Hôm nay,  

Mỹ-Nga Nháng Lửa

07/09/201300:00:00(Xem: 19932)
Mâu thuẫn Nga Mỹ ở một nơi bất ngờ...

Như một tay mơ chính hiệu, Tổng thống Barack Obama tin vào sự sùng bái mà truyền thông cánh tả dành cho ông, tưởng rằng mình mở ra một kỷ nguyên mới, và như một đấng Cứu Thế sẽ đẩy lui thủy triều. Tuần này, ông bắt đầu thấy ra một sự thật khác.

Sự thật đó không là những lụp chụp với hồ sơ Syria (xin đọc bài "Obama, Syria và Silly-A - Nghịch lý Obama, vũng lội Syria và Liên bang Nga cười cười" trên cột báo này vào tuần trước). Nghĩ rằng dư luận đã quên lời phát biểu dõng dạc hùng hồn của mình vào ngày 20 Tháng Tám năm ngoái, ông chối bỏ rằng mình không vẽ "lằn ranh đỏ" cho chế độ độc tài Bashar al Assad của Syria. Họp báo tại Stockholm bên Thủ tướng Thụy Điển, ông biện bạch là chính "thế giới và Quốc hội Hoa Kỳ" mới vạch ra giới hạn này, nên bây giờ có nhiệm vụ chứng tỏ sự khả tín khi chế độ al Assad sử dụng võ khí hóa học chống lại thường dân.

Nhưng sự bất nhất và dập dừng đó về chuyện Syria đang là thời sự nóng. Nhưng tình chất tài tử của Tổng thống Obama phải được thấy từ trước, trong quan hệ với Liên bang Nga.

Nó đang kết trái tại Thượng đỉnh G-20 ở St. Petersburg: thời sự quốc tế chú ý đến việc Tổng thống Mỹ không có cuộc tiếp xúc song phương với Tổng thống Vladimir Putin của Nga mà lại gặp các tổ chức ngoài chính phủ (NGOs) và những đoàn thể tranh đấu cho nhân quyền tại Nga. Mục đích có thể là để gây khó cho chính quyền Putin.

Chúng ta trở lại nguyên ủy để hiểu ra những mâu thuẫn trong quan hệ Nga-Mỹ mà Obama không thấy, hoặc tưởng rằng mình sẽ vượt qua.

Sau khi đắc cử năm 2008 và vừa nhậm chức vào đầu năm 2009, Chính quyền Obama có sáng kiến gọi là chiến lược, đó là cải thiện quan hệ Mỹ-Nga. Họ dùng một khái niệm vật lý là bật lại cái nút, reset the button.

Về ngôn từ, Phó Tổng thống Joe Biden đã nói sai việc cải thiện này thành "reset" rồi bộ Ngoại giao của Hilary Clinton còn dịch sai ("reset" mà in thành "reload") trên cái hộp bà tặng người tương nhiệm là Ngoại trưởng Sergey Lavrov của Nga. Nhưng chuyện quan trọng không là ngôn từ hay tự vựng mà là nội dung. Obama muốn san bằng mâu thuẫn với Liên bang Nga trong tám năm cầm quyền của George W. Bush, để trở về trước khi có vụ khủng bố 9-11.

Là tay mơ còn đang "phát triển cộng đồng", Obama không nhìn ra một chuyển động lớn từ khi Liên bang Xô viết sụp đổ năm 1991.

Khi Chiến tranh lạnh kết thúc, các nước Trung Âu và Đông Âu đều thoát khỏi quỹ đạo Xô viết. Họ vừa xây dựng dân chủ vừa hội nhập với Âu Châu, khi ấy còn gọi là Tây Âu, sau này mới thành Liên hiệp Âu châu. Chính quyền Bill Clinton có góp phần chuyển hóa này khi đẩy lá chắn của Minh ước NATO về hướng Đông, đằng sau là các cuộc cách mạng dân chủ muôn màu.

Nhưng nhìn theo con mắt của lãnh đạo Moscow thì đấy là thu hẹp vùng ảnh hưởng của Nga, điển hình là việc Hoa Kỳ can thiệp vào cuộc nội chiến tại Liên bang Nam Tư và vùng Balkans rồi NATO còn tấn công Cộng hoà Serbia, một đồng minh truyền thống của Nga, để cứu dân Hồi giáo tại Kosovo và Âu Châu đòi giành quyền độc lập cho Kosovo....

Bị khủng hoảng trong 10 năm "hậu Liên Xô", Liên bang Nga đành thúc thủ trước thế lực độc bá của Hoa Kỳ. Và chỉ hồi phục từ khi Vladimir Putin lên làm Thủ tướng năm 1999 rồi Tổng thống trong hai nhiệm kỳ, 2000-2008. Dựa trên lợi thế năng lượng lên giá, Putin muốn chinh phục lại vùng ảnh hưởng Xô viết, thực tế là đẩy lui trào lưu dân chủ trong các nước Đông Âu cũ và cản trở sự bành trướng của Liên Âu.

Mâu thuẫn Đông-Tây lại tái diễn.

Dù mắc bận với cuộc chiến chống khủng bố ngay trong năm vừa nhậm chức là 2001, Tổng thống Bush vẫn công nhận sự sai lầm và trách nhiệm của Hoa Kỳ khi bán đứng Đông Âu cho Liên bang Xô viết sau Thế chiến II. Đầu năm 2002, Bush hủy bỏ Hiệp ước ABM (hỏa tiễn chống phi đạn) đã ký kết với Liên Xô từ năm 1972 để giành quyền phát triển hệ thống phòng thủ chống hỏa tiễn đạn đạo (ballistic missile). Ông muốn duy trì động lượng (momentum) của làn sóng dân chủ do vị tiền nhiệm tiến hành, rồi đưa ra kế hoạch bảo vệ Đông Âu bằng lá chắn chiến lược BMD (ballistic missile defense).

Cụ thể là một hệ thống thám báo đặt tại Cộng hoà Tiệp nối kết với dàn hỏa tiễn thiết trí tại Ba Lan. Tiếng là để phát giác và ngăn chặn hỏa tiễn từ Iran mà thực tế là để phòng ngự Đông Âu. Nếu Nga thấy ngại thì phải gây áp lực với Iran, chứ không thể cùng Trung Quốc giải vây và bao che cho các Giáo chủ cực đoan ở Tehran.

Phần mình, ổn định xong nội tình và củng cố được quyền lực, Putin bắt đầu tổng phản công.

Năm 2008, khi Âu Châu và Hoa Kỳ vừa bị khủng hoảng là Nga dùng võ lực tấn công Cộng hoà Georgia (ngày tám Tháng Tám, 2008) rồi gây áp lực về năng lượng với Cộng hòa Ukraina từ đầu năm 2009. Sau đó, Putin còn đưa ra sáng kiến thiết lập hệ thống quan thuế tự do từ Âu Châu tới Á Châu: nếu các nước dân chủ có Liên Âu European Union thì Nga sẽ có Eurasian Custom Union, kéo dài từ rặng Urals tới Viễn Đông và bao trùm lên Trung Á.

Đấy là lúc Obama lên nhậm chức với chiến lược cải thiện quan hệ Mỹ-Nga.

Đầu năm 2009, tại Thượng đỉnh G-20 ở London hai Tổng thống Obama và Dmitri Medvedev đã thông báo một trang sử mới trong quan hệ giữa hai nước. Cụ thể đảo ngược quyết định của Bush và tháo gỡ hệ thống phòng thủ BMD khiến các nước Đông Âu ngao ngán là lại bị Mỹ phản bội. Nhiều người đã quên lời than của cố Tổng thống Václav Havel về vụ này.

Ông Obama còn thương thuyết lại Hiệp ước START sắp mãn hạn và kêu gọi Nga khuyên giải Iran từ bỏ kế hoạch chế tạo võ khí hạch tâm. Mà không kết quả. Những ai mắc chứng Obamê mà hoài nghi chuyện ấy thì có thể vào trang nhà của Phủ Tổng thống đọc lại những giấc mơ màu hồng của Obama với Medvedev.

Vì hạn định của Hiến pháp Nga thời Yeltsin, Putin phải lui về làm Thủ tướng sau hai nhiệm kỳ Tổng thống (2000-2008) nhưng vẫn thực sự là lãnh tụ của Tổng thống Medvedev. Suốt bốn năm liền của Medvedev và từ đầu năm 2012, khi Putin trở về làm Tổng thống, Nga liên tục có thái độ gây hấn với Hoa Kỳ, kể cả bằng oanh tạc cơ Tu-95B và tiềm thủy đĩnh hạng Akula ở ngoài khơi Alaska, trong vùng Vịnh Mễ Tây Cơ và trên lãnh hải của đảo Guam.

Trên toàn cầu, Nga triệt để cấu kết với các chế độ hung đồ như Trung Quốc, Iran, Syria hay Cuba và Venezuela để giảm thiểu ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Vậy mà khi tái tranh cử năm 2012, Obama vẫn nhờ Medvedev nhắn thầm với Putin, rằng sau khi thắng cử, ông sẽ "có khả năng linh động hơn"!

Kết quả thì Barack Obama được Putin trả ơn bằng cái tát: Nga cho Edward Snowden tỵ nạn chính trị sau khi bị nhà chức trách Hoa Kỳ truy nã về tội tiết lộ bí mật quốc gia. Vì biến cố đó mà Obama phải hủy cuộc họp riêng với Putin tại Thượng đỉnh G20 và đi gặp đối lập khi hệ thống quyền lực của Putin đã có dấu hiệu rạn nứt ở bên trong.

Người ta có thể bình luận dài dòng về mâu thuẫn Mỹ-Nga. Sau đây là vài nét chính.

Với rất nhiều nhược điểm - như chủ quan, phóng túng, hết hồ hởi sảng lại hốt hoảng bậy - Hoa Kỳ có chế độ dân chủ. Đây là "chế độ ít tệ nhất trong các giải pháp chính trị mà loài người đã thử nghiệm", ý của Winston Churchill. Ngược lại, Nga vẫn duy trì ách độc tài, tham nhũng thì chẳng thua gì thời Yeltsin, mà chuyên chế gấp bội, với thế lực của Putin được xây dựng trên hệ thống quốc doanh về năng lượng và chiến dịch bóp chết quyền tự do báo chí cùng đòn phép bức hại đối lập.

Khác biệt ấy khiến Hoa Kỳ vẫn là niềm hy vọng cho các nước khát khao dân chủ trên thế giới, còn Nga thì là đồng minh bảo trợ các chế độ chuyên quyền. Cùng với Bắc Kinh, Moscow tận dụng quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc để chặn mọi quyết định của Hoa Kỳ và các nước Tây phương và để bảo vệ các chế độ độc tài.

Một mâu thuẫn thứ hai thuộc về kinh tế và chính trị.

Trong khi Hoa Kỳ mở rộng sáng kiến xây dựng chiến lược hợp tác Xuyên Thái Bình Dương TPP và thương thuyết hiệp định tự do mậu dịch với Liên Âu thì Nga phát triển hệ thống tự do mậu dịch Âu-Á như đã nói ở trên. Năm 2008, khi Thụy Điển và Ba Lan đề nghị kế hoạch đối tác (Eastern Partneship) giữa Liên Âu với các nước Đông Âu, như Belarus, Ukraina, Moldova, Georgia, Armenia và Azerbaijan, Putin bèn ra sức ngăn cản bằng kế hoạch quan thuế Âu-Á.

Được gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO từ năm ngoái, Nga tiếp tục vi phạm quy định của WTO và gây áp lực kinh tế với các nước Đông Âu để tách họ khỏi Liên Âu và trở về quỹ đạo Xô viết cũ. Chẳng những vậy, Putin tận dụng võ khí năng lượng để chia rẽ các nước Tây Âu với Đông Âu như đã thấy từ đầu năm 2009: Nga phong toả khí đốt bán cho Ukraina làm các nước Tây Âu khốn đốn và đòi Ukraina phải nhượng bộ Moscow.

Chiến lược hơn vậy, Putin còn muốn kéo nước Đức vào thế trung lập, thậm chí thỏa hiệp với Moscow để có thể mua khí đốt của Nga. Người ta không quên là ngay sau khi Putin tấn công Georgia năm 2008, Thủ tướng Đức là Angela Merkel đã lập tức bay qua Moscow hoà giải, trước phản ứng khó chịu của hai Tổng thống Bush và Nicolas Sarkozy của Pháp.

Nhưng thật ra, mâu thuẫn quan trọng nhất giữa Hoa Kỳ và Liên bang Nga nằm trong một lãnh vực sinh tử của Nga, và bên ngoài chánh sách của Obama. Đó là năng lượng.

Liên bang Nga của Putin chỉ là một nước chậm tiến, sống nhờ sản xuất và xuất cảng năng lượng. Khu vực dầu khí chiếm tới 30% Tổng sản lượng, đem lại phân nửa ngân sách của Putin và 70% xuất cảng của Nga. Nhưng từ khi lãnh đạo, Putin dùng năng lượng làm võ khí và còn cả tin vào một chiều hướng lâu dài là năng lượng lên giá. Cũng vì vậy, kinh tế Nga lệ thuộc vào dầu thô và khí đốt, mà khu vực năng lượng lại tụt hậu nhờ được bảo vệ và giữ thế độc quyền.

Trong khi đó, vì giá dầu khí tăng vọt, thị trường tại Hoa Kỳ đã lặng lẽ tính kiểu khác.

Không chỉ nâng hiệu suất tiêu thụ, tốn ít hơn mà được nhiều hơn để giảm số cầu, kỹ nghệ năng lượng Mỹ còn cải tiến khả năng sản xuất để nâng số cung.

Họ đào dọc rồi xoay ngang và bơm dung dịch với áp suất cực mạnh vào đá phiến để gạn ra dầu khí và áp dụng công nghệ mới để chế tạo khí lỏng có khả năng vận chuyển tiện lợi hơn. Kết quả là Hoa Kỳ bỗng dưng thành đại gia sản xuất năng lượng với triển vọng là một nước xuất cảng đáng kể. Không những vậy, qua các dự án liên doanh và hợp tác, Hoa Kỳ còn quảng bá kỹ thuật mới cho các nước Tây phương.

Họ không còn bị khối OPEC hay các nước Trung Đông bắt bí về năng lượng mà còn đe dọa thị trường xuất cảng của Nga và giúp Âu Châu có dầu, khí, và cả than đá, để khỏi bị Putin xử ép.

Trận đánh Mỹ-Nga về dầu khí mới là hồ sơ còn đáng kể hơn chuyện Syria hay Geogia, Ukraina....

Tuần qua, một ông trùm về năng lượng của Nga báo động rằng "các doanh nghiệp quốc tế đang có âm mưu phá hoại khu vực năng lượng và làm kinh tế của Nga bị tê liệt". Chủ tịch Igor Sechin của tập đoàn quốc doanh Rosneft không là tài phiệt ôm tiền trong quỹ đạo Putin, mà là người cầm đầu phe "sikovili" gồm các thế lực an ninh và quân sự bảo thủ nhất của Putin, và từng là Phó Thủ tướng và cố vấn thân tín cho Putin. Lý do báo động là vì tổ hợp ExxonMobile của Mỹ vừa tạm ngưng thực hiện một dự án khí lỏng cho Nga. Đấy chỉ là chi tiết nhỏ phản ảnh vấn đề lớn.

Trong cả chục năm, Putin củng cố và bảo vệ thế độc quyền của các tập đoàn năng lượng nhà nước. Nhưng thế độc quyền mới gây lụn bại, như đã thấy tại Iran, Venezuela, Việt Nam hay Trung Quốc. Và ngày nay hệ thống tụt hậu này của Nga cần học hỏi công nghệ hiện đại của các nước Tây phương. Khi Putin gây khó cho các nước Tây phương thì mới thấy khí bốc lên đầu....

Chi tiết ly kỳ là Chính quyền Obama đã đi bên lề cuộc cách mạng về công nghệ năng lượng của Hoa Kỳ, có lúc còn muốn cản trở vì áp lực của cánh tả là để bảo vệ môi sinh.... Lần này, Tổng thống Mỹ sẽ ngẩn ngơ trước thế lực của nước Mỹ và sự hậm hực của Putin.

Chính sách "reset" của ông rất vần với rỉ sét!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.