Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
EagleBrand-Vietbao-1230x152-12042022-viet

Cập Nhật Về Cách Điều Trị Kích Thích Tố Thay Thế

07/09/200200:00:00(Xem: 5047)
Gần đây, chúng ta thường nghe thấy nói nhiều về tin tức dùng kích thích tố (hormone) trị liệu cho phụ nữ mãn kinh. Tuy nhiên đa số bệnh nhân còn thắc mắc. Những câu hỏi đặt ra là có nên uống kích thích tố nữa không" hoặc lo ngại những hậu quả của thuốc.
Trong bài này, chúng tôi xin trình bày và tìm hiểu vì sao lại có những sự việc kể trên.
Trước hết, chúng ta biết rằng đó là phản ảnh kết quả cuộc nghiên cưú gần đây về vấn đề trị liệu kích thích tố Estrogen và Progestins (Hormone Replacement Therapy, HRT) cho phụ nữ mãn kinh. Chương trình khảo cứu Women's Health Therapy lúc đầu chỉ đặc biệt muốn tìm hiểu xem HRT có lợi gì cho cơ quan tim mach khi phụ nữ uống kích thích tố (hormone). Dự án khảo cưú gồm có 16,608 phụ nữ mãn kinh tuổi từ 50 tới 79. Tất cả mọi phụ nữ đều vẫn còn tử cung. Dự án định kéo dài trong 8 năm, nghĩa là tới 2005. Nhưng sau đó Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ (National Institute of Heath, NIH) đã bắt buộc cho ngưng lại ở thời điểm 5.2 năm. Lý do chính là bởi phân tích kết quả khảo cứu sơ khởi cho thấy có vẻ nhiều nguy cơ xấu hơn là những lợi ích cho bệnh nhân. Thực vậy, nguy cơ về tim mach tăng lên 29%. Nguy cơ ung thư vú tăng 26%, nguy cơ nghẹt tĩnh mach (venous thromboembolism) tăng gấp đôi và nguy cơ tai biến mạch máu não (stroke) tăng 41%. Trong khi đó, nguy cơ ung thư ruột già (colorectal cancer) giảm 37% và nguy cơ gẫy xương háng giảm 24%.
Tuy nhiên, theo Bác sĩ Frederick Sherman, cũng là giáo sư tại Đại Học Y Khoa Mount Sinai, Nữu Ươc, thì kết quả khảo cứu với giá trị cơ nguy tuyệt đối coi như là nhỏ. Nghĩa là trong số 1250 phụ nữ được trị liệu bằng HRT, trong 5 năm liên tục, chỉ có thêm một người bị ung thư vú. Hay nói rõ hơn, cứ 100 phụ nữ mãn kinh trị liệu bằng HRT, trong 5 năm, chỉ có thêm một người bị công phạt.
Điều quan trọng nhất là phải cân nhắc lợi hại trong việc trị liệu, tùy theo từng cá nhân, và bệnh nhân sẽ là người quyết định tối hậu sau khi bàn luận với bác sĩ.
Bác sĩ Sherman phân loại 3 nhóm bệnh nhân như sau:
Nhóm thứ nhất (1) gồm những phụ nữ trong thời kỳ tắt kinh bị những triệu chứng như mặt đỏ phầng, mồ hôi đổ ban đêm, âm hộ bị khô, khó ngủ, tính tình thay đổi, tiểu són.
Nhóm thứ hai (2) gồm những phụ nữ mãn kinh, đã từng trị liệu bằng kích thích tố thay thế estrogen và progestins (HRT) trong vòng 3 năm.

Nhóm thứ ba (3) gồm những phụ nữ đã dùng kích thích tố trị liệu thay thế được vài chục năm nay. Nhưng bây giờ không biết có nên tiếp dùng thuốc nữa không"
Theo lời khuyên của giáo sư Sherman thì trước hết cần tận dụng những lợi ích của thuốc tới mức tối đa, và cố gắng giảm những công phạt của thuốc tới mức tối thiểu. Vì phải tránh những nguy hiểm dùng thuốc, nhất là việc dùng thuốc ở đây không phải để chữa bệnh mà hướng nhiều về mục đích phòng ngừa.
Phải cân nhắc những nguy cơ tim mạch (risks of coronary heart diseases) và nguy cơ nghẹt phổi (pulmonary embolism) trong việc điều trị giảm những triệu chứng bệnh mãn kinh của phụ nữ.
Cũng nên biết rằng nguy cơ bệnh tim mach và nghẹt phổi khởi thủy khi mới bắt đầu dùng kích thích tố thay thế (HRT). Và nguy cơ tai biến mach máu não (stroke) bắt đầu từ 1 tới 2 năm sau khi dùng kích thích tố trị liệu.
Những bệnh nhân thuộc nhóm một (1) cần phòng ngừa giảm thiểu những nguy cơ bệnh tim mach và nguy cơ gẫy xương, đồng thời phải chụp hình vú (mammogram) và soi ruột già định kỳ.
Cũng theo Bác sĩ Sherman, ông khuyên nên ngưng kích thích tố trị liệu thay thế HRT cho những bệnh nhân trong nhóm (2) và (3). Vì trong nhữbg trường hợp này, nguy cơ bệnh tim mach, tai biến mach máu não và nghẹt tĩnh mạch (venous thromboembolism) vẫn có thể tiếp tục tăng cao. Những người đã từng dùng kích thích tố trị liệu quá 4 năm thì coi như vẫn có thể có vấn đề nguy cơ ung thư vú.
Ngoài ra, bệnh nhân nên thay đổi lối sống để giảm nguy cơ bệnh tim mach như tập thể dục thường xuyên, bỏ hút thuốc lá, uống aspirine, và uống thuốc giảm cao mỡ, cholesterol. Phòng ngừa bệnh loãng xương bằng cách uống chất vôi (Calcium), uống sinh tố D (Vitamin D), và thuốc biphosphonates.
Tóm lại, những ý kiến kể trên chỉ là ý kiến riêng của một bác sĩ (Bác sĩ Sherman). Bạn nên hỏi thêm ý kiến bác sĩ gia đình hay bác sĩ sản khoa. Bạn cũng có thể tìm đọc thêm chi tiết bài của bác sĩ Sherman nói về Hormone Replacement Therapy đăng trong báo Y Khoa Geriatrics, 57: 7, 2002 hoặc tường trình khác: Combination HRT, Not for long term use, đăng trong Women's Health in Primary Care, 5: 491, 2002.
Trần Mạnh Ngô, M.D., Ph.D., F.A.A.F.P.; E-mail: Tran.Ngo@verizon.net; Diện thoại: (714) 547-3915.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Cơ Quan Kiểm Soát Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã chuẩn thuận loại thuốc điều trị đầu tiên có khả năng trì hoãn – có thể trong nhiều năm – sự khởi phát của bệnh tiểu đường Loại 1, một căn bệnh thường xuất hiện ở thanh thiếu niên.
Nước Mỹ có vấn đề về uống rượu. Theo nghiên cứu mới của Trung tâm Kiểm soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC), việc tiêu thụ rượu quá mức đã góp phần gây ra ước tính một phần tám số ca tử vong, hay12.9 phần trăm trên tổng số người Mỹ từ 20 đến 64 tuổi. Uống quá nhiều rượu cũng là nguyên nhân gây ra 1/5 số ca tử vong - 20,3% - ở người Mỹ từ 20 đến 49 tuổi, theo nghiên cứu được công bố vào tuần trước trên tạp chí JAMA Network Open.
Vắn tắt, người càng lớn tuổi, số lượng tế bào thần kinh giảm và khả năng về tâm trí sẽ giảm đi. Một số triệu chứng nhẹ như hay quên, hay lẫn lộn có thể chấp nhận như là sự lão hoá bình thường. Khi các triệu chứng này gia tăng, tiến triển đến mức ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật, lúc đó người ta dùng từ "dementia" hay "mất trí" theo nghĩa đen, hay bịnh lẫn. Có nhiều nguyên nhân cho dementia. Bịnh Alzheimer là nguyên nhân của phần lớn người mắc dementia. Một số nguyên nhân dementia chữa được, chưa có thuốc thay đổi được bịnh Alzheimer (disease-modifying drugs), chỉ có những thuốc giúp giảm triệu chứng thôi (symptomatic treatment).
Các Telomere* đóng một vai trò thiết yếu trong việc xác định số lần một tế bào có thể phân chia. Telomere là 1 đoạn DNA có trình tự (TTAGGG) lặp lại nhiều lần ở đầu mỗi nhiễm sắc thể, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ phân tử DNA khỏi các tác động gây hại và sự mất ổn định của hệ genome. Trong chu trình của một tế bào bình thường, quá trình phân bào sẽ khiến cho một phần của telomere bị mất đi. Khi độ dài của telomere đạt tới mức giới hạn thì tế bào sẽ tự chết theo chương trình (apotosis**). Do vậy, độ dài của telomere có thể coi như chiếc đồng hồ sinh học để xác định “tuổi thọ” của tế bào và các cơ quan.
Mùa đông đang đến rất nhanh và thời tiết lạnh hơn, điều quan trọng hơn bao giờ hết là quý vị phải tiêm vắc-xin và liều tăng cường chống lại COVID-19 cho bản thân và gia đình. Đối với những người từ 65 tuổi trở lên, việc tiêm liều tăng cường COVID-19 loại cập nhật là cực kỳ quan trọng vì nguy cơ mắc bệnh nặng do COVID-19 tăng lên theo tuổi tác.
Việc các bác sĩ có thể nhìn xuyên thấu bên trong cơ thể bệnh nhân mà không cần phải rạch một đường nào từng là một khái niệm thần kỳ. Cho đến nay, hình ảnh y tế (medical imaging) trong khoa quang tuyến đã trải qua một chặng đường dài, và các kỹ thuật mới nhất dựa vào trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ còn tiến xa hơn nữa: chúng khai thác khả năng tính toán khổng lồ của AI và khả năng học hỏi vô giới hạn để tận dụng triệt để các phương pháp dò chụp trên cơ thể, tìm ra những điều khác thường mà mắt người có thể bỏ sót.
Hội đồng Nobel tại Viện Karolinska ngày 3/10/22 đã quyết định trao Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học năm 2022 cho Svante Pääbo vì những khám phá của ông liên quan đến bộ gen của những hominin (cũng thuộc giống người, tương tự như “người khôn” [homo sapiens] chúng ta hiện nay) đã tuyệt chủng và sự tiến hóa của loài người. Svante Pääbo sinh ngày 20 tháng 4 năm 1955 tại Stockholm, Thụy Điển. Mẹ của ông là nhà hóa học người Estonia Karin Pääbo (1925–2013), từng trốn thoát khỏi Estonia bị Liên Xô xâm lược vào năm 1944 và đến Thụy Điển tị nạn trong Thế chiến thứ hai. Ông là con ngoại hôn của nhà hóa sinh người Thụy Điển Sune Bergström (1916-2004), và cha ông cũng từng được giải Nobel về Sinh lý học hoặc Y học (năm 1982).
Tại văn phòng VM Clinic tọa lạc số 8251 Westminster Blvd, Westminster CA 92683 (phòng mạch BS. Chính mai và BS. Thảo Võ.), vào lúc 8 giờ sáng Chủ Nhật ngày 30 tháng 10 năm 2022, VM CLINIC COMMUNITY WALK 2022 đã tổ chức chương trình đi bộ “Sức Khỏe Cho Cả Nhà.” Chương trình đi bộ còn có sự hợp tác của một số các đơn vị y tế như Hội Ung Thư Việt Mỹ, OC Autism Foundation, Lavina Pharmacy, Excel Rehab and Wellness, SJVRC (San Jose Vietnamese Running Club), Regal Medical Group, ADOC, Lakeside, Physical Therapy, Hội Bảo Vệ Sức Khỏe Tâm Thần, v.v…
Phát hiện ung thư từ sớm, trước khi nó di căn, có thể là vấn đề sống còn. Đây là lý do tại sao các bác sĩ khuyên chúng ta nên thường xuyên truy tầm một số loại ung thư phổ biến bằng nhiều phương pháp khác nhau. Ví dụ: nội soi đại tràng để tầm soát ung thư ruột kết, hay chụp nhũ ảnh để truy tầm ung thư vú. Dù quan trọng, nhưng cũng khó để có thể làm tất cả các xét nghiệm, bởi vì chúng tốn kém và đôi khi còn khiến bệnh nhân khó chịu. Nhưng mọi chuyện sẽ khác nếu có một xét nghiệm máu duy nhất có thể truy tầm được hầu hết các loại ung thư phổ biến cùng lúc. Đây là tương lai đầy hứa hẹn của các xét nghiệm phát hiện sớm đa ung thư (multicancer early detection tests – MCED). Năm nay, Tổng thống Joe Biden đã xác định việc phát triển các xét nghiệm MCED là một ưu tiên của Cancer Moonshot, nỗ lực liên bang trị giá 1.8 tỷ đô la nhằm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau ung thư cũng như đang sống chung với b
Ngày 14 tháng 9, 2022, Tổng Giám đốc WHO, Tedros Adhanom Ghebreyesus tuyên bố thế giới chưa bao giờ ở trong tình trạng tốt hơn để chấm dứt đại dịch COVID-19 và kêu gọi các quốc gia tiếp tục nỗ lực chống lại loại virus đã giết chết hơn sáu triệu người. Tuy nhiên, ông nói: “Chúng ta vẫn chưa đến đó”. Đây được xem là nhận xét lạc quan nhất từ cơ quan Liên Hiệp Quốc kể từ khi WHO tuyên bố COVID-19 là tình trạng khẩn cấp quốc tế và gọi virus này là đại dịch vào tháng 3 năm 2020 (VOA).
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.