Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Du Tử Lê In Sách Mới: Phác Họa 20 Năm Văn Học

03/01/201500:00:00(Xem: 4148)
Nơi đây, nhà thơ Du Tử Lê đóng vai người nghiên cứu văn học nghệ thuật. Đúng ra, thi sĩ viết mang tính truyện bên cạnh các nhận xét sắc bén, và do vậy, người đọc dễ tiếp cận, mỗi lần đọc về một tác giả dưới ngòi bút Du Tử Lê là độc giả có thể hình dung được một khoảng không gian hoạt động của văn học một thời quá khứ: Tác phâm nghiên cứu tựa đề "Phác họa toàn cảnh sinh hoạt 20 năm văn học nghệ thuật miền Nam (1954-1975) Tập 1" đã phát hành trên toàn cầu.

blank
Du Tử Lê và bìa sách.

Tập sách dày 650 trang, gồm nhiều lĩnh vực văn học nghệ thuật, viết về nhiều tác giả.

Trong Chương 1, về Âm Nhạ, nhà thơ Du Tử Lê viết về Anh Bằng, Bạch Yến, Châu Kỳ, Cung Tiến, Hoàng Trọng, Hoàng Thi Thơ, Hoàng Quốc Bảo, Khánh Lý, Lam Phương, Lâm Tuyền, Minh Trang, Tình ca Ngô Thụy Miên và thơ Nguyên Sa, Phạm Đình Chương, Thái Thanh, Thanh Bình, Trầm Tử Thiêng, TRần Thiện Thanh, Trúc Phương, Tuấn Khanh, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Y Vân.

Chương 2, về Báo Chí, Truyền Thanh và Xuất Bản.

Nhà nghiên cứu văn học Du Tử Lê viết về Chu Tử, Nguyên Sa và Sáng Tạo, hiện tượng văn nghệ học sinh qua phỏng vấn Ngọc Hoài Phương, Trần Phong Giao, Thế Nguyên, về xuất bản của Miền Nam.

Chương 3 là về Điện Ảnh, Sân Khấu Cải Lương.

Viết về nữ tài tử Kiều Chinh, mà Du Tử Lê gọi là “người đem vinh dự về cho tập thể Việt.” Và phỏng vấn soạn giả Yên Lang về lược sử thành hình Cải Lương.

Chương 4 là về Hội Họa, Điêu Khác.

Du Tử Lê viết về Duy Thanh, Đinh Cường, Mai Chửng, Nghiêu Đề, Nguyên Khai, Tạ Tỵ.

Chương 5 là Thi Ca.

Du Tử Lê viết về các nhà thơ: Cung Trầm Tưởng, Đỗ Quý Toàn, Kim Tuấn, Nhã Ca, Nguyên Sa, Nguyễn Lương Vỵ, Thành Tôn, Thanh Tâm Tuyền, Trần Dạ Từ, Tuệ Mai.

Chương 6 là Văn Xuôi.

Du Tử Lê viết về Bình Nguyên Lộc, Doãn Quốc Sỹ, Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Xuân Hoàng, Trần Hoài Thư, Trần Thị Ngh., Văn Quang, Võ Phiến, Vũ Khắc Khoan.

*

Để thấy được các Du Tử Lê viết nghiên cứu văn học, chúng ta nơi đây có thể trích ra vài đoạn điển hình.

Như trong phần về về nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo, nơi trang 83, Du Tử Lê viết:

“Hoàng Quốc Bảo, Dòng Nhạc Như Chiếc Cầu Tâm Linh Nối Liền Đời Thường Và Nẻo Đạo

Xuất hiện sau những Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên một vài năm, và, sau Trịnh Công Sơn khoảng sáu, bảy năm; nhưng nếu lấy con số 10 năm làm thước đo, đếm một thế hệ, thì Hoàng Quốc Bảo là người cuối cùng, lấy được chiếc vé lên chuyến tầu âm nhạc, chung với những tên tuổi vừa kể. Khi chuyến tầu âm nhạc đi khắp cùng đất nước kia, chỉ còn một vài ghế trống.

Tuy nhiên, nếu Trịnh Công Sơn rướn mình, giơ cao ngọn cờ kêu đòi chấm dứt chiến tranh; Vũ Thành An với những bài không tên viết cho một (hay những) cuộc tình tuyệt vọng, Từ Công Phụng với nỗ lực đi tìm vàng son, thuở trước... thì, Hoàng Quốc Bảo, tự những nhát cuốc vỡ đất sáng tác đầu tay, đã cho thấy khuynh hướng xới sâu cõi hư không. Đời giả tạm.

Ngay với những tình khúc rực rỡ chia ly, nát nhàu thống khổ, ở đâu đó, giữa những hợp âm được nối kết bởi Hoàng Quốc Bảo, vẫn mang tới cho người nghe, cảm nhận muốn vươn, thoát khỏi những trói buộc hạn hẹp của kiếp người. Tham vọng xóa bỏ sự phân biệt hình/tướng. Đem nhị nguyên đúng/sai, thành/bại, phải/trái... về nhất thể.

Bằng âm nhạc, tự những năm cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, họ Hoàng đã thiết lập cho mình (hay cho người), những chiếc cầu tâm linh, bắc qua đôi bờ nhân gian và, lẽ đạo.”(hết trích)

Văn phê bình của Du Tử Lê cũng thơ mộng dị thường. Hiếm nhà bình luận như thế.

*

Hay như khi họa sĩ Nguyên Khai được mô tả dưới ngòi bút Du Tử Lê, trích:

“Nguyên Khai: “Màu sắc là dầu được thắp lên bởi trái tim...

Vào sâu hơn cõi-giới hội họa của Nguyên Khai / Nguyễn Bửu Khải, tôi muốn lập lại ghi nhận của một họa sĩ hiện cư ngụ tại miền bắc California, như sau: “Tranh Nguyên Khai vừa thể hiện sự chuyên nghiệp, điêu luyện, vừa đẹp, đa dạng, nhiều thể loại và không chú tâm vào một đề tài nhất định nào.”

Tôi cho nhận định trên rất đúng với trường hợp Nguyên Khai. Từ những chạm mặt đầu tiên với sắc màu và đường nét, thổn thức trên lụa; ông chuyển qua tình yêu thao thiết dành cho sơn dầu. Những năm tháng ở quê người, họ Nguyễn say mê thực hiện loạt tranh sơn mài bằng loại sơn dùng cho xe hơi. Sau đó, ông lại tạo những “trận bão trong tách trà” dư luận; khi sáng tác và triển lãm một loạt tranh có tên “mixed media”. Là loạt tranh được hoàn tất bởi tất cả những vật liệu phế thải, từ con chip của thời điện toán, tới những miểng đồng, miểng sắt, thép gai, thiếc vụn…Hay một vỏ bom, miểng vỡ lựu đạn, nhắc nhở người thưởng ngoạn sự hiện diện của chiến tranh vẫn còn đâu đó trên mặt địa cầu này; quyện với sơn dầu hoặc acrylic…

Ở giai đoạn nào, thời kỳ nào, Nguyên Khai cũng cháy cạn đam mê mình, trong những phiêu lưu tìm kiếm, tưởng chừng không ngày chấm dứt; như chính ông từng phát biểu.

Tuy nhiên, với tôi, người nghệ sĩ dù thường trực ném mình vào những tìm kiếm mới lạ, với những khao khát phiêu lưu đi về chân trời, thì lắng, sâu nơi tiềm thức, y vẫn nghiêng nặng một cảm thức bất khả tư nghì nào đấy.”(hết trích)

*

Hay khi Du Tử Lê viềt về nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, đã gợi nhớ về cơ duyên hơn 4 thập niên trước, ở trang 449-450:

“Nguyễn Lương Vỵ, Bi Kịch Và Thi Ca,

Cách đây 44 năm, nhà văn Trần Phong Giao, Thư ký tạp chí Văn, Saigon, cho đăng một bài thơ chỉ có 4 câu. Hơi thơ được tác giả cố tình nén lại, để sức bật (dội) mạnh mẽ, gây ngơ ngẩn người đọc. Đó là bài “Nửa đêm thức dậy nhìn mây trắng” của Nguyễn Lương Vỵ. Một tác giả xa lạ hoàn toàn với sinh hoạt thi ca thời đó:

“Lung linh hồn quê cũ
Mây trắng phủ khắp trời
Nhớ trăng khô hết máu
Muôn trùng dặm núi ơi!”

Ít lâu sau, (đầu năm 1970?), cũng tạp chí Văn lại cho đăng thêm một bài thơ khác của họ Nguyễn. Bài “Cảm hứng”:

“Biển đắp một tòa sương
Lạnh đôi bờ vú nhỏ
Nàng tắm trong tịch dương
Núi gầm lên khóc nhớ…”

Vẫn tứ tuyệt. Vẫn chủ tâm nén hơi. Kiệm lời. Qua thơ, họ Nguyễn đã sớm cho thấy nội lực chữ nghĩa, hình ảnh rất riêng của mình.

Một hôm ghé tòa soạn Văn, tôi hỏi Trần Phong Giao về tiếng thơ này. Bạn tôi bảo:

“Tao hoàn toàn không biết tí gì về người này. Nhưng tao nghĩ, nhiều phần chắc phải ở lứa tuổi chúng ta….” Rồi bạn tôi hỏi lại tôi, nghĩ sao về tiếng thơ ấy?

Tôi nói, tôi đồng ý với ông, tác giả không còn trẻ, cũng không phải là người mới bước vào thế giới chữ nghĩa. Để minh chứng cho nhận xét của mình, tôi nói:

“Nếu là một người viết non tay thì với hai câu “Nhớ trăng khô hết máu/Muôn trùng dặm núi ơi!” trong bài “Nửa đêm thức dậy nhìn mây trắng”, sẽ dễ dàng, “nhậm lẹ” thay chữ “trăng khô” thành “trăng vàng”. Và “dặm núi” sẽ là “dặm trường”. Bài thứ hai cũng thế. Ngoài câu “Biển đắp một tòa sương/Lạnh đôi bờ vú nhỏ” hình ảnh lạ, thì câu cuối “Núi gầm lên khóc nhớ…”, ở một cây bút trẻ, sẽ “nhanh nhẩu” viết “Núi kêu lên nức nở…”

Vẫn tình cờ, năm 1973, tôi không nhớ ai đã cho tôi một Tập San Văn Chương. Trong số báo này, tôi gặp lại Nguyễn Lương Vỵ (Một tác giả mà cả tôi lẫn Trần Phong Giao đều cho, phải ở cỡ tuổi chúng tôi) bài thơ nhan đề “Âm nhạc” - - không-tứ-tuyệt của họ Nguyễn. Và bốn câu cuối (như một thứ tứ tuyệt) lại khua động tôi:

“Ta ôm trời đất sầu vô hạn
Thương nhớ Thanh Xuân mộng úa tàn
À ơi! Dâu bể chưa khô cạn
Chưa dứt tâm tư, vọng ngút ngàn…”

Mãi gần đây, ở quê người, gặp tác giả, tôi mới biết, khi viết bài “Nửa đêm thức dậy nhìn mây trắng." họ Nguyễn 16 tuổi. Tôi càng ngạc nhiên hơn biết tác giả của ba bài thơ lộng-lẫy-đất-trời kia, có một đời thường “dữ dội”, vượt xa tưởng tượng…

...

Đó là thời gian ông đã vươn lên từ bãi rác Chợ Cồn, trở thành người đã có trong tay những bằng cấp, đủ kiêu hãnh ngẩng nhìn đời.

Đó là thời gian sau khi ông đã mang về cho người mẹ góa bụa ở vậy, mảnh bằng cử nhân. Nước mắt bà lần này chắt ra, không biết có còn pha máu? Nhưng chắc hẳn đó là những giọt lệ hạnh phúc. Mãn nguyện. Hãnh diện về đứa con trai trưởng, sớm côi cút của bà.

Một lần xúc động, tôi hỏi họ Nguyễn: Điều gì giúp ông đứng dậy? Bước tới, như một con người thành tựu, với tất cả lương tri, bao dung, độ lượng? Ông đáp: Thi ca.”

*

Nhìn về nhà văn Nhã Ca, nhà thơ Du Tử Lê nhận định về nhà văn nữ này:

“Nhã Ca, Nhà Văn Nữ Nói Không Với Dục Tính

...Từ thi ca với tác phẩm đầu tay “Nhã Ca Mới”, bước qua văn xuôi, với tác phẩm thứ nhất được xuất bản là truyện dài “Đêm Nghe Tiếng Đại Bác,” người ta không thấy có một khoảng cách nào giữa văn xuôi và, thi ca của Nhã Ca. Nếu không muốn nói, đó chỉ là bước song hành, hoặc hai dòng chảy của một tài năng lớn, người nữ.

Trong sinh hoạt 20 năm văn học, nghệ thuật của miền Nam, sự kiện một thi sĩ đắm mình trong thử thách giữa ngọn triều văn xuôi hoặc ngược lại, là điều bình thường.

Ở một chừng mực nào đó, cũng có một số tác giả được ghi nhận là thành công. Cả hai lãnh vực. Nhưng, như Nhã Ca thì không.

Kể từ ngày miền Nam có Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc, trải qua hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, một nhà văn hay nhà thơ, được chọn để trao giải vốn đã khó, nói chi tới việc một tác giả như Nhã Ca, trong hai năm (1965, 1966) được chọn để trao liên tiếp hai giải Văn Chương Toàn Quốc cho cả hai bộ môn thi ca và, văn xuôi.

Cũng trong khoảng thời gian từ 1965 tới 1970, sinh hoạt văn xuôi của miền Nam trở nên rộn ràng, nhiều mầu sắc hơn nữa, với sự xuất hiện thêm nhiều cây bút nữ trên các diễn đàn văn chương.

Mỗi xuất hiện đó, là một nhan sắc. Riêng. Mỗi đi tới kia, là một phong cách. Khác.

Tuy nhiên, nhiều hay ít, những cây bút nữ đó cũng có chung một điểm gặp gỡ. Đó là phạm trù tính dục trong văn chương.

Tính dục được ghi nhận từ người nữ: Vừa như một “giải phóng” người nữ khỏi những vòng rào, những vạch phấn khoanh vùng; san bằng khoảng cách nam/nữ; vừa như một từ trường có lực thu hút tò mò không nhỏ, nơi người đọc.

Khuynh hướng hay trào lưu này, nếu tôi được phép nói như vậy, hoàn toàn không có Nhã Ca. Nói cách khác, Nhã Ca là nhà văn nữ của văn chương miền Nam hai mươi năm, đã nói không, với dục tính....”(hết trích)

*

Đây là tác phẩm thứ 61 của Du Tử Lê. "Phác họa toàn cảnh sinh hoạt 20 năm văn học nghệ thuật miền Nam (1954-1975)" được mô tả là kết quả của bảy năm viết hàng tuần cho nhật báo Người Việt, trang VHNT. Dòng VHNT miền Nam tuy ngắn ngủi, nhưng lại quá phong phú, rực rỡ, nên nhà thơ Du Tử Lê, chỉ chọn những bài viết, những tác giả, những nhân vật mang tính tiêu biểu, cùng những dữ kiện có tính cách soi sáng phần nào những góc tối, hay góc khuất của 20 năm sinh hoạt VHNT miền Nam.

*Nhà xuất bản Người Việt ấn hành, giá bán 32 Mỹ Kim, sách dày 649 trang.

ĐÃ PHÁT HÀNH.

*Mua Sách có chữ ký của tác giả, liên lạc với phanhanhtuyen@gmail.com

hoặc:

Tuyen Le

12751 Lucille Ave

Garden Grove, CA 92841

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
Có một câu thần chú mới mà các nhân viên FBI đã khuyên tất cả chúng ta phải học thuộc và nên áp dụng trong thời đại này. Thời đại của cao trào xả súng đang diễn ra khắp nơi ở Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết hữu ích của nữ ký giả Alaa Elassar của đài CNN đang được đăng tải trên liên mạng. Cô đã nêu ra những lời khuyên rất cần thiết cho chúng ta, căn bản dựa trên những video clips huấn luyện và đào tạo nhân viên của FBI.
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.