Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Kỳ 5)

09/02/201518:23:00(Xem: 8967)

Nguyên tác Anh ngữ: Olga Dror
Bản dịch Việt ngữ: Huỳnh Kim Quang

image002Như toàn văn lịch sinh hoạt tại Berleley đã phổ biến, Thứ Tư 25 tháng Hai 2015, nhằm ngày mùng bảy Tết Ất Mùi, sách “Mourning Headband for Huế” --từ nguyên tác tiếng Việt “Giải Khăn Sô Cho Huế” của Nhã Ca -- chính thức thành đề tài thảo luận tại Đại Học Berkeley, với hai diễn giả chính là Nhã Ca, người viết, và Olga Dror, người dịch.
February 2015
Mourning Headband for Hue
Reading - Literary | February 25 | 4-6 p.m. | 180 Doe Library
Featured Speaker: Nha Ca, writer
Speaker: Olga Dror, Associate Professor of History, Texas A & M University
Sponsor: Center for Southeast Asia Studies
This book event will highlight the new English-language translation of prominent Vietnamese writer Nha Ca's memoir Giai khan so co Hue, which was first published in 1969 as an eyewitness chronicle of the suffering of Vietnamese civilians caught in the city of Hue during the 1968 Tet offensive.
This event will include remarks on the translation by Prof. Olga Dror, the book's translator [in English], and commentary about the book itself by Nha Ca [in Vietnamese, with English language translation provided]
Nha Ca was born in Hue, Vietnam in 1939, but moved to Saigon after her marriage where she established a literary career. After the fall of South Vietnam in 1975, Nha Ca was incarcerated by the new national government. She was allowed to emigrate to the West with her family in 1989 and now lives in southern California.
Olga Dror was born in the Soviet Union and received an M.A. in Oriental Studies from Leningrad State University in 1987. She emigrated to Israel in 1989, and later moved to the U.S. to study Vietnamese history at Cornell University. She received her Ph.D. from Cornell in 2003, and has been a member of Texas A&M's faculty since 2004. Event Contact: cseas@berkeley.edu, 510-642-3609; 322 Wheeler Hall. Berkeley CA 94720 :: 510.642.3467 UC Berkeley.
Tuy giỏi nhiều ngôn ngữ và từng trực tiếp dịch bút ký truyền giáo ở Việt Nam của Linh Mục Adriano di Santa Thecla từ tiếng La Tinh, hay bút ký chạy loạn Huế Mậu Thân của Nhã Ca từ Việt ngữ sang Anh ngữ, công việc chính của Olga Dror là nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử Việt Nam tại Texas A&M University. Đó là lý do trong ấn bản Mourning Headband for Hue, ngoài phần dịch thuật, Olga Dror còn có thêm “Translator’s Introduction”, (Giới Thiệu của Dịch Giả) bổ cứu công phu, phân tích tỉ mỉ các quan điểm về Chiến Tranh Việt Nam và trận chiến Huế. Sau đây là bản dịch bài viết công phu của bà về “Giải Khăn Sô cho Huế” và tác giả Nhã Ca.

image007III. Tết Mậu Thân tại Huế và Giải Khăn Sô cho Huế trong bối cảnh của Mỹ

Đối với hầu hết người Mỹ, chiến tranh luôn luôn bao hàm ý thức chọn lọc, và ngay dù bây giờ những ký ức này đang nhạt phai.
John W. Dower, Japan in War and Peace [Nhật Bản trong Chiến Tranh & Hòa Bình]

Trong phát biểu này, John W. Dower, một học giả nổi tiếng về Nhật Bản, nói đến cuộc chiến tranh khác, Chiến Tranh Thái Bình Dương, và cách mà nó được chứng kiến và ghi nhớ bởi người Mỹ.(44) Nhưng tôi bị áp lực nặng nề để tìm ra sự mô tả đúng hơn để áp dụng cho chiến tranh tại Việt Nam.
Không thiếu tài liệu về Trận Tấn Công Tết - những hồi ký cùng với những tác phẩm văn chương, báo chí, và nghiên cứu được thực hiện bởi người Mỹ đã xuất hiện phong phú, trình bày những lợi thế khác nhau về sự dính dáng của người Mỹ và mô tả sự dư thừa kinh nghiệm của người Mỹ trong khi phân tích các biến cố và tìm kiếm để xác minh hay bác bỏ các bản dịch khác nhau về các sự kiện. Tuy nhiên, không đúng như vậy với quan điểm của người Việt về cuộc chiến. Có rất ít bản dịch Anh ngữ của các tác phẩm Việt ngữ từ bất cứ thời điểm nào. Ngay cả một số ít xuất hiện từ thời điểm chiến tranh giữa năm 1965 và 1975. Hầu hết những tác phẩm ấy đã được dịch trong và sau chiến tranh đến từ Miền Bắc. Những tiếng nói từ Miền Nam một cách cố tình hay vô tình đã bị chìm vào thinh lặng.(45)
Dù nhiều truyện ngắn Miền Nam đã được dịch và xuất bản tại Hoa Kỳ, chúng đã không đạt được bất cứ sự tiếp cận đáng kể nào đối với quần chúng độc giả. Miền Nam hãnh diện vì có nhiều nhà văn xuất sắc về sức thuyết phục chính trị và tư tưởng khác nhau, nhưng qua nhiều thập niên sau chiến tranh vẫn không có những tác phẩm lớn tìm được con đường đi vào tay của độc giả Mỹ.
Giải Khăn Sô Cho Huế là tác phẩm đầu tiên của kinh nghiệm chiến tranh được viết bởi một tác giả lớn xuất hiện tại Miền Nam trong thời chiến tranh. Sự có mặt của tác phẩm đã được chú ý bởi các nhà báo và học giả cũng như nhà xuất bản tiếng Anh với những khác biệt đáng kể. Trong khi các nhà báo như James Markham và Barbara Crossette và các học giả như Neil Jamieson nêu bật tinh thần chống chiến tranh của tác phẩm, thì những khuôn mặt văn học Việt Nam nổi tiếng như Võ Phiến lại nhấn mạnh đến đặc tính chống Cộng của nó.(46)
Sự thiếu vắng chú ý trước đây đối với văn học Miền Nam có lẽ phản ảnh nhận thức và trình bày thiên lệch về chiến tranh chỉ đứng ở một bên hoặc là Hoa Kỳ hoặc là Việt Cộng. Chính quyền và người dân Miền Nam - những người không theo Cộng Sản - đều bị Cộng Sản dán nhãn là “bù nhìn của Mỹ” hay được rất ít người Mỹ quan tâm bởi vì họ không vừa trong cái khung miêu tả lấn át về cuộc chiến. Tuy nhiên chiến tranh là rất sâu đậm đối với Miền Nam và người dân ở đó. Không có tiếng nói của họ, thì không thể đạt được sự hiểu biết về cả hai bên của cuộc chiến kéo dài và đau thương này.
Giải Khăn Sô Cho Huế lấp đầy khiếm khuyết nghiêm trọng trong nhận thức của chúng ta về những sự kiện xảy ra tại Huế vào năm 1968 và trong nhận thức của chúng ta về các tác phẩm tại Miền Nam. Cuốn sách này phơi bày một sự kiện không được công chúng Mỹ biết nhiều trong và sau chiến tranh đó là những hành động của Cộng Sản dẫn đến kết quả hàng ngàn thường dân bị bắn giết, bị đánh đập, và chôn sống trong các mồ chôn tập thể, những sự kiện kinh hoàng mà người sống sót đã từng cho là cuộc tàn sát.

Tết Mậu Thân Huế Trong Truyền Thông Mỹ Thời Chiến

Năm 1968 truyền thông Mỹ dĩ nhiên đưa tin về Trận Tấn Công Tết. Chiến cuộc được “mang vào nhà” khi nó xuất hiện hàng đêm trên truyền hình Hoa Kỳ. Nói rằng không có tin tức nào về cuộc tàn sát tại Huế trong truyền thông Mỹ là không đúng. Trong một số cơ quan truyền thông lớn như báo the New York Times, the Washington Post, the Los Angeles Times, và the Chicago Tribune, nhiều bài báo mô tả hay đề cập đến những tội ác của Cộng Sản đã làm trong thành phố.(47) Tuy nhiên, chúng bị khỏa lấp bởi những tin tức thổi phồng về các thành công của Cộng Sản trong trận tấn công và bàn luận về sự vô vọng của người Mỹ gây ra tại Việt Nam. Hơn nữa, vào lúc đó người dân Huế đã không biết có bao nhiêu người bị giết chết; họ chỉ biết rằng hàng ngàn người đã mất tích. Từ từ người dân địa phương bắt đầu khám phá và đào xới lên, từng cái một, những mồ chôn tập thể. Hàng trăm danh tánh được lấy khỏi danh sách “mất tích” để đưa vào loại “chết,” nhưng hàng ngàn người vẫn còn mất tích.(48)
Trong lúc sự khám phá những tội ác được phơi trần tại Huế, chú tâm của quần chúng Mỹ lại hướng tới các sự kiện quốc nội gây sốc của năm 1968: vào ngày 31 tháng 3 năm 1968, Tổng Thống Johnson tuyên bố sẽ không tái tranh cử; vào ngày 4 tháng 4 năm 1968, lãnh đạo phong trào dân quyền người Mỹ gốc Phi Châu, Mục Sư Martin Luther King Jr., bị ám sát chết, một sự kiện kích động nhiều ngày bạo loạn tại các thành phố Mỹ; ngày 6 tháng 6 năm 1968, ứng cử viên tổng thống Đảng Dân Chủ Robert F. Kennedy đã bị ám sát chết; vào tháng 8 năm 1968 đụng độ bạo động giữa cảnh sát và người biểu tình theo sau đại hội toàn quốc của Đảng Dân Chủ tại Chicago; và, cuối cùng, cuộc vận động tranh cử tổng thống huyên náo đưa đến kết quả Richard M. Nixon của Đảng Cộng Hòa đắc cử tổng thống. Số phận của các nạn nhân Huế không chọc thủng được những tin tức hàng đầu này.


Rồi, dù tại Huế người dân địa phương tiếp tục moi xới tìm xác chết những người mất tích qua tới tháng 9 năm 1968 và số tử thi được phát hiện gia tăng lên nhiều ngàn người, các tin tức bi thảm khác lại khỏa lấp biến cố Huế. Ngày 16 tháng 3 năm 1968, chưa đầy một tháng sau sự kiện tại Huế, một trung đội Lục Quân Hoa Kỳ vào làng Mỹ Lai và trong nhiều giờ đã giết từ ba trăm đến bốn trăm cư dân, gồm trẻ em, người lớn. Nhiều phụ nữ, kể cả những người già, đã bị hãm hiếp. Quân đội cố che giấu tin tức về Mỹ Lai, nhưng vào tháng 3 năm 1969 thông tin về sự kiện này bắt đầu bùng nổ.

Kỳ tới: Vụ tàn sát tại Huế Tết Mậu Thân bị biến thành một qua bóng chính trị

Ghi chú
(44) John W. Dower, “Race, Language, and War in Two Cultures,” [Chủng Tộc, Ngôn Ngữ, và Chiến Tranh Trong Hai Nền Văn Hóa], trong Nhật Bản Trong Chiến Tranh Và Hòa Bình: Tuyển Tập Các Bài Viết, bởi Dower (Nxb New Press, New York, 1993), trang 257.

(45) James Banerian, người đã học tiếng Việt tại Đại Học Southern Illinois University tại thành phố Carbondale và hiện cư ngụ tại San Diego, đã dịch vào năm 1979 một tuyển tập những truyện ngắn có lẽ được viết cho trẻ em bởi nhà văn nổi tiếng, Lê Tất Điều, người miền Bắc di cư vào Nam trong năm 1954 và trở thành nổi tiếng ở đó. Trong khi có thể được viết cho trẻ em, tác giả của lời nói đầu của tuyển tập, C. A. Boren, mô tả đặc tính của các truyện ngắn “giống như các truyện ngắn gọi là trẻ em của Mark Twain. [Chúng] có thể được đọc trên nhiều mức độ.” Tuyển tập được xuất bản bởi Hội Nghệ Thuật Việt Nam. Rồi, vào năm 1986, Banerian dịch một tuyển tập khác về những truyện ngắn Miền Nam, được xuất bản bởi Sphinx dưới tên sách Vietnamese Short Stories: An Introduction [Những Truyện Ngắn Tiếng Việt: Giới Thiệu]. Năm 1993 ông dịch rất tài tình phần đầu của tiểu thuyết của Nhã Ca là Đêm Nghe Tiếng Đại Bác, nhưng chẳng may nó dường như chưa tìm ra được một nhà xuất bản học thuật và thương mại chuyên nghiệp. Giống như hai bản dịch đầu này, tác phẩm này cũng rất khó tìm ra. Cuốn sách khác là tuyển tập được Nguyễn Ngọc Bích chỉnh sửa và có tựa đề War and Exile [Chiến Tranh và Lưu Vong] (Vietnamese PEN Abroad, East Coast, USA, 1969). Nó gồm một số bài viết trong thời chiến tranh. Thơ thì được tiêu biểu khá hơn: Nguyễn Chí Thiện, Hoa Địa Ngục, bản dịch. Huỳnh Sanh Thông (Council on Southeast Asian Studies [Hội Đồng Nghiên Cứu Đông Nam Á], Yale University, New Haven, Connecticut, 1984); Trần Dạ Từ, Writers and Artists in the Vietnamese Gulag [Văn Nghệ Sĩ Trong Trại Tù Lao Động Việt Nam] (Nxb Century Publishing Housem Elkhart, Indiana, 1990). Một số tác phẩm khác gồm các bài thơ từ miền Nam: Huỳnh Sanh Thông, ấn bản thứ nhất, An Anthology of Vietnamese Poems [Tuyển Tập Thơ Việt Nam](Nxb Yale University Press, New Haven, Connecticut, 1966); Philip Mahony, giám đốc, From Both Sides Now: The Poetry of the Vietnam War and Its Aftermath [Từ Cả Hai Bên Hiện Nay: Thơ Về Chiến Tranh Việt Nam và Hậu Quả Của Nó] (Scribner, New York, 1998). Năm 2013 một tác giả và dịch giả người Mỹ gốc Việt, Linh Dinh, xuất bản tuyển tập thơ Việt Nam được dịch với Chax Press có tên là The Deluge: New Vietnamese Poetry [Trận Hồng Thủy: Thơ Việt Nam Mới]. Nó gồm nhiều bài thơ từ miền Nam. Các tác phẩm học thuật thì bị giới hạn số lượng, dù chúng hấp dẫn và nhiều thông tin: Công Huyền Tôn Nữ Nha Trang, “Women Writers of South Vietnam” [Các Nhà Văn Nữ Miền Nam], trang 149-221; Hoang Ngoc Thanh, Vietnam’s Social and Political Development as Seen through the Modern Novel [Sự Phát Triển Xã Hội và Chính Trị Của Việt Nam Như Được Chứng Kiến Qua Tiểu Thuyết Hiện Đại] (Peter Lang, New York, 1991); Võ Phiến, Literature in South Vietnam [Văn Học Miền Nam]; Jamieson, Understanding Vietnam [Tìm Hiểu Việt Nam]; John C. Schaffer, “Phan Nhật Nam and the Battle of An Lộc” [Phan Nhật Nam và Trận Chiến An Lộc] Crossroads 13 (1999): trang 53-102. Trong cuốn sách này, Schaffer giới thiệu một tác phẩm từ một trong những phóng viên chiến trường Miền Nam nổi tiếng, Phan Nhật Nam, về một trong những trận chiến quan trọng nhất của chiến tranh Việt Nam, đã xảy ra vào năm 1972 và trong cách mà lực lượng Bắc Việt bị chận lại trên đường vào Sài Gòn. Schaffer cũng xuất bản cuốn sách rất lý thú và sâu sắc giới thiệu tình hình văn học Miền Nam: Vo Phien and the Sadness of Exile [Võ Phiến và Nỗi Buồn Lưu Vong] bản dịch. Võ Đình Mai (Nxb Southeast Asia Publications, Northern Illinois University, Dikalb, 2006). Cũng xin xem “Trịnh Công Sơn Phenonmenon” [Hiện Tượng Trịnh Công Sơn], Journal of Asian Studies [Tạp Chí Nghiên Cứu Á Châu], 66, số 3 (2007): trang 597-643. Phân tích của Schaffer về nhạc sĩ nổi tiếng này rất hữu ích cho việc tìm hiểu bối cảnh văn học Miền Nam trong thời kỳ chiến tranh.

(46) James M. Markham, “Saigon Writer Finds Everyone Guilty” [Nhà Văn Sài Gòn Thấy Mọi Người Có Tội], New York Times, ngày 8 tháng 11 năm 1973, trang 60; Barbara Crossette, “On Eve of Tet, Vietnam Tries to Ease Friction” [Đêm Trừ Tịch, Việt Nam Cố Làm Dịu Đụng Độ], New York Times, ngày 12 tháng 2 năm 1988, trang A9; John Gittelsohn, “Family Bound by Music: A Song for Christmas” [Gia Đình Gắn Chặt Bởi Âm Nhạc: Bài Hát Cho Giáng Sinh], Accent, ngày 23 tháng 12 năm 2001, trang, 1, 4. Trong các tác phẩm hàn lâm, Giải Khăn Sô Cho Huế được nhắc tới hay đề cập tới trong tác phẩm của Công Huyền Tôn Nữ Nha Trang, “Women Writers of South Vietnam” [Những Nhà Văn Nữ Của Miền Nam], trang 149-221; và Jamieson, Understanding Vietnam [Tìm Hiểu Việt Nam], trang 321-349. Võ Phiến nêu bật quan điểm khác biệt: Vo Phien, Literature in South Vietnam [Văn Học Miền Nam], trang 135, 147, 148, 175.

(47) Các sự kiện tại Huế cũng được tường thuật bởi các báo Anh và Ý. Chẳng hạn, Richard Oliver, “More Than 1,000 Civilians Slain in Battle for Hue: Murder of an Ancient Imperial City” [Hơn 1,000 Thường Dân Bị Giết Trong Trận Chiến Tại Huế: Vụ Giết Người Của Cố Đô], Guardian, ngày 23 tháng 2 năm 1968; “400 in Mass Killings” [400 Người Chết Trong Các Vụ Giết Người Tập Thể], Observer, ngày 10 tháng 3 năm 1968, trang 4; Tony Mockler, “The Mouning and Desolation of an Imperial City: Struggle for Hue Cost the Lives of 2,500 Civilians” [Nỗi Đau và Sự Tan Hoang của Cố Đô: Trận Chiến Tại Huế Lấy Đi Sinh Mạng Của 2,500 Thường Dân], Guardian, ngày 15 tháng 3 năm 1968; “Vatican Says Reds Killed Many Catholics in Hue” [Vatican Nói Rằng Nhiều Tín Đồ Công Giáo Tàn Sát Đẫm Máu tại Huế], bài viết từ L’Osservatore Romano [Roman Observer], nhật báo được xuất bản tại Vatican, được in lại trong báo the Washington Post, ngày 14 tháng 3 năm 1968, trang A21.

48) Đối với phân tích bản tin của báo chí về Trận Tấn Công Tết nói chung và các vụ giết người tại Huế nói riêng, xin xem Peter Braestrup, Big Story: How the American Press and Television Reported and Interpreted the Crisis of Tet 1968 in Vietnam and Washington, [Chuyện Lớn: Báo Chí và Truyền Hình Mỹ Tường Trình và Mô Tả Cuộc Khủng Hoảng Của Tết 1968 Tại Việt Nam và Hoa Thịnh Đốn Như Thế Nào], được xuất bản lần đầu vào năm 1977 bởi Westview Press và rồi tái bản bởi những nhà xuất bản khác vào năm 1977, 1978, 1983, và 1994.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Phiên toà xử người dân Đồng Tâm cùng cái án tử hình, chung thân dành cho con cháu cụ Kình đã phủ xuống tâm trạng u ám cho tất cả chúng ta. Nhưng sự việc không dừng ở đó, công an đã bắt giam nhà báo Phạm Đoan Trang, đồng tác giả của ấn bản “Báo Cáo Đồng Tâm”.
Ông mô tả mình là một người chủ trương “tôn trọng sự sống – (pro-life),” ủng hộ Tu chính án số 2 (quyền sở hữu vũ khí,) cổ võ một bộ máy chính quyền nhỏ, một kế hoạch quốc phòng mạnh mẽ, và là một người bảo thủ tôn trọng quốc ca” đã nói là hiện nay nước Mỹ không còn là một quốc gia dân chủ gương mẫu, và rằng “chúng ta cần phải có một Tổng Thống cho tất cả mọi người Mỹ, chứ không phải chỉ cho một nửa nước Mỹ.”
Nước. Nước từ đâu cứ dâng lên; lên rồi rút, rút rồi lại lên, ngập tràn đồng ruộng, ao hồ, vườn tược, làng quê, và phố thị của nhiều tỉnh thành miền Trung. Cuồng phong bão tố từ đại dương cuộn xoáy vào đất liền, kéo theo những cơn mưa xối xả ngày đêm.
Vấn đề không phải là để truy thù hay báo oán. Truyền thống văn hoá bao dung dân tộc Việt không cho phép bất cứ ai thực hiện điều đó. Tuy nhiên, quá khứ cần phải được thanh thoả – và không thể thanh thỏa bằng một (hay vài) cuốn truyện– để chúng ta đều cảm thấy được nhẹ lòng, và an tâm hơn khi hướng đến tương lai.
Làm thương mại, nhất là làm trong nghề buôn bán nhà cửa, muốn mọi người thương mình rất khó. Chín người thương mình cũng có một người ghét mình. Ăn ở cho mọi người thương mình chỉ có chân thành mới làm được.
Rừng điêu tàn thì đất nước suy vong; đây mới chính là cội rễ của vấn đề.bChúng ta cứu giúp đồng bào bị nạn nhưng chính chúng ta có ai nghĩ đến cội nguồn của vấn đề là nạn phá rừng cưa gỗ tàn phá đất nước. Tác động tới môi trường, phá rừng vẫn đang tiếp diễn và đang làm thay đổi khí hậu và địa lý.
Trưa ngày 16/10/2020, một thanh niên người Tchétchène, tên Abdoullakh Anzarov, đã cắt cổ Thầy giáo Sử Địa, ông Samuel Paty, ngay trước trường Trung học Le Bois d'Aulne nơi ông đang dạy, ở Thành phố Conflans-Sainte-Honorine, ngoại ô Tây-Bắc cách Paris chừng 40km Paris.
Tôi rất hãnh diện đã ủng hộ đạo luật lịch sử, mang 130,000 người tị nạn đầu tiên từ các nước Việt Nam, Lào, và Campuchia đến Hoa Kỳ vào năm 1975 và đã thông qua nghị quyết chào đón họ. Tôi đã bỏ phiếu chấp thuận gia tăng ngân quỹ để giúp những người Việt mới đến định cư và sau này tôi đã đồng bảo trợ cho đạo luật dẫn đến sự hình thành của hệ thống di trú theo quy chế tị nạn hiện hành. Tinh thần cứu giúp người tị nạn, chào đón họ đến với tự do sau khi trốn thoát chế độ đàn áp, là giá trị nền tảng của chúng ta và của Hoa Kỳ. Cũng do giá trị đó mà nước Mỹ trở thành biểu tượng của tự do và hy vọng, dẫn đầu thế giới không chỉ bằng sức mạnh của một cường quốc mà bằng hành động cụ thể làm gương cho thế giới. Trong vai trò tổng thống, tôi cam kết sẽ giữ cho nước Mỹ là quốc gia luôn chào đón người tỵ nạn và di dân, và chúng ta ghi nhận sức mạnh phi thường của Hoa Kỳ đến từ xã hội đa dạng và đa sắc tộc của chúng ta.
Hai Dự thảo “Báo cáo Chính trị” (BCCT) và “Tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XII”, gọi ngắn là “Xây dựng, chỉnh đốn đảng”, dành cho Đại hội đảng XIII vào đầu tháng Giêng năm 2021, đã bộc lộ bản tính tham quyền cố vị và tư duy giáo điều
Tại Hoa Kỳ, tháng 10 được chọn là tháng nâng cao hiểu biết về ung thư vú. Theo thông tin từ trang web của Hiệp Hội Ung Thư Vú Quốc Gia (National Breast Cancer Foundation), trung bình cứ 2 phút thì có một phụ nữ được chẩn đoán bị ung thư vú tại đất nước có hệ thống y tế đứng đầu thế giới này. Theo trang web của Hội Ung Thư Việt Mỹ (Vietnamese American Cancer Foundation), ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ người Việt nhưng lại có rất ít thông tin về những gì người mắc bệnh đã từng trải qua. Đây một tổ chức vô vụ lợi có văn phòng tại miền Nam Cali được thành lập từ năm 2002 với sứ mệnh ủng hộ và tranh đấu cho quyền lợi của bệnh nhân ung thư.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.