Hôm nay,  

Mùa Phượng Nở

04/06/201300:00:00(Xem: 19878)
Phim “Ba mùa” – Three Seasons – của đạo diễn Tony Bùi có đoạn kết với hình ảnh một thiếu nữ trong áo dài trắng tung tăng giữa hàng phượng đang rụng đầy hoa đỏ. Sau bao thăng trầm, nổi trôi cuộc đời, cô gái chỉ có ước mộng đơn sơ là được trở về quãng đời nên thơ đẹp nhất là tuổi của học trò.

Hoa phượng là “Hoa học trò”. Không biết từ lúc nào những cánh hoa đỏ đã được đặt cho một cái tên thật gần gũi, thân thương như thế. Có phải Xuân Diệu là người đầu tiên đã chọn tên đó?

Phượng là bạn của mọi người vì ai cũng có thời cắp sách đến trường, từng nhìn phượng nở mà xao xuyến lòng, từng nhặt cánh hoa ép vào trang lưu bút trao cho bạn bè. Học trò thân thiết với phượng như thân với bạn bè cùng lớp.

Hoa phượng cũng đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm đẹp của cuộc đời. Thời học cấp 2 có thày dạy văn Trương Quang Gia cho học sinh đọc và bình giảng về “Hoa học trò” của Xuân Diệu.

Lúc đó nhiều học sinh chỉ biết đến Xuân Diệu qua thơ tình, vì đến tuổi mộng mơ nên hay chép vào vở những vần thơ làm rung động tâm hồn: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu/Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều/Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…”

Như nhiều bạn bè cùng lứa tuổi, cho đến nay gần nửa thế kỷ đã qua mà tôi vẫn còn thuộc lòng những dòng thơ một thời được nắn nót trên giấy học trò bằng bút mực tím.

Khi được thày giới thiệu, học sinh mới biết thi sĩ Xuân Diệu còn là một nhà văn. Bài bình giảng của tôi không xuất sắc nhưng sau khi đọc và bình văn, “Hoa học trò” đã để lại trong tôi những cảm nhận khó quên về một loài hoa rực rỡ và đã tạo nhiều nỗi nhớ mênh mang theo tôi vào đời. Phượng qua Xuân Diệu là mầu chói chan của hoa lúc rực nở trong nắng, rồi sắc đỏ nhạt dần chuyển sang mầu xanh của lá báo hiệu ngày hè đã hết.

Những năm cấp 3 tôi học Nguyễn Bá Tòng, cả trường ở Sài Gòn và bên Gia Định. Trường trên đường Bùi Thị Xuân trong sân có mấy cây phượng. Năm lớp 10, giờ ra chơi đứng ngoài hành lang tầng ba bên dãy nam sinh nhìn xuống sân trường với những tà áo trắng bên tàn phượng ôi sao dễ thương.

Năm sau đó ngôi trường này chỉ dành cho nữ sinh nên tôi học lớp 11 và 12 bên đường Hoàng Hoa Thám, Gia Định. Sân trường ở đây rộng hơn và cũng có trồng hoa phượng, hoa sứ là những cánh hoa tôi hay nhặt, ép vào trang thư gửi cô bạn gái.

Gần cuối niên học, tiết trời tháng Ba, tháng Tư oi ả nóng. Nhìn phượng nở mà lòng lo âu vì hoa càng nhiều và sắc càng rực đỏ cũng là dấu chỉ báo hiệu sắp đến giờ chia tay và ngày thi sắp đến. Hai năm cuối trung học là những năm chúng tôi phải qua các kỳ thi tú tài để rồi đậu thì còn được gần nhau, rớt sẽ phải rời xa sân trường, xa bạn bè. Sau kỳ thi, những hôm đến trước cổng trường Trưng Vương, Gia Long hay Chu Văn An, Chi Lăng trông ngóng niêm yết kết quả, nhìn phượng nở sân trường mà lòng hồi hộp.

Rồi phượng cũng tàn để lại cây chỉ còn xanh mầu lá. Đầu niên học vào lớp vắng đi một số bạn nam sinh vì đến tuổi phải lên đường nhập ngũ tòng quân. Có bạn giã từ áo thư sinh bước vào chiến trường đã không bao giờ trở lại.
buivanphu_20130601_muahoaphuong_h01_hoaphuong_resized
Hoa phượng được gọi là hoa học trò. (ảnh Bùi Văn Phú)

Khi chiến tranh chấm dứt, tôi rời bỏ quê hương ra đi chẳng mang theo được gì ngoài kỷ niệm đẹp nơi sân trường và những tình bạn đã xa thật xa. Ở California, mùa hè có nắng vương chút lạnh, có muôn hoa muôn sắc nhưng không thấy bóng phượng đỏ ở đâu.

Cho đến một ngày đầu hè năm 1983 khi tôi rời Hoa Kỳ qua xứ Togo ở châu Phi. Vừa đến thủ đô Lomé đã thấy phượng nở đỏ bên đường là biết bao kỷ niệm tuổi hoa niên ùa về.

Hè năm đó đem lại nhiều niềm vui vì ở một đất nước xa xôi có phượng nở tôi lại được làm học trò và được làm thày. Tôi là học trò trong lớp Pháp ngữ và văn hoá Togo, là thày dạy thực tập một tháng trước khi về tỉnh nhận công tác. Ở đó có khí hậu nhiệt đới, cảnh nhà tranh vách đất, mái tôn tường gạch, những con đường đất ngập nước sau cơn mưa gợi nhớ nhiều cho tôi về quê hương nguồn cội. Cuối tuần, tôi cùng bạn hay đạp xe chạy vào trung tâm thành phố, đi ngang qua hàng cây quen thuộc của thuở học trò mà lòng xôn xao và bâng khuâng tự hỏi không biết học trò bản xứ có yêu mầu hoa đỏ như tôi, như học trò ở Việt Nam.
buivanphu_20130601_muahoaphuong_h02b_togo_resized
Tác giả dạy lý hóa tại một trường cấp 3 ở Togo, châu Phi. (ảnh Bùi Văn Phú)
Sau thời gian huấn luyện, tháng Chín tôi về nhận nhiệm sở dạy lý hoá tại trường cấp 3 ở Notsé, cách thủ đô Lomé 100 cây số về hướng bắc. Trên đường về tỉnh cũng thấy bên đường còn loáng thoáng sắc phượng đỏ.

Trường tôi dạy nằm tại thị xã Haho, ngay cạnh quốc lộ nối liền nam bắc Togo, mới được chính phủ Đức tài trợ xây cách đây không lâu. Hoa Kỳ giúp gửi đến giáo viên lý hoá là tôi và toán là một anh từ bang Ohio đã ở đó một năm.

Hai năm dạy học nơi xứ xa gợi nhớ nhiều kỷ niệm thời học sinh ở quê nhà vì học trò của tôi cuối năm cũng phải thi Tú tài I và Tú tài II vào những ngày phượng nở, như tôi đã từng trải qua với nhiều cảm xúc khó quên. Không thi đậu không được lên lớp 12 hay vào đại học. Khác chăng là học trò ở đây không phải đối diện với chiến tranh, không lo âu với lệnh động viên.

Khi hết thời hạn công tác, ít tuần trước ngày từ giã đồng nghiệp và học trò tôi đã trồng phượng nơi sân trường như món quà kỷ niệm hai năm dạy học ở đó. Hạt phượng do một người Việt quốc tịch Pháp gửi tặng. Anh Nguyễn Vũ đã làm việc ở Lomé nhiều năm và là giám đốc chương trình thảo mộc của Togo vì thế rất rành về các loại cây nhiệt đới. Biết tôi yêu thích hoa phượng, anh tặng cho hơn chục hạt to bằng ngón út.

Tôi trồng ở trường và cũng đem về trồng ở miền bắc California. Đất bắc Cali lạnh, ươm hạt nẩy mầm nhưng khi đem trồng ngoài sân phượng không sống được. Togo đất đá sa mạc, nắng nóng, ít mưa nên không biết cây phượng tôi trồng gần ba mươi năm trước ở sân trường có sống được và nở hoa vào những tháng hè hay không?

Theo dòng đời trôi, tôi lang thang phiêu bạt, du lịch đó đây và đã thấy phượng ở nhiều nơi: Hồng Kông, Thái Lan, Mexico, Hawaii.

Mỗi khi nhìn phượng nở đỏ lòng lại lâng lâng nỗi nhớ về một thời xa xưa. Nhớ thuở cắp sách đến trường nơi quê nghèo với chiến tranh. Nhớ bạn cũ, trường xưa. Nhớ thày cô. Nhớ mãi những mùa hoa học trò.

© 2013 Buivanphu.wordpress.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.