hàng ngoại tệ dự trữ sau này? Phải chăng là để cạnh tranh rồi sẽ có ngày thay thế đồng đô la Mỹ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Lãnh đạo Bắc Kinh thường có tham vọng lớn và có cái nhìn trường kỳ như vậy.

- Chúng ta nên trở lại chuyện vừa nói ở trên là quan hệ kinh tế Mỹ-Hoa chỉ là sự lệ thuộc của toa tầu Trung Quốc vào đầu máy Hoa Kỳ nên họ có nỗ lực ta nên gọi là “thoát Mỹ” chứ không thể tiếp tục cho đối thủ vay tiền để dễ mua hàng của mình. Thứ hai, họ tung tiền đầu tư ra ngoài mà lại đầu tư bằng Mỹ kim để chiếm lợi thế khi đô la lên giá. Thứ ba, họ có thể đòi các nước thanh toán bằng đồng Nguyên để xứ nào cũng ghim sẵn đồng bạc Trung Quốc trong kho. Nếu sau này, hay vào năm tới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF mà cho phép đồng Nguyên là một ngoại tệ trong cái giỏ dự trữ có đồng Mỹ kim, đồng Euro, đồng Bảng của Anh và đồng Yen của Nhât, thì sẽ càng củng cố tư thế quốc tế của đồng bạc Trung Quốc.

Nguyên Lam: Đấy có thể là giấc mơ của Bắc Kinh, nhưng thưa ông liệu họ có thành công được chăng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là ai chẳng mơ chuyện cung trăng, huống hồ lãnh đạo Bắc Kinh! Họ muốn quốc tế hóa đồng Nguyên và kiểm soát được lưu lượng đầu tư ra ngoài lẫn cả luồng đầu tư của nước ngoài vào Hoa lục. Nhưng thực tế thì họ gặp nhiều rủi ro lắm.

- Trước hết trong cái đà họ gọi là chủ động đầu tư ra ngoài thì vẫn có hiện tượng tẩu tán tài sản, chuyển ngân lậu và cả cái nạn rửa tiền cho các đại gia. Chẳng vậy mà nhiều ngân hàng ma bị Bộ Công an đóng cửa vì tội đã rửa hơn 60 tỷ đô la ở nước ngoài chứ không ít. Ta không quên trường hợp tương tự là khi Liên Xô cho đảng viên cán bộ đem tiền ra ngoài để bành trướng ảnh hưởng thì đồng tiền ấy không trở lại sau khi chế độ tan rã.

- Thứ hai, Chủ tịch Tập Cận Bình có thể mơ ngày đánh bạt ảnh hưởng của đống Mỹ kim bằng một đồng Nguyên được quốc tế hóa, nhưng việc một đồng bạc mà trở thành ngoại tệ giao hoán và dự trữ đòi hỏi nhiều biện pháp cải cách không dễ thực hiện. Một cách cụ thể, khi đồng bạc được thả nổi theo quy luật cung cầu thì cũng có nhiều thành phần bị thiệt hại. Họ không thiết tha với giấc mơ tốn kém của Tập Cận Bình nên tìm cách ngăn cản. Cho nên bên trong hệ thống lãnh đạo chìm và nổi đã có tranh luận và cả thanh trừng dưới danh nghĩa đả hổ diệt ruồi để trừ tham nhũng.

Nguyên Lam: Trong khi ấy, dường như kinh tế Trung Quốc lại bị suy trầm và khi cải cách để chuyển hướng thì càng khó giữ được đà tăng trưởng ngày xưa. Thưa ông, đấy có phải là một rủi ro phụ trội không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nhớ đến lời phát biểu của tỷ phú Warren Buffet, một nhà đầu tư xuất chúng của Hoa Kỳ, đại để là khi thủy triều rút trên bãi biển thì mình mới biết là ai không bận quần! Khi kinh tế suy trầm thì việc chuyển từ chiến lược lỗi thời sang một hướng khác mới làm các vấn đề tiềm ẩn bên dưới bùng phát lên trên.

- Mà lãnh đạo Trung Quốc lại đang ở vào thời điểm rất nhạy cảm về chính trị. Sau chuyến thăm viếng Hoa Kỳ tuần này, qua tháng 10, Chủ tịch Tập Cận Bình phải chủ trì Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ 5 của khóa 18 để thông qua Kế hoạch Năm năm thứ 13, từ 2016 tới 2020. Chẳng những Trung Quốc đang đi vào bước ngoặt mà bản thân và uy tín của họ Tập cũng gặp vấn đề, và thậm chí bị thách đố, sau mấy tháng lụp chụp về chính sách trên thị trường cổ phiếu rồi thị trường ngoại hối.

- Tuần qua, khi Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ chưa tăng lãi suất vào ngày Thứ Năm 17 thì Bắc Kinh đỡ bị sức ép trên đồng Nguyên nhưng chẳng vì vậy mà đã ra khỏi những khó khăn triền miên. Vì thế, cả kế hoạch gọi là dùng kho đạn là ngoại tệ dự trữ để chủ động đầu tư ra ngoài như một hình thái xuất khẩu đạn trong thế đối đầu với Hoa Kỳ có khi chỉ là ảo vọng.

Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn kỳ này.

Reader's Comment
9/24/201515:55:05
Guest
TQ muốn xủ dụng "kho đạn" của mình phải được TT Obama đồng ý mới được xài. Luật pháp HK cho phép TT đươc quyền (executive order) phong tỏa tất cả các trương mục của TQ nếu thấy hành vi của quốc gia này đe dọa cho sự sống còn của HK.

TQ là chủ nợ mà phải đi xin phép con nợ khi cần tiền !!! chuyện lạ nhưng có thật.
Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.